GIÁO HỘI PHẬT GIÁO VIỆT NAM HỌC VIỆN PHẬT GIÁO VIỆT NAM TẠI TP HCM Tiểu luận giữa học kỳ 8 Môn học Trung quán luận ĐỀ TÀI Bản chất không sanh không diệt của hiện tượng sanh tử qua phẩm Quán Nhân Duyên[.]
Trang 1Tiểu luận giữa học kỳ 8 Môn học: Trung quán luận
ĐỀ TÀI
Bản chất không sanh không diệt của hiện tượng sanh tử qua phẩm Quán Nhân Duyên và Quán
Khứ Lai
Giảng viên phụ trách: ĐĐ TS Thích Trí Minh
Sinh viên thực hiện: Bùi Ngọc Bích Pháp danh: Ngọc Linh
Mã sinh viên: TX 6022 Lớp: ĐTTX Khóa VI Chuyên ngành: Triết Học Phật Giáo
Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 30 tháng 02 năm 2023.
Trang 2MỤC LỤC
A DẪN NHẬP 1
B.NỘI DUNG 3
Chương 1: SINH TỬ THEO ĐỨC PHẬT VÀ TRUNG QUÁN LUẬN 1.1 Sinh và Tử theo quan niệm của Đức Phật 3
1.2 Sinh và Tử theo Trung quán 4
Chương 2: NHẬN THỨC VÀ CHUYỂN HÓA CĂN BẢN PHỀN NÃO 2.1.Tham 8
2.2 Sân 8
2.3.Si 8
2.4.Ác kiến 9
C.KẾT LUẬN 10
D.TÀI LIỆU THAM KHẢO 11
Trang 3A DẪN NHẬP
Mục đích của nhận thức luận Phật giáo là đưa đến một cái nhìn đúng về đời sống và thực tại, đó là cái nhìn không còn bị che lấp bởi vô minh, tham, sân, si… Đạt được điều này, tức là chủ thể đạt đến trạng thái giác ngộ, giải thoát hay chân lý Theo Đức Phật, chân lý
là một nhận thức nhất quán và phù hợp với thực tại, với điều kiện thực tế, được chủ thể tự trải nghiệm và nhận biết sự vật đúng như thật Kinh Trường Bộ viết: “hễ điều gì được cho
là thì điều đó phải là chân thật và tương ứng với thực tại (bhūta)”Tất cả chân lý đều do nhận thức mà ra, con người có khả năng nhận thức và đạt đến chân lý, tuy nhiên trong quá trình ấy, “chúng ta giới hạn thế giới chúng ta bởi tư tưởng” Tri thức mà chủ thể có được thông thường bị giới hạn bởi cái tôi chủ quan Vì vậy, theo triết học Phật giáo, khi chủ thể phá bỏ được tư duy chấp ngã, chấp pháp, nhìn thấy mối quan hệ nhân duyên trong sinh tồn của vạn vật, chủ thể có thể trực nhận được bản thể, tức chuyển tri thức thành trí tuệ Bát Nhã một nhận thức phù hợp với sự vật, với điều kiện thực tế Tiến trình nhận thức để đạt đến chân lý, chủ thể có thể sử dụng ảnh tượng, ngôn ngữ, tư duy để tìm hiểu, phân tích sự vật; tuy nhiên những công cụ này chỉ là phương tiện để nương vào đó học tập, thực hành, từ đó tiếp cận với chân lý chứ không phải là bản thân chân lý Theo Phật giáo, nếu y theo kinh điển để giải nghĩa, để tìm chân lý trong những dòng chữ, đó chính là chỉ biết nhìn ngón tay mà chưa biết mặt trăng Muốn được giác ngộ, giải thoát, bản thân mỗi người phải “tu” và “chứng”, tức phải tự nhận thức, tự thực hành và thực chứng.Vì lý do đó Học viên chon đề tài: “Bản chất không sanh không diệt của hiện tượng sanh tử qua phẩm Quán Nhân Duyên và Quán Khứ Lai” để làm đề tài nghiên cứu.Bằng phương pháp phân tích,so sánh,tổng hợp ngoài việc làm sáng tỏ nội dung đề tài Học viên đi sâu phân tích để ừng dụng tu tập cho bản thân.Vì kiến thức còn hạn chế trong quá trình trình bày không tránh khỏi thiếu xót,con kính mong giáo thọ thông cảm cho con,con xin trân thành cảm ơn
Trang 4B NỘI DUNG Chương 1:
SINH TỬ THEO ĐỨC PHẬT VÀ TRUNG QUÁN LUẬN 1.1 Sinh và Tử theo quan niệm của Đức Phật
A/Sự kiệt lực của Nghiệp Tái Tạo (kammakkhaya)
Người Phật tử tin rằng thông thường, các tư tưởng, tác ý, hay ý muốn thật mạnh lúc sinh tiền, sẽ hồi sinh với một năng lục mạnh mẽ trong giờ phút lâm chung Chính tư tưởng cuối cùng ấy tạo điều kiện cho sự tái sanh sắp đến Khi năng lực của Nghiệp Tái Tạo (janaka) đã kiệt thì những sinh hoạt của cơ thể mà luồng sinh lực nằm trong đó cũng chấm dứt Có khi chấm dứt sớm hơn tuổi thọ thông thường trong cảnh giới ấy Trong trường hợp nầy thường xuyên xảy đến cho chúng sanh trong cảnh khổ (apaya) nhưng cũng có thể xảy ra trong những cảnh giới khác
B/ Hết tuổi thọ (ayukkhaya)
Tuổi thọ có thể dài hay ngắn tùy vào cảnh giới Những cái chết tự nhiên như chết già, chết vì hết tuổi thọ, thuộc về loại nầy.Có những cảnh giới trong ấy kiếp sống dài hơn ở những cảnh khác Trong cảnh giới của mình, nếu tuổi thọ đã đến mức tối đa, kiếp đã mãn, thì dầu nghiệp lực còn mạnh cũng phải chết Tuy nhiên, nếu năng lực của Nghiệp Tái Tạo thật mạnh, nghiệp lực có thể tự hồi sanh, tạo "Sắc" mới trong cảnh giới ấy hay trong một cảnh giới cao hơn, như trường hợp chư Thiên
Nghiệp Tái Tạo và tuổi thọ đồng thời chấm dứt cùng một lúc (ubhayakkhaya)
Một nghiệp lực ngược chiều, thật mạnh, ngăn chận, làm bế tắc thình lình luồng trôi chảy của Nghiệp Tái Tạo (upacchedaka kamma)
Những cái chết đột ngột, bất đắc kỳ tử, và những trường hợp yểu tử đều do nhân nầy.Một năng lực thật mạnh có thể đổi chiều hướng một mũi tên bay, hay ngăn chặn lằn bay, làm cho mũi tên rơi xuống đất Cũng dường thế ấy, một nghiệp lực thật mạnh trong quá khứ
có thể đánh tan tiến trình tư tưởng cuối cùng và tiêu diệt kiếp sống tâm linh của một chúng sanh Cái chết của Devadatta (Đề Bà Đạt Đa) là do nghiệp tiêu diệt mà ông đã tạo.Ba trường hợp đầu tiên được gọi chung là "chết đúng thì" (kala marana) Trường hợp thứ tư là "chết không đúng thì" (akala marana).Như ngọn đèn dầu có thể tắt vì bốn nguyên nhân:
Tim lụn
Dầu cạn
Tim lụn và dầu cạn cùng lúc, và Những nguyên nhân khác từ bên ngoài như một cơn gió mạnh thổi qua Theo Phật Giáo cũng có bốn lối sanh là:
1 Noãn sanh (andaja), sanh từ trong trứng
2 Bào sanh (jalabuja), sanh từ trong bào thai
3 Thấp sanh (samsedaja), sanh từ chổ ẩm thấp
4 Hóa sanh (opapatika), đột nhiên sanh ra
Tất cả chúng sanh đều được sanh ra theo một trong bốn lối ấy.Chim và những loài bò sát
có trứng thuộc loại noãn sanh Người, một vài cảnh Trời trên quả địa cầu, và loài thú thuộc loại thai sanh, hay bào sanh Có những mầm giống được sanh ra và trưởng thành từ nơi ẩm thấp, như vài loại côn trùng, thuộc loại thấp sanh Những chúng sanh thuộc loại
Trang 5hóa sanh thường là vô hình đối với con người, tức mắt người không thể thấy Do nghiệp quá khứ, các chúng sanh ấy bỗng nhiên xuất hiện, khởi phải qua một giai đoạn phôi thai nào Ngạ quỉ (peta), chư Thiên (deva), và chư Phạm Thiên (Brahma) đều thuộc loài hóa sanh
1.2 Sinh và Tử theo Trung quán
Bất sinh diệc bất diệt 不不不不不 Bất thường diệc bất đoạn 不不不不不 Bất nhất diệc bất dị 不不不不不 Bất lai diệc bất xuất 不不不不不 Năng thuyết thị nhân duyên 不不不不不 Thiện diệt chư hí luận 不不不不不 Ngã khể thủ lễ Phật 不不不不不 Chư thuyết trung đệ nhất 不不不不不 Không sinh cũng không diệt Không thường cũng không đoạn Không một cũng không khác Không đến cũng không đi Tuyên thuyết pháp nhân duyên Dập tắt mọi hí luận Con cúi đầu lạy Bụt Bậc đạo sư tuyệt vời
Đối diện với các sự vật hiện tượng vốn như như, rỗng không, nhưng trong đầu chúng ta luôn chấp ngã chấp pháp, luôn có khái niệm về sự hiện hữu của cái gọi là “pháp” với không gian, thời gian và sự vận hành của nó, khiến cho cái nhìn của chúng ta về thực tại trở thành méo mó Vì vậy Bát bất đã giúp chúng ta xóa bỏ sai lầm đó:
Bất sinh diệc bất diệt: là sự quán chiếu trên bình diện hiện hữu của các pháp
Bất thường diệc bất đoạn: là sự quán chiếu trên bình diện thời gian của các pháp
Bất nhất diệc bất dị: là sự quán chiếu trên bình diện không gian của các pháp
Bất lai diệc bất xuất: là sự quán chiếu trên bình diện vận hành của các pháp Một khi các ý niệm về “pháp” như vậy được xóa bỏ thì thật tướng sâu kín, khó thấy khó hiểu đó là “y tánh duyên khởi” (Idapaccayata Paticcasamuppada) của pháp mới được hiển bày, như Đức Phật đã từng tự suy nghĩ sau ngay khi chứng được pháp này dưới cội Bồ đề: “Pháp này do Ta chứng được thật là sâu kín, khó thấy, khó chứng, tịch tịnh, cao thượng, siêu lý luận, vi diệu, chỉ người trí mới hiểu thấu Còn quần chúng này thì ưa ái dục, khoái ái dục, ham thích ái dục Đối với quần chúng như vậy thì thật khó mà thấy được định lý Idapacayatà Paticcasamuppàda (Y Tánh Duyên Khởi Pháp)” (Kinh Thánh Cầu - Trung Bộ kinh)Như vậy, Trung luận với phẩm mở đầu đã nói lên hết chủ trương, tinh hoa của tất cả các phẩm còn lại, đó là phá hý luận, giúp người học Phật trở về thấy rõ thật tại y tánh duyên khởi của các pháp như sự giác ngộ của Phật
Chư pháp bất tự sinh 不不不不不 Diệc bất tùng tha sinh 不不不不不 Bất cộng bất vô nhân 不不不不不 Thị cố tri vô sinh 不不不不不 Các pháp không tự sinh Cũng không phải tha sinh
Trang 6Không cộng không vô nhân Nên đều là vô sinh
Con người luôn xem xét mỗi khía cạnh của thực tại dựa trên bốn nhận thức sai lầm gọi là
tứ cú (catuskotika): có, không, vừa có vừa không, và không có cũng không không Chẳng hạn nói về sinh thì hoặc là: (1) tự sinh, (2) tha sinh, (3) vừa tự sinh vừa tha sinh (cộng),
và (4) không phải tự sinh cũng không phải tha sinh (vô nhân).Long Thọ lần lượt phá từng trường hợp một vì cả 4 trường hợp này đều không đúng thực tại Do đó các pháp tạm gọi
là “vô sinh” sẽ đúng hơn “sinh” Vô sinh không có nghĩa là không có hiện tượng sinh, mà hiện tượng sinh mặc dù có nhưng vô ngã, rỗng không, không tự tánh, không có “pháp” nào gọi là sinh cả.NHÂN >DUYÊN >QUẢ.Nhân đã không có, thì duyên cũng không có
và quả cũng vậy.Nói về Duyên sinh ra các pháp thì chỉ có 4 loại: nhân duyên, Sở duyên duyên, Thứ đệ duyên và Tăng thượng duyên, không có cái thứ 5 Nhưng cả 4 loại duyên này cũng không có thực thể, không có tánh riêng Do đó không nên có ngã chấp, không nên có pháp chấp.“Quả” nếu có tự tánh riêng thì không cần đến nhân và duyên, Ngài Long Thọ đã dựa trên trục thời gian để lý luận không có nhân, duyên và quả Ví dụ Ví dụ như có một cô gái đi lấy chồng, và cô sinh ra một đứa con Khi sinh ra đứa con thì cô gái (nhân) đó được gọi là mẹ (duyên), và đứa con đó được gọi là con (quả) Khi cô còn là một cô gái thì ta đâu có thể gọi cô là mẹ được (phi duyên)? Chỉ khi nào cô sinh con thì mới được gọi là mẹ (duyên), còn chưa sinh con thì chưa được gọi là mẹ (phi duyên) Cũng một cái đó mà có khi ta gọi là duyên, có khi gọi là phi duyên Khi có cái quả (đứa con) sinh ra từ cái duyên (mẹ) thì ta gọi nó là duyên Vậy nên, nhân, duyên, quả chỉ là những khái niệm dựa trên chấp ngã, chấp pháp, xa rời thực tại như như Không biết tự bao giờ, con người chấp chặt vào “cái ta và cái của ta” như định kiến thâm căn cố đế để rồi sinh ra khổ đau Phải chăng ngay từ khi lọt lòng mẹ đứa bé đã được mẹ, người thân và người xung quanh nâng niu trân quý gọi là con của cha mẹ, là cháu ngoan giỏi của ông
bà Kết hợp với chủng tử (gène) đã huân tập và ngủ sâu từ vô lượng kiếp trước được thức dậy mà từ đó hình thành cái ngã Và đứa trẻ nào cũng được dạy “vật này là của con… phải nắm giữ” Ai đụng tới là không được, nó giãy nãy khóc lóc, bảo vệ cho bằng được! Rồi lớn lên, dưới áp lực của các tôn giáo, chủ thuyết khiến con người chấp vào Thượng
đế, thánh thần, chủ thuyết của ta… gây bao hệ lụy: phân chia đẳng cấp, phân biệt chủng tộc, màu da sắc tộc… dẫn đến chiến tranh tàn sát để tranh giành, bành trướng tôn giáo, chủ thuyết Lịch sử nhân loại chưa hết bàng hoàng trước những cuộc thánh chiến và chiến tranh khủng bố đẫm máu giữa các giáo phái đã gieo rắc khổ đau kinh hoàng cho con người và muôn loài Bởi vô minh chúng sanh không nhận ra Duyên khởi nên sinh phân biệt ngã, nhân, chúng sanh, thọ giả và mãi triền miên trong lục đạo luân hồi sinh tử.Pháp do Duyên sinh có mặt thì cũng từ Duyên sinh mà chấm dứt Vì hễ cái gì do duyên sinh thì hữu vi, vô thường, đoạn diệt, biến hoại, không thật tức vô ngã Duyên khởi với 12 chi phần quyết định hình thành và tàn hoại của vạn hữu Và mỗi chi phần là sự có mặt của 11 chi phần kia Do đó đoạn diệt hoàn toàn một chi phần cũng có nghĩa là đoạn diệt cả 12 chi phần nhân duyên Vô minh, hành, thức, v.v… không thể có mặt một mình Vậy nên khi ái diệt, hoặc thủ diệt, hoặc thức diệt thì vô minh phải hoàn toàn diệt Và Thế Tôn dạy: “Do đoạn diệt tham ái, vô minh một cách hoàn toàn thì hành diệt, do hành diệt nên thức diệt; v.v… lão tử, sầu bi khổ ưu não diệt Như vậy là toàn bộ khổ uẩn diệt Này các Tỳ-kheo, như vậy là đoạn diệt”(Kinh Tương ưng bộ II).Hết vô minh thì thấy pháp vô ngã, hành vô thường Không còn chấp ngã, chấp pháp tức chứng đạt Chánh đẳng giác, chấm dứt vòng sinh tử luân hồi.Duyên khởi là nền tảng xuyên suốt mọi giáo lý cơ bản của đạo Phật Duyên khởi mà Đức Thế Tôn khám phá và tuyên thuyết đã mở ra cánh cửa thực tại Trên cơ sở đó đập tan luận điểm về một đấng sáng thế, cứu thế và trả con
Trang 7người về với vai trò làm chủ vận mệnh của mình đồng thời khai mở cho chúng sanh con đường giải thoát sinh tử luân hồi, đưa con người và muôn loài đến bến bờ an vui hạnh phúc
Dĩ khứ vô hữu khứ 不不不不不
Vị khứ diệc vô khứ 不不不不不
Ly dĩ khứ, vị khứ 不不不不不 Khứ thời diệc vô khứ 不不不不不
Đi rồi không phải đi Chưa đi không phải đi Lìa đi rồi, chưa đi Đang đi cũng chẳng đi
Nhược hữu nhị khứ pháp 不不不不不 Tắc hữu nhị khứ giả 不不不不不
Dĩ ly ư khứ giả 不不不不不 Khứ pháp bất khả đắc? 不不不不不
Nếu có hai loại đi Thì có hai kẻ đi Nếu tách rời người đi
Đi sao nắm bắt được?
Để phá quan niệm “tam thế thật hữu, pháp thể hằng hữu” của phái Nhất thiết hữu bộ, Long Thọ phá quan niệm về chấp ngã tức khứ giả (kẻ đi), chấp pháp tức khứ pháp (hành động đi, pháp đi) và chấp có thời gian đi trong hiện tại tức khứ thời (thời gian đi) Để pháp quan niệm sát na trụ của phái Kinh lượng bộ, phẩm này đưa ra quan niệm “Đang đi cũng chẳng đi”: Lối giải thích trong nguyên văn của luận dùng “kẻ đi” với “pháp đi” rất khó hiểu Nay dùng máy quay video để thí dụ thì dễ hiểu hơn Ví như kẻ đi bước 10 bước, máy quay phim quay 300 tấm hình trong 100 giây, khi phóng ảnh ra, coi cũng như lúc đang đi, nhưng xét kỹ trong 300 tấm hình, thì chẳng một tấm hình nào có đi Như thế thì chứng minh “đang đi” cũng “chẳng đi” Theo lý duyên khởi, tất cả hiện tượng ấy đồng thời câu khởi, hỗ tương giao thiệp không ngăn ngại nhau Thật tướng của chúng là vô tự tính, là Không Cần hiểu rằng các duyên tố cấu thành chỉ có công dụng trưng dẫn tính cách giả hữu của hiện tượng chuyển động và miêu tả quá trình chuyển động theo ngôn ngữ thông tục và qui ước cộng đồng Quá trình này chỉ là một mảnh cắt xén tùy tiện từ trong mạng lưới nhân duyên sinh trùng trùng vô tận biểu tượng thế giới vô thường, tuyệt nhiên không liên hệ với thực tại khách quan.Trên quan điểm quan hệ hỗ tương dị thời, hết thảy sự tồn tại tuy vô thường biến thiên nhưng không một sự vật nào hoàn toàn đoạn diệt
cả Nghĩa là, nếu nhân duyên tức quan hệ của nó còn tồn tại thời sự biến hóa của nó vẫn tiếp tục mãi mãi Điều này đã được đức Phật thường xuyên thuyết minh dưới hình thức lý pháp sinh mệnh kế tục dùng làm nền tảng của sự kế tục của thế giới Lý pháp này đóng một vai trò chủ yếu trong những quan hệ thành lập thế giới Y theo động tác và vị trí, thời gian chuyển dịch được phân biệt có quá khứ, hiện tại, và vị lai Trên phương diện quan hệ
dị thời, một đường thẳng biểu hiện thời gian được chia làm hai bởi một điểm Một phần chia tương ứng với đoạn đường đã đi, gọi là X, phần kia với đoạn đường chưa đi, gọi là
Y, và điểm chia tương ứng với điểm hiện đang đi, gọi là Đ Thật ra, trên phương diện luận lý, thời gian ở đây được quan niệm như không gian, và được phân chia thành hai phần bổ sung nhau: A và phi A A là đoạn X đã đi và phi A là đoạn Y chưa đi Vũ trụ ngôn thuyết ở đây được hạn định trong đường thẳng biểu hiện thời gian chuyển dịch tức tập hợp hội của hai phần bổ sung X và Y mà thôi Do đó không có điểm Đ nào là điểm hiện đang đi ngoài các đoạn đã đi X và chưa đi Y.Trên quan điểm quan hệ hỗ tương đồng
Trang 8thời, “cái này có, cái kia có; cái này không, cái kia không”, sự phân chia không gian thành cái đã đi, cái chưa đi, và cái đang đi, sẽ không có ý nghĩa nếu động tác chuyển dịch không được đề cập Ngược lại, sự mô tả động tác chuyển dịch cần đến sự chia không gian thành ba cái, đã đi, chưa đi, và đang đi Ngoài hai duyên tố, không gian chuyển dịch và động tác chuyển dịch, cũng cần thêm vào duyên tố thứ ba là chủ thể chuyển dịch mới mong giải thích thông suốt động tác chuyển dịch, và do đó mới quán triệt chuyển động đi
và đứng yên, tức là sự vận hành và đình trụ trong thế giới hiện tượng Chủ thể chuyển dịch có thể là người đi hay vật thể chuyển động Trong Phẩm này, bản chữ Hán, chữ
“khứ giả” được sử dụng để chỉ chủ thể chuyển dịch, và được dịch ngắn gọn là “người đi” Cái đã đi không có đi/ Cái chưa đi cũng không đi/ Ngoài cái đã đi và cái chưa đi/ Cái đang đi cũng không đi.Trong bài tụng này, mệnh đề tôn “Đi trong không gian phải đi qua” thiết lập quan hệ giữa động tác đi và không gian phải đi qua Tôn y sau, “không gian phải đi qua”, được chia thành hai phần bổ sung: “cái đã đi” tức đoạn X và “cái chưa đi” tức đoạn Y Hội hai phần bổ sung này là vũ trụ ngôn thuyết đối với bài tụng II.1 Nói như thế có nghĩa là trong không gian phải đi qua, không còn có điểm Đ nào phải đi ngoài X
và Y Vậy cái điểm Đ hiện đang bước qua không có Do đó, câu “Cái đang đi cũng không đi” được chứng minh với lý do là điểm Đ, cái đang đi, không hiện hữu.Trên phương diện luận lý hình thức, bài tụng này là một tứ cú phủ định không trọn, thiếu thiên kiến thứ ba
Ba thiên kiến, thứ nhất, thứ hai, và thứ tư, bị bác bỏ có thể viết ra theo thứ tự là (1) X, cái
đã đi (gata) không có động tác đi, (2) Y, cái chưa đi (agata) không có động tác đi, và (3)
Đ, một điểm ngoài X và Y là cái đang đi (gamyamāna) không có động tác đi với lý do là một điểm Đ như vậy không thể có được vì X và Y hội lại đã biểu hiện toàn thể không gian phải đi qua.Điều khó hiểu trong vấn đề chia không gian phải đi qua làm hai đoạn, X, đoạn đã đi và Y, đoạn chưa đi, là tuy hai đoạn này phân ly nhau, nhưng không có một điểm Đ biên giới nào nằm trong không gian phải đi qua ở giữa hai đoạn ấy Đó là vì ta đã dùng ngôn ngữ, ở đây là toán ngữ, để mô tả thực tại Thật ra, không một đường thẳng hình học nào khả dĩ biểu hiện chính xác và trung thực một không gian vật lý Thường nói đến đoạn đường thói quen quan niệm nó có hai mút Nhưng đường thẳng hình học thời không có mút Nó có mút chỉ khi nào ta quyết định chọn cho nó một điểm để làm mút đó Trái lại, ta có thể dùng chữ “điểm” để chỉ hoặc là một vật thể toán học trừu tượng không
có kích thước, hoặc là một vị trí trong không gian vật lý Như vậy, nếu có một điểm Đ chia không gian phải đi qua làm hai phần, X và Y, phân ly, thời tất nhiên điểm Đ ấy không thể thuộc cả hai đoạn X và Y Vì như thế thời X và Y đâu còn phân ly nữa! Nhưng nếu bảo nó là mút của X, thời tại sao không bảo nó là mút của Y? Cuối cùng chỉ còn một cách là quan niệm một điểm biên giới không chiếm cứ một không gian vật lý nào Theo ngài Long Thọ, khi đối phương nói “cái đang đi đi” thời đối phương đã tiên quyết rằng có một thật thể thứ nhất là điểm đang bước qua tức cái đang đi, nơi đó đang có tác dụng của động tác đi tức cái đi, một thật thể riêng biệt thứ hai Nghĩa là, câu nói “cái đang đi đi” đúng chỉ khi nào có hai thật thể riêng biệt như thế Trái ngược lại, theo quan điểm quan
hệ hỗ tương đồng thời, thời cái đang đi hiện khởi đồng thời với động tác đi, không có điểm đang bước qua nào hiện hữu riêng biệt với động tác đi: cái này có, cái kia có; cái này không, cái kia không Ngài áp dụng phương pháp phản chứng, từ chủ trương của đối phương là “có cái đi trong cái đang đi”, suy ra hệ quả “có hai thật thể cố định riêng biệt là điểm đang bước qua tức cái đang đi và động tác đi” để sau đó chứng minh rằng hệ quả ấy phi lý, nghĩa là chủ trương của đối phương không đúng
Trang 9Chương 2 NHẬN THỨC VÀ CHUYỂN HÓA CĂN BẢN PHỀN NÃO 2.1.Tham
Tham (lobha) nghĩa là bám chặt vào, xiết chặt lại Khi nhận lãnh một điều tốt đẹp nào
đó, tâm không muốn buông lìa, đó là do ảnh hưởng của tâm sở Tham.Làm duyên cho tham sanh khởi là những hành tướng tốt đẹp, tức là năm trần cảnh khả ái, hấp dẫn đến lòng ham muốn thụ hưởng, hoặc các pháp an lạc thù diệu do quả của thiện nghiệp mang lại như: Danh tiếng, quyền uy, tài sản, hạnh phúc cõi trời Thông thường bốn trong tám pháp thế gian là: Được lợi, được danh, được khen và được vui là duyên cho tham sanh khởi Bốn pháp còn lại là: Mất lợi, mất danh, bị chê, và đau khổ làm duyên cho sân sanh khởi.Muốn tiêu diệt tâm lý này thì trước hết phải tập trung nhận thức được tham và tác hại, (tham ái là bệnh tật, tham ái là mụn nhọt, tham ái là mũi tên, tham ái dắt dẫn con người tái sanh cảnh khổ )kềm chế sự sinh khởi tham và sau đó thực tập vô tham của 11 thiện để hoá giải hạt giống tâm sở tham.Vô tham (alobha) là không dính mắc, không thích thú, không tham muốn, không nhiễm đắm, không nắm giữ, không tham luyến, không bám lấy Tâm sở vô tham có rất nhiều lợi ích là diệt trừ tham ác, không nói lỗi người chỉ thấy lỗi mình, không khổ khi bị mất mát, không thiên vị, xa lìa dục lạc, giúp thoát ra hai cái khổ là muốn không được và ái biệt ly, thoát ra bỏn xẻn, biết đủ, sống hoà thuận, thoát khỏi tái sanh.Ngoài ra phải thực tập bố thí ,cúng dường, quán vô ngã,vô thường.Ví dụ quán bất tịnh, không nắm tướng chung tướng riêng của người nữ và khéo phòng hộ tam nghiệp hoặc thực tập (thiểu dục, tri túc–ít muốn, biết đủ)
2.2 Sân
Sân (dosa) là phật ý, không bằng lòng, khó chịu, buồn rầu Những từ ngữ chỉ cho tâm sở sân là: sát hại, ác ý hay thù oán, phẫn nộ, buồn rầu, than khóc, khó chịu, khổ.Để đối trị tâm sân thực hành vô sân (adosa) nghĩa là không khó chịu, không bất mãn, không hờn giận, không sân độc, không sân ác, thân thiện, ôn hòa… trước cảnh nghịch của tâm Vô sân có nhiều cấp độ như: Kiên nhẫn trước sự nóng bức hay lạnh buốt của thời tiết, bình thản trước sự chưỡi mắng của kẻ ác, có tâm từ với những sinh chúng, không có ác cảm.Vô sân là một trong ba cội nguồn (mūla) của thiện pháp Vô sân đưa đến nhiều lợi ích như thoát cảnh giới địa ngục, giúp tìm thấy tốt đẹp ở người khác, giúp giới được tốt đẹp, tâm an tịnh, diệt trừ oan trái, không oán thù, sống hoà thuận nhau,cách vượt qua dải tâm từ ,tâm bi không xem phim bạo lực,không ăn thua.Ví dụ thay đổi lối suy nghĩ của mình từ thái độ tiêu cực và thù ghét sang một thái độ tích cực và bình thản Hãy cố gắng đừng tập trung vào những khía cạnh tiêu cực mà nên nhìn vào cả những khía cạnh tích cực của một vấn đề Khi một việc gì không được "xuôi chiều mát mái", hãy tìm xem có biện pháp nào để khắc phục được không Nếu có thì theo đó mà hành động, bằng không, thì cứ chấp nhận và cho qua Ngài Shantideva đã đặt ra một câu hỏi rất khôn khéo: "Tại sao phải buồn bực với một điều gì nếu điều đó có thể thay đổi được? Và lợi ích gì khi buồn bực với những điều mà mình không thể thay đổi?"
2.3.Si
Si mê muội trước mọi vấn đề thiện ác, tốt xấu, phải quấy, đúng sai của thế gian.Để chuyên hóa nó trước hết phải nhận thức mình đang bị si ,sau đó biết tác hại trước mắt và lâu dài của nó,vì si mình làm điều càn bậy,làm mọi việc trái lương tâm và pháp luật vì vậy nó gây hậu quả nghiêm trọng kế đến phát huy tâm sở vô si bằng cách phải gần gũi thiện hữu tri thức,tham gia các khóa học bổ sung mở mang kiến thức,tham gia khóa tu,đọc kinh ,nghe pháp Đức Phật dạy: Pháp Cú 358
Cỏ hoang làm hại ruộng vườn
Trang 10Si mê gây hại nhiều hơn cho người,
Si mê ai đã lìa rồi Cúng dường vị ấy chẳng nơi nào bằng Hưởng về phước báu vô vàn
2.4.Ác kiến
Ác kiến đó là huệ nhiễm suy lường điên đảo dối lý lý các thánh đế.Nghiệp dụng của nó là chướng ngại thiện kiến,chiều với khổ.Sai biệt hành tướng của kiến này có năm:
Tát-ca-da kiến:Chấp ngã và ngã sở hữu nơi năm uẩn,tác dụng của nó làm sở y cho tất cả mọi xu hướng của kiến thủ
Biên chấp kiến:Do kiến này tùy theo mà chấp hoặc đoạn hay thường.Nghiệp dụng của nó là chướng ngại trung đạo,thực hành đạo đế và diệt đế xuất ly.Biên kiến bao gồm 47 trong 62 luận chấp,được nói trong kinh phạm võng(trường a hàm,kinh
số 21)
Tà kiến:Đó là các tà chấp không tin nhân quả,tác dụng,sự thực và các tà chấp khác không thuộc trong bốn kiến chấp kia,nó bao trùm rất rộng như danh nghĩa cảu tăng thượng duyên
Kiến thủ:Chấp một trong 62 tà kiến,cho là tối thắng bám chặt lấy nó và cho rằng:Duy chỉ đây là chân thật,ngoài ra điều là hư dối,do đây mà đạt được thanh tịnh,giải thoát
Giới cấm thủ:Đó là hoặc giới,hoặc cấm nguyện,những điều được thọ trì tùy thuận theo kiến thủ
Muốn tiêu diệt tâm lý này thì trước hết phải tập trung nhận thức chặn đứng sự sinh hoạt của bệnh chấp trước quan niệm và sau đó phát huy ba Tâm sở: Tâm sở vô si, tâm sở định
và tâm sở huệ