Nghiên cứu mô bệnh học và siêu cấu trúc viêm gan virut B mạn tính Trần Văn Hợp 1 , Nguyễn Văn Tuy 2 , Nguyên Kim Giao 3 , Dương Xuân Nhương 4 1 Bộ môn Giải phẫu bệnh - Trường Đại học Y
Trang 1Nghiên cứu mô bệnh học và siêu cấu trúc
viêm gan virut B mạn tính
Trần Văn Hợp 1 , Nguyễn Văn Tuy 2 , Nguyên Kim Giao 3 , Dương Xuân Nhương 4
1 Bộ môn Giải phẫu bệnh - Trường Đại học Y Hà Nội
2Bộ môn Giải phẫu bệnh - Trường Đại học Y Hải Phòng
3
Phòng hiển vi điện tử, Viện VSDT Trung ương Hà Nội
4Bộ môn Nội, Học viện Quân y
Các mảnh sinh thiết gan của 40 bệnh nhân viêm gan virut B mạn tính, HBsAg (+),, men ALT, AST tăng trên
2 lần bình thường được nghiên cứu mô bệnh học, và 11 trong số đó đồng thời nghiên cứu siêu cấu trúc
- Nghiên cứu mô bệnh học; các mảnh sinh thiết cố định bằng formol 10%, chuyển, vùi nến, cắt mảnh dày 3
àm nhuộm HE, PAS, Gomori 3 mầu theo Masson Đánh giá tổn thương theo thang điểm Knodell Kết quả cho thấy hoại tử mối gạm và hoại tử bắc cầu quanh khoảng cửa chủ yếu ở mức độ nhẹ và vừa (30 và 35%), mức
độ nặng và rất nặng chiếm tỉ lệ đáng kể (20 và 12,5%) Thoái hoá trong tiểu thuỳ + hoại tử ổ và viêm khoảng cửa ở mức độ vừa và nặng chiếm tỉ lệ cao (47,5 và 30%; 42,5 và 32,5%) Về phân loại viêm gan mạn nhẹ và vừa cùng tỉ lệ 37,5%; viêm gan nặng chiếm 20%, có 2 trường hợp (5%) xơ gan rõ, tăng sinh liên kết xơ nhẹ và vừa chiếm tỉ lệ đáng kể (40 và 32,5%) Các tổn thương kèm theo thường gặp là thoái hoá mỡ và ứ mật tế bào gan
- Nghiên cứu siêu cấu trúc: kỹ thuật hiển vi điện tử được thực hiện tại Phòng hiển vi điện tử Viện vệ sinh dịch tễ Trung ương Hà Nội Đọc tiêu bản bằng kính hiển vi điện tử JM 1010, phân tích tổn thương nhân, các bào quan trong tế bào và viêm khoảng cửa Kết quả: tổn thương ở nhân thường gặp là màng nhân dính, co rúm, nhăn nheo, chất nhân đông vón Các bào quan giảm số lượng, tan vỡ Khoảng cửa tăng sinh sợi tạo keo Hình ảnh virus viêm gan B thấy ở 7/11 trường hợp
i Đặt Vấn đề
Viêm gan mạn tính là bệnh thường gặp trong
các bệnh lý về gan và do nhiều nguyên nhân gây
ra, trong đó virut viêm gan B giữ vị trí hàng đầu
Đã có nhiều công trình nghiên cứu viêm gan virut
B mạn tính như về dịch tễ học, lâm sàng, sinh hoá,
miễn dịch, điều trị [1, 4, 5, 7] Tuy nhiên những
nghiên cứu về mô bệnh học và siêu cấu trúc ở nước
ta mới chỉ có một số ít công trình được công bố [2,
3] Nghiên cứu mô bệnh học và siêu cấu trúc có
giá trị cao trong đánh giá tổn thương của viêm gan
B mạn tính Bởi vậy chúng tôi tiến hành nghiên
cứu này với mục đích tìm hiểu những tổn thương ở
gan trên mô bệnh học và siêu cấu trúc do virut
viêm gan B gây nên
ii Đối tượng và phương pháp
nghiên cứu
1 Đối tượng:
40 bệnh nhân được lâm sàng chẩn đoán viêm gan virut B mạn tính có HBsAg (+) > 6 tháng, men AST và ALT tăng > 2 lần mức bình thường Tuổi
từ 17 đến 76, nam 30, nữ 10
2 Phương pháp nghiên cứu:
Tất cả 40 bệnh nhân đều được sinh thiết gan làm mô bệnh học và siêu cấu trúc
2.1 Mô bệnh học:
- Các mảnh sinh thiết cố định trong formol
10%, chuyển, vùi nến, cắt mảnh dày 3 àm, nhuộm
HE, P A.S, Gomori và Trichrom de Masson
- Đánh giá tổn thương theo thang điểm Knodell [6]
A Hoại tử "mối gặm” và hoại tử bắc cầu
- Không có 0
Trang 2- Hoại tử "mối gặm” nhẹ 1 * Đánh giá mức độ xơ hoá dựa vào mức điểm ở
phần D
- Hoại tử "mối gặm” vừa 3
môn Giải phẫu bệnh - Trường Đại học Y Hà Nội
- Hoại tử "mối gặm” nặng 4
( > 50% rìa hầu hết các khoảng cửa)
- Hoại từ "mối gặm” vừa + hoại tử bắc cầu 5 Có 11 trong số 40 bệnh nhân đồng thời được làm mô
bệnh học và siêu cấu trúc
- Hoại tử "mối gặm” nặng + hoại tử bắc cầu 6
- Hoại tử đa tiểu phân thuỳ 10
B Thoái hoá trong tiểu thuỳ và hoại tử ổ
- Không có 0
- Tiền cố định bằng dung dịch cố định mẫu (25ml Cacodylate pH 7,2; 3ml Paraformaldehyde 15%, 2ml Gluteraldehyde 50%; 1,5g Saccharose) chuẩn pH 7,2 - 7,4
- Nhẹ (có các thể ưa acid, thoái hoá 1
hình cầu và hoại tử ổ rải rác ở < 1/3
cacodylate 0,1M trong 1 giờ
- Vừa (các tổn thương trên có 3
- Nặng (các tổn thương trên có ở > 2/3 4
các tiểu thuỳ và các nốt)
C Viêm khoảng cửa
- Không có 0 - 1/2 popylen oxyde + 1/2 epon: 1 - 2 giờ (mở
nắp)
- Nhẹ (các tế bào viêm ở < 1/3 các khoảng cửa) 1
- Vừa (có các tế bào viêm ở 1/3 - 2/3 3
để tủ ấm 60
- Nặng (có sự tập trung dày đặc tế bào 4
viêm ở > 2/3 các khoảng cửa)
D Xơ:
- Không có 0 - Nhuộm bằng Uranyl acetat 5% trong 10 phút
và Citrat trong 5 phút
- Xơ hoá khoảng cửa lan toả 1
- Xơ hoá kiểu bắc cầu (xơ từ khoảng 3
cửa đến khoảng cửa hoặc từ khoảng cửa
đến trung tâm tiểu thuỳ)
Kỹ thuật hiển vi điện tử được thực hiện tại Phòng hiển vi điện tử Viện vệ sinh dịch tễ Trung
ương Hà Nội
- Xơ gan 4
* Đánh giá mức độ viêm bằng chỉ số hoạt động
trên mô học HAI (Histologic Activity Index) được
tính bằng tổng điểm của 3 phần A, B, C
1 - 3 điểm : Viêm gan mạn thể tối thiểu
4 - 8 điểm : Viêm gan mạn thể nhẹ
9 - 12 điểm : Viêm gạn mạn thể trung bình
13 - 18 điểm: Viêm gan mạn thể nặng
2.2 Siêu cấu trúc:
- Các mẫu bệnh phẩm được lấy với kích thước 1mm3
- Hút nước bằng cồn 50o, 70o, 90o, 100o mỗi loại
2 lần, mỗi lần 5 - 10 phút
- Popylen oxyde 15 phút 2 lần
- Epon nguyên: 1 - 2 giờ
oC trong 48 giờ
- Cắt bằng máy siêu cắt LKB
- Dàn tiêu bản trên lưới đồng
- Quan sát bằng kính hiển vi điện tử JEM 1010
Đánh giá tổn thương: nhân tế bào, các bào quan trong tế bào, tổn thương ở khoảng cửa
iii kết quả
1 Mô bệnh học:
Trang 3Bảng 1: Hoại tử "mối gặm” và hoại tử bắc cầu quanh khoảng cửa
% 2,5 30,0 35,0 12,5 7,5 5,0 7,5 100
Tổn thương nhẹ và vừa (1 - 3 điểm) chiếm tỉ lệ cao (30 và 35%) Tổn thương nặng (4 - 5 điểm) và rất
nặng (6 và 10 điểm) chiếm tỉ lệ đáng kể (20 và 12,5%)
Bảng 2: Tổn thương thoái hoá trong tiểu thuỳ và hoại tử ổ
Thoái hoá trong tiểu thuỳ và hoại tử ổ chủ yếu ở mức độ vừa (3 điểm) và nặng (4 điểm): 47,5 và 30%
Bảng 3: Tổn thương viêm ở khoảng cửa
n 0 10 17 13 40
Tất cả đều có xâm nhập viêm ở khoảng cửa, trong đó mức độ vừa (3 điểm) và nặng (4 điểm) chiếm tỉ
lệ cao (42,5 và 32,5%)
Bảng 4: Mức độ tăng liên kết xơ
n 9 16 13 2 40
% 22,5 40,0 32,5 5,0 100 Viêm gan mạn chưa có tăng sinh liên kết xơ chiếm 22,5% và chỉ có 2 trường hợp xơ gan rõ (4 điểm),
còn lại là tăng liên kết xơ nhẹ (1 điểm) và vừa (3 điểm)
Bảng 5: Phân loại mức độ viêm gan mạn
Viêm gan mức độ vừa và nặng chiếm tỉ lệ cao 57,5% (23/40 trường hợp)
Bảng 6: Tổn thương kèm theo
Mức độ
Tổn thương
Trang 4Thoái hoá mỡ và ứ sắc mật là những tổn thương
kèm theo thường gặp với các mức độ khác nhau và
chiếm tỉ lệ đáng kể (57,5 và 45% các trường hợp)
2 Siêu cấu trúc:
+ Tổn thương ở nhân:
Trên cùng một tiêu bản có những tế bào nhân bình
thường và những tế bào có tổn thương ở nhân và màng
nhân với nhiều dạng và mức độ nặng nhẹ khác nhau
- Màng nhân: màng nhân nhăn nheo, co rúm,
chỗ lồi, chỗ lõm tạo hình ảnh như răng cưa hoặc
màng trong và màng ngoài dính vào nhau tạo thành
khoảng sáng quanh nhân
- Chất nhân: chất chrromatin của nhân là những
khối không rõ ràng, những sợi mảnh hay những hạt
có đậm độ điện tử vừa phải, có tế bào thấy thưa, có
tế bào thấy vón lại tạo thành những khoảng tối
sáng trong nhân
+ Tổn thương ở bào tương
Nhiều tế bào gan có số lượng các bào quan
giảm hoặc có sự tan vỡ Đặc điểm dễ nhận là giảm
số lượng các ty thể, lưới nội bào có hạt, lưới nội
bào không có hạt và các hạt glycogen Một số tế
bào gan do các bào quan giảm hoặc tan vỡ tạo nên
các khoảng trống sáng chiếm một phần hay chiếm
hết cả bào tương
Có những tế bào có sự lắng đọng các giọt mỡ to
nhỏ khác nhau trong bào tương
Ngoài sự giảm số lượng các bào quan còn thấy
có sự thay đổi hình dạng các bào quan như các ty
thể phồng to
+ Tổn thương ở khoảng cửa:
Các sợi collagen phát triển với nhiều mức độ khác
nhau có thể tạo thành những bó lớn ở khoảng cửa; các sợi
tơ collagen có thể xâm nhập vào giữa hai tế bào gan
Trên kính hiển vi điện tử còn quan sát thấy tế
bào Kupffer bị trương to, bào tương có các hốc
sáng Các vi quản mật dãn rộng, các vi nhung mao
giảm hoặc mất, hình ảnh này thường thấy ở những
trường hợp có xơ tăng sinh Có sự xâm nhập tế bào
viêm ở khoảng cửa, chủ yếu là tế bào lymphô
+ Hình ảnh vi rút viêm gan B
Chúng tôi quan sát trên 11 mẫu bệnh phẩm với nhiều tiêu bản khác nhau phát hiện được 7 trường hợp (63,6%) mẫu bệnh phẩm có hình thể virut Tuy nhiên, việc phát hiện hình ảnh virut trong
tế bào gan thường khó vì kích thước của virut rất nhỏ (22 - 27nm) với nhiều dạng khác nhau (cấu trúc hình cầu, hình ống) và số lượng lại phân tán Virut thường thấy ở những bọc hoặc chúng phân tán trong bào tương Hình ảnh virut ở đây không được rõ như quan sát ở huyết thanh nhưng có thể nhận biết
được vì có quầng sáng quanh hạt virut
iv bàn luận
1 Về mô bệnh học
Có nhiều cách phân loại mô bệnh học viêm gan mạn tính khác nhau, trong đó phân loại của De Groot và Thaller (1968) được áp dụng phổ biến hơn cả Phân loại này chia viêm gan mạn làm hai thể: thể tồn tại và thể tấn công biểu hiện tình trạng nặng nhẹ của bệnh Tuy nhiên qua nhiều năm trong thực tế lâm sàng, sinh hoá, mô bệnh học người ta nhận thấy rằng phân loại này không phù hợp vì không có tiêu chuẩn lượng giá cụ thể cho từng loại tổn thương Chính vì vậy năm 1981 Knodell đã đưa ra phân loại viêm gan mạn tính có các thang điểm cụ thể cho từng loại tổn thương ở khoảng cửa, ở nhu mô, sự xâm nhập viêm và tình trạng xơ hoá [6] Phân loại này nhanh chóng được các nhà mô bệnh học của nhiều nước áp dụng Trong nghiên cứu của chúng tôi đã sử dụng phân loại theo thang điểm của Knodell và có nhận xét như sau:
- Về hoại tử mối gặm và hoại tử bắc cầu: hầu hết các trường hợp đều có tổn thương khác nhau từ nhẹ đến rất nặng, trong đó tổn thương nhẹ và vừa (1 và 3 điểm) tương tự nhau chiếm tỉ lệ 30 và 35% Tuy nhiên tổn thương nặng (4 và 5 điểm) và tổn thương rất nặng (6 và 10 điểm) chiếm tỉ lệ đáng kể (20 và 12,5%) Những trường hợp tổn thương nặng
và rất nặng sẽ là cơ sở để mô liên kết xơ phát triển, sau này có thể tiến triển thành xơ gan Do đó, đây
là những trường hợp cần phải được theo dõi và điều trị tích cực
Trang 5- Về thoái hoá trong tiểu thuỳ và hoại tử ổ: đây
là tổn thương tế bào nhu mô ở trong tiểu thuỳ gan
Tổn thương có thể rải rác hoặc tập trung thành ổ
Biểu hiện thoái hoá tế bào rất đa dạng có thể là
thoái hoá sưng đục, thoái hoá hạt, thoái hoá nước,
thoái hoá toan tính, thoái hoá mỡ
Khi tổn thương thoái hoá tập trung thành ổ, các
tế bào không còn hình dạng và cấu trúc được xem
như là hoại tử ổ Tại các ổ có xâm nhập tế bào
viêm chủ yếu lymphô và một số ít bạch cầu đa
nhân Một số trường hợp tại ổ hoại tử đã xuất hiện
sợi tạo keo, sợi liên kết, tế bào xơ
Kết quả nghiên cứu của chúng tôi cho thấy cả
40 trường hợp đều có tổn thương thoái hoá tế bào
trong tiểu thùy và một số trường hợp có hoại tử ổ
Tổn thương mức độ vừa (3 điểm) chiếm tỉ lệ cao
hơn cả (47,5%) sau đó là ở mức độ nặng (30%)
Tổn thương thoái hoá và hoại tử ổ là nguyên nhân
chính làm cho men ALT và AST trong huyết thanh
tăng cao Những trường hợp này cần được điều trị
tích cực để phục hồi và tái tạo tế bào gan
- Về tình trạng viêm ở khoảng cửa: Xâm nhập
viêm khoảng cửa chúng tôi gặp ở cả 40 trường hợp,
trong đó mức độ vừa chiếm tỉ lệ cao (42,5%), sau
đó là mức độ nặng (32,5%), mức độ nhẹ có tỉ lệ
thấp hơn (25%) Tế bào viêm chủ yếu là lymphô,
bạch cầu đa nhân có nhưng ít hoặc ở mức độ vừa
phải
- Về tăng liên kết xơ: trong số 40 trường hợp
viêm gan mạn có 9 trường hợp (22,5%) chưa có
tăng sinh liên kết xơ và 2 trường hợp (5%) xơ gan
thực sự, còn lại đều có tăng sinh liên kết xơ từ nhẹ
đến vừa (40 và 32,5%)
Tăng sinh liên kết xơ là phản ứng của mô nhằm
hàn gắn lại tổn thương ở vùng thoái hoá, hoại tử tế
bào gan Tuy nhiên quá trình tăng sinh xơ sẽ làm
giảm sự nuôi dưỡng của tế bào gan và như vậy sẽ
dẫn tới tiếp tục thoái hoá và hoại tử tế bào gan
nhiều hơn Cuối cùng xơ tăng sinh nhiều lan rộng
hậu quả là dẫn đến xơ gan thực sự
- Về phân loại mức độ viêm gan mạn: trên cơ sở
phân tích các tổn thương chúng tôi phân loại viêm
gan thành các mức độ rất nhẹ (tối thiểu), nhẹ, vừa
và nặng theo chỉ số hoạt động trên mô học (HAI) của Knodell [6] Kết quả cho thấy viêm gan mức
độ nhẹ và vừa chiếm tỉ lệ cao hơn cả (37,5 và 35%), mức độ rất nhẹ chỉ có 5% Đặc biệt viêm gan nặng chiếm tỉ lệ đáng kể 20% Sở dĩ tỉ lệ viêm mức độ vừa và nặng chiếm tỉ lệ cao có lẽ do chúng tôi chọn đối tượng nghiên cứu là những trường hợp viêm gan virut B mạn tính có men gan ALT, AST tăng trên 2 lần mức bình thường Đây là những bệnh nhân phải được điều trị tích cực và phải theo dõi kiểm tra định kỳ để ngăn chặn quá trình phát triển xơ gan và tiến triển thành ung thư
- Tổn thương phối hợp: thoái hoá mỡ và ứ mật
tế bào gan là những biểu hiện thường gặp trong viêm gan virut mạn tính nhất là ở những trường hợp bệnh nặng Thoái hoá mỡ chúng tôi gặp 57,5% trong đó chủ yếu là thoái hoá mỡ nhẹ, hốc mỡ nhỏ
ở trong khoảng 30 đến 50% số tế bào gan hoặc những trường hợp hốc mỡ lớn nhưng chỉ chiếm khoảng 10% số tế bào gan Có 4 trường hợp thoái hoá mỡ nặng (10%) các hốc mỡ tương đối lớn chiếm phần lớn bào tương ở khoảng trên 50% tổng
số tế bào gan
ứ mật trong tế bào gan chiếm tỉ lệ 45%, chủ yếu ứ mật nhẹ (22,5%), chỉ có 3 trường hợp (7,5%)
có ứ mật rõ, trong bào tương các hạt sắc tố mật to, các vi quản mật dãn Trường hợp nặng trên lâm sàng biểu hiện vàng niêm mạc và da khá rõ
2 Siêu cấu trúc:
Chúng tôi chỉ thực hiện nghiên cứu siêu cấu trúc được ở 11 trường hợp Dưới kính hiểu vi điện
tử chúng tôi quan sát các tổn thương ở nhân, các bào quan trong tế bào và tổn thương ở khoảng cửa nhận thấy không phải mọi tế bào gan đều có biểu hiện tổn thương Nhiều tế bào gan có hình thái nhân và các bào quan bình thường, bên cạnh là những tế bào có tổn thương với các hình thái và mức độ khác nhau
- Tổn thương ở nhân: biểu hiện này tương đối
đa dạng như màng trong và màng ngoài của nhân dính vào nhau làm mất viền sáng giữa hai màng
Trang 6Có tế bào màng nhân nhăn nheo, biến dạng hoặc
co rúm, hình răng cưa hoặc chất nhân đông vón tạo
khoảng trống sáng
- Tổn thương các bào quan: quan sát trên kính
hiển vi điện tử nhận thấy nhiều tế bào có số lượng
lưới nội bào giảm hoặc đứt đoạn Hệ thống lưới nội
bào giữ vai trò lưu thông, dự trữ các chất bài tiết
của tế bào, tham gia quá trình tổng hợp các chất
glycogen, lipit và giải độc Do đó khi giảm số
lượng lưới nội bào sẽ làm giảm một số chức năng
của tế bào gan sinh ra ứ đọng một số chất như
lipid, sắc tố mật và nó có thể tạo nên các hạt mỡ,
hạt sắc tố mật ở trong bào tương tế bào gan Bộ
Golgi của một số tế bào bị giảm hoặc mất, các vi
quản mật dãn rộng thấy ít vi nhung mao và có thể
chứa dịch mật Các tế bào Kupffer ở một số trường
hợp tăng sinh hoặc nở to hoặc trong bào tương của
chúng cũng có những hốc sáng giống như những
hốc thoái hoá của tế bào gan
- Tổn thương ở khoảng cửa: ở khoảng cửa các
sợi tạo keo tăng sinh rất rõ và rất đa dạng Hình
ảnh phổ biến mà chúng tôi gặp là sợi tạo keo phát
triển thành bó, dải với nhiều mức độ Sợi tạo keo
có thể rất mảnh từ khoảng cửa len vào giữa các tế
bào gan hoặc vào khoảng Disse Các tế bào viêm
như lymphô cũng gặp trong một số trường hợp
Tuy nhiên để xác định mức độ xâm nhiễm tế bào
viêm và đánh giá mức độ xơ chúng tôi nhận thấy
rằng trên kính hiển vi quang học cho kết quả tốt
hơn
3 Hình ảnh virut viêm gan B
Trong huyết thanh của bệnh nhân viêm gan B ở
giai đoạn hoạt động nhân đôi của virut người ta đã
tìm thấy 3 kiểu cấu trúc của virut đó là tiểu thể
Danc có kích thước khoảng 42nm, cấu trúc hình
cầu có đường kính khoảng 2nm và cấu trúc hình
ống có đường kính 22nm và chiều dài thay đổi
Tiểu thể Danc ít tìm thấy trong huyết thanh của
bệnh nhân, người ta chỉ thường tìm thấy cấu trúc
hình cầu và hình ống Hình ảnh virut trong tế bào
gan là lớp vỏ protein có kích thước nhỏ 22 - 27nm,
mang tính kháng nguyên HBsAg, nằm trong các
túi của lưới nội bào Trong nghiên cứu của chúng
tôi đã thấy những hình ảnh giống virut nằm trong bào tương của tế bào gan Tuy nhiên để khẳng định cần làm hoá mô miễn dịch siêu cấu trúc Điều này chúng tôi chưa có điều kiện để thực hiện, do đó những nhận định trên chỉ là nhận xét cần phải được nghiên cứu tiếp sau này
v kết luận Qua kết quả nghiên cứu mô bệnh học và siêu cấu trúc virut viêm gan B mạn tính bước đầu chúng tôi có kết luận sau:
1 Về mô bệnh học:
- Tổn thương hoại tử "mối gặm” và hoại tử bắc
cầu gặp ở hầu hết các trường hợp, trong đó mức độ nhẹ và vừa chiếm 65%, mức độ nặng và rất nặng chiếm 20 và 12,5%
- Tổn thương thoái hoá trong tiểu thuỳ hoại tử ổ
và viêm khoảng cửa chủ yếu ở mức độ vừa và nặng (47,5 và 30%; 42,5 và 32,5%)
- Về phân loại mức độ viêm và giai đoạn xơ: viêm gan nhẹ và vừa có tỉ lệ tương tự nhau (cùng 37,5%), viêm gan nặng chiếm tỉ lệ đáng kể (20%)
Đa số các trường hợp có tăng sinh liên kết xơ, trong đó có 2 trường hợp xơ gan rõ (5%), còn lại tăng liên kết xơ nhẹ và vừa (40 và 32,5%)
- Các tổn thương kèm theo thường gặp là thoái hoá mỡ (57,5%) và ứ sắc tố mật (45%) ở tế bào gan
2 Về siêu cấu trúc:
- Tổn thương tại nhân biểu hiện với các hình
thái và mức độ khác nhau: màng nhân dính lại, có rúm, nhăn nheo, chất nhân đông vón, tăng độ đậm
điện tử không đều
- Các bào quan trong bào tương có sự giảm về
số lượng hoặc có sự tan vỡ hoặc bị huỷ hoại
- Khoảng cửa có tăng sinh các sợi tạo keo, xâm nhập tế bào viêm
- Hình ảnh virut viêm gan B được nhận thấy ở 7/11 trường hợp (63%)
Trang 75 Desmet V J., Gerber M., Hoofnogle J H (1994): Classification of chromic hepatitis, grading and staging Hepatology, 14, 1513 - 1520
Tài liệu tham khảo
1 Đào Đình Đức, Lê Đăng Hà (1997): Dịch
tễ học viêm gan virut B ở Việt Nam Y học thực
Formulation and application of a numerical scoring system for assessing histological activity in asymptomatic chronic active hepatitis Hepatology
V.1, No5, 431 - 35
2 Trần Văn Hợp (2001): Mô bệnh học viêm
gan virut B Tài liệu đào tạo sau đại học, Hội gan
mật Việt Nam, tr 42 - 5
3 Trịnh Thị Xuân Hoà (1998): Đặc điểm lâm
sàng, siêu cấu trúc gan và hiệu quả điều trị của
thuốc Haina ở bệnh nhân viêm gan virut B hoạt
động Luận án Tiến sỹ Y học
7 Lai C L, Chien R N et al (1998): A one -
year trial of lamivudine for chronic hepatitis B Asia hepatitis B Lamivudine study group N Engl Med 339 (2), 61 - 68
4 Trịnh Thị Minh Liên (2000): ý nghĩa lâm
sàng và tiên l−ợng viêm virut B dựa vào một số
thông số miễn dịch Luận án tiến sĩ y học
Summary
Histopathological and ultrastructural study of chronic B viral
hepatitis
Fragments of biopsies taken from 40 patients diagnosed with chronic B viral hepatitis, HBsAg (+), and twofold elevated ALT and AST level were histopathologically studied and among that 11 cases were studied in ultrastructural microscopy
Histopathological study: biopsy fragments were fixed with formaldehyde 10%, embedded in paraffin and cut in 3
Mm sections, stained with H&E, PAS, Gomori and Trichrome Masson The lesions were assessed with Knodell score The results showed that piece - meal necrosis and bridging necrosis around portal areas seen at mild and moderate degrees (30 and 35% respectively), severe and very severe degrees occurred significantly (20 and 12.5% respectively) Intralobular degeneration and nodular necrosis and portal inflammation at moderate and severe degrees occurred at high percentage (47.5 and 30%; 42.5 and 32.5% respectively) Regarding classification: mild and moderate hepatitis occurred at the same rate of 37.5% of cases; severe hepatitis: 20% with 2 case (5%) of marked cirrhosis, mild and moderate degrees of fibrous connective proliferation occurred significantly (40 and 32.5% respectively) Other associated lesions included fatty degeneration and hepatocellular cholestasis
Ultrastructural study: the ultrastructural microscopic technique was conducted at the ultrastructural microscopic laboratory of NIHE The specimens were observed and analyzed with JM 1010 electronic microscope to find nuclear changes, intracellular organites lesions and portal inflammation The results showed that the commonly seen nuclear lesions were adhere nuclear membranes, and picnosis nuclear substance changes The intracellular organites were reduced in quantity, and fragmented Portal areas were increased in fibrous collagen HBV were identified at 7/11 cases