1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Case study of vietnam vietnamese

4 0 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Case study of Vietnam Vietnamese
Tác giả Lê Quốc Doanh, Hồ Đắc Thái Hoàng, Trần Bình Đà, Nguyễn Lê Thăng
Trường học Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội
Chuyên ngành Nông nghiệp
Thể loại Nghiên cứu điển hình
Năm xuất bản 2006
Thành phố Sơn La
Định dạng
Số trang 4
Dung lượng 227,25 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Microsoft Word Cases of Vietnam doc SEANAFE Agroforestry Landscape Analysis Project Phase 2 Implementation Completion Report National Training Workshop on Agroforestry Landscape Analysis Translation m[.]

Trang 1

SEANAFE Agroforestry Landscape Analysis Project

Phase 2 - Implementation

Completion Report

National Training Workshop on Agroforestry Landscape Analysis

Translation material

Case Study of Vietnam

Translated by

MSc Tran Binh Da

With Funding Support and Technical Guidance from:

Sweden International Development Cooperation Agency

Southeast Asian Network for Agroforestry Education

Trang 2

Hình 1: Sơn La, địa điểm nghiên cứu

Hình 2: Cảnh quan canh tác ngô NLKH tại Sơn La

Thị trường yếu tố điều khiển canh tác ngô nương trên cảnh quan nông

kết hợp tại Sơn La

Tg: Lê Quốc Doanh, Hồ Đắc Thái Hoàng, Trần Bình Đà, và Nguyễn Lê Thăng

-

Sơn La là một trong bốn tỉnh của vùng Tây Bắc Cùng với 3 tỉnh khác gồm Hòa Bình, Điện Biên và Lai Châu là vùng đầu nguồn của dòng sông Đà Năm 1991, diện tích che phủ rừng ở Sơn La được xác định là

9% tổng diện tích tự nhiên, là một

trong những tỉnh có tỉ lệ che phủ rừng

thấp nhất Việt Nam Trước đây, phần

lớn diện tích đất rừng tại Sơn La bị phá

đê canh tác nương rẫy, đặc biệt là các

cây trồng hang năm như lúa nương,

sắn, ngô Kể từ năm 1995, một sự

thay đổi đáng kể trong việc sử dụng

đất đã tại tỉnh Sơn La Diện tích cây

ngô nương đã gia tăng đáng kể, thay

thế các cây trồng truyền thống và diện tích đất rừng còn lại

Nhu cầu ngô nguyên liệu phục vụ các nhà máy sản xuất thức ăn chăn nuôi trở nên bức thiết do sự phát triển của ngành chăn nuôi ở Việt Nam trong 10 năm qua Để đáp ứng nhu cầu này, các vùng canh tác ngô đã hình thành và tăng nhanh diện tích cả ở vùng đồng bằng và vùng đất dốc Năm 1995, Việt Nam có 556,000 ha ngô, đến năm 2004 diện tích ngô tăng gần 80% lên tới 990,000 ha Năng suất ngô trung bình cũng tăng từ 2.11 tấn/ha năm 1995 lên tới 3.49 tấn/ha vào năm 2004 Tại vùng núi Tây Bắc, sản xuất ngô tăng đáng kể, với 67,000 ha ngô được thống kê vào năm 1995, đến năm

2004 đã gấp hơn hai lần với 138,000 ha Năng suất ngô ở vùng Tây Bắc cũng tăng lên

gần gấp đôi, từ 1.44 tấn/ha vào năm 1995 lên 2.78 tấn/ha năm

2004

Chiềng Hặc là một xã nghèo ở tỉnh Sơn La, nơi người dân tập trung canh tác các cây trồng truyền thống từ nhiều năm trước, đặc biệt

là lúa nếp nương Các cây trồng thông thường được trồng đơn giản

để đáp ứng nhu cầu lương thực hàng ngày Từ năm 1995, do nhu

Trang 3

cầu ngô để chế biến thức ăn chăn nuôi tăng mạnh đã ảnh hưởng tới các làng bản vùng cao, trong đó có Chiềng Hặc Một số nông dân tiên phong đã đưa giống ngô lai thay thế các cây trồng truyền thống tại các cùng đồi Từ đó, hàng trăm hecta đất nương trồng lúa được chuyển đổi thành đất chuyên canh ngô với sự trợ giúp của các nhà máy ở vùng đồng bằng

So sánh với giống ngô bản địa, giống ngô lai có ưu điểm lớn là năng suất cao và khả năng tiêu thụ Các giống ngô địa phương thường cho năng suất 2 tấn/ha/vụ, trong khi

đó giống ngô lai có thể đạt 3,9 tấn/ha/vụ ở các vùng đất dốc Thống kê từ xã Chiềng Hặc cho thấy khoảng 936 ha ngô canh tác vào năm 2006, tổng số cho 5,616 tấn Vào năm 2006, việc canh tác ngô chiếm khoảng 91% diện tích đất tự nhiên của xã, tăng gấp sáu lần so với năm 1995, khi đó có 150 ha đất được sử dụng để trồng ngô

Mùa thu hoạch kéo dài từ cuối tháng 8 đến cuối tháng 10 Nông dân địa phương thu hoạch bắp ngô và có thể bán chúng trực tiếp trên cánh đồng hoặc tại nhà Họ không

có công cụ để chế biến sau thu hoạch một cách đơn giản như tĩa ngô, phơi/sấy ngô và cất trữ Người trung gian đóng vai trò là người kết nối bán ngô ra thị trường Họ thu mua sản phẩm ngô ở bất kỳ thời điểm nào từ khi ngô còn non ngoài cánh đồng cho tới khi mùa thu hoạch Một số người trung gian cung cấp vốn và hạt giống, phân bón, và thậm chí cả chi phí nhân công cho các HGĐ trồng ngô, sau đó hoàn trả bằng ngô sản phẩm Với sự hỗ trợ này, diện tích trồng ngô được mở rộng nhanh chóng Hầu hết tất

cả diện tích đất dốc chưa có rừng và đất trồng cây truyền thống của Chiềng Hặc được chuyển đổi thành đất trồng ngô Các cuộc nói chuyện hàng ngày trong xã xoay quanh các chủ đề về cây ngô như hạt giống, phân bón, và giá cả

Từ năm 1995, nhu cầu ngô đối với các nhà máy chế biến thức ăn chăn nuôi được tăng lên Viện Nghiên cứu Nông nghiệp Việt Nam (VASI) và CIRAD (2002) nhận xét rằng thức ăn chăn nuôi đặc biệt là cho lợn và gia cầm, ngô là thành phần chủ yếu chiếm 60-70% giá thành sản phẩm Điều này cho thấy sự tăng giá ngô từ 1,700 VND/kg năm

Trang 4

1995 lên 3,200 VND/kg năm 2007 Người dân địa phương đã mở rộng các ruộng ngô tới đỉnh đồi và một số người Hmông đã đưa cây ngô vào trồng luân canh tại những khu vực nhỏ trong rừng Kết quả khảo sát năm 2007 cho thấy rằng 67% tổng số sản phẩm ngô được bán tới các nhà máy thông qua người trung gian Trong vài năm tới, với những nhu cầu ngày càng tăng của thị trường, các vụ mùa ngô có thể thay thế việc sử dụng đất khác như việc trồng rừng và rừng tự nhiên còn lại ở những vùng núi Trong các buổi thảo luận với những người chủ chốt, sản lượng ổn định của cây ngô cần được kiểm soát trong các khu vực nghiên cứu Việc thâm canh ngô lai cần được áp dụng để đạt sản lượng cao hơn, từ đó trả lại diện tích đất dốc cho trồng rừng

Dưới hệ thống canh tác ngô nương hiện nay, thu nhập từ ngô chiếm một tỉ lệ lớn trong tổng thu nhập Năm 2007, kết quả điều tra tại bản Văng Lùng, xã Chiềng Hặc cho thấy 80% thu nhập có từ việc sản xuất ngô, trong khi thu nhập từ cây ăn quả và chăn nuôi gia súc chỉ chiếm 20% So sánh với các cây trồng truyền thống, ngô đã cải thiện thu nhập chung cho dân địa phương Theo ông Hà Văn Loóng, chủ tịch xã Chiềng Hặc, mức sống của dân địa phương đã được cải thiện dáng kể nhờ cây ngô Hiện nay, bức khảm các cây trồng truyền thống đã được thay thế bằng độc canh cây ngô Ông Hà Văn Loóng tự hào cho biết, ngô không chỉ được trồng trên các cánh đồng, nó còn bao phủ tất cả các đồi và thậm chí cả bề mặt núi Ngày nay, một khách du lịch đến làng có thể nhìn thấy ngô và… nhiều ngô hơn

Sự phát triển nhanh chóng của sản xuất ngô trong 10 năm qua đã đóng góp to lớn đến việc xoá đói giảm nghèo tại Chiềng Hặc Tuy nhiên, canh tác cây ngô độc canh sẽ gây lên các vấn đề về môi trường và xã hội, trong đó có sự thoái hoá đất và sự tổn thất về

đa dạng sinh học do thiếu sự che phủ của rừng, xói mòn đất, và sử dụng quá nhiều nguồn nước Mặc dù cây ngô đã giúp giải quyết các vấn đề thất nghiệp ở địa phương

và thiết lập thị trường ngô tại địa phương, nhưng các phong tục, tập quán và văn hoá canh tác truyền thống cũng phải đối mặt với những ảnh hưỏng tiêu cực Bất kể những ảnh hưởng này, những nụ cười và sự hạnh phúc vẫn xuất hiện trên gương mặt người nông dân, cùng với những bắp ngô, trong suốt mùa thu hoạch vào tháng Chín hàng năm

Nói tóm lại, việc gia tăng canh tác cây ngô ở vùng Tây Bắc Việt Nam là do yếu tố thị trường điều khiển Canh tác ngô góp phần cải thiện thu nhập và cuộc sống của các vùng nông thôn miền núi, và tạo ra hệ thống thị trường mới Tuy nhiên, nó cũng mang lại một số vấn đề đối với việc quản lý nguồn tài nguyên thiên nhiên và thực tiễn văn hoá truyền thống Đây là các thách thức đối với các nhà nghiên cứu, nhà chức trách,

và người dân địa phương

Ngày đăng: 10/03/2023, 09:38

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w