1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Biến chứng tim trong suy thận mạn giai đoạn III ppt

7 756 10
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 7
Dung lượng 186,04 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Biến chứng tim trong suy thận mạn giai đoạn III Đỗ Do∙n Lợi 1 , Nguyễn Ngọc Tước 2 1 Bộ môn Tim mạch, Đại học Y Hà Nội 2 Viện Tim mạch Việt Nam, Bệnh viện Bạch Mai Nhằm xác định "ngưỡn

Trang 1

Biến chứng tim trong suy thận mạn giai đoạn III

Đỗ Do∙n Lợi 1

, Nguyễn Ngọc Tước 2

1

Bộ môn Tim mạch, Đại học Y Hà Nội

2

Viện Tim mạch Việt Nam, Bệnh viện Bạch Mai

Nhằm xác định "ngưỡng tim mạch" trong chỉ định lọc máu cho các bệnh nhân suy thận nặng, các tác giả đã nghiên cứu các triệu chứng lâm sàng, sinh hóa, huyết học và các thông số siêu âm Doppler tim ở 51 bệnh nhân suy thận mạn giai đoạn III so sánh với 109 người bình thường và 117 bệnh nhân suy thận giai đoạn IV Kết quả nghiên cứu đã cho thấy: Nhóm suy thận giai đoạn III có những biến đổi rõ rệt so với nhóm chứng: nhĩ trái giãn; thất trái giãn, phì đại, giảm chức năng tâm thu thể tăng cung lượng và rối loạn chức năng tâm trương; tăng áp lực động mạch phổi Suy thận giai đoạn IV có rất nhiều khác biệt so với suy thận giai đoạn III: nhĩ và thất trái giãn hơn, phì đại thất trái nhiều hơn, chức năng tâm thu kém hơn, rối loạn chức năng tâm trương mức độ cao hơn và áp lực động mạch phổi cao hơn Phân nhóm suy thận mạn giai đoạn IIIb nặng nề hơn nhóm suy thận giai đoạn IIIa và gần tương đương với nhóm suy thận giai đoạn IV Do vậy, giai đoạn IIIa

có thể là "ngưỡng tim mạch" để chỉ định điều trị lọc máu cho bệnh nhân, nhằm bảo vệ tim, kéo dài tuổi thọ cho bệnh nhân và chuẩn bị cho những biện pháp điều trị cao hơn, như ghép thận: một giải pháp hiện nay được ứng dụng rộng rãi trên thế giới

i Đặt vấn đề

Những nghiên cứu gần đây của các tác

giả nước ngoài về các biến đổi hình thái,

chức năng và huyết động học của tim

trong suy thận mạn giai đoạn IV (STM4)

đã xác định được: cả hai nhóm STM4 chưa

lọc máu và STM4 chạy thận nhân tạo

(TNT) chu kỳ đều đã có những biến đổi tim

mạch khá nặng nề [5, 6, 10] Cũng như

các tác giả khác trên thế giới, nghiên cứu

của chúng tôi cho thấy: so với bệnh nhân

STM4 chưa lọc máu thì nhóm TNT bị tổn

thương tim mạch nặng hơn ít nhiều: các

buồng tim giãn hơn, chỉ số khối lượng cơ

thất trái lớn hơn, chức năng tâm trương thất

trái rối loạn mức độ cao hơn và áp lực tâm

thu động mạch phổi cao hơn [3] Song

chức năng tâm thu ở cả hai nhóm đều

giảm mức độ như nhau, các tổn thương van tim và màng ngoài tim gần như gặp ở tần xuất tương đương nhau Điều này là khá bất ngờ, thực sự hoàn toàn khác với suy đoán của chúng tôi trước đây là nhóm TNT chắc sẽ bị biến chứng tim mạch nặng

nề hơn nhiều so với nhóm STM4 chưa lọc máu

*

Những điểm nói trên chứng tỏ khi bệnh nhân STM4 được chỉ định điều trị lọc máu thì họ cũng đã có những biến đổi tim mạch

đáng kể Trong khi đó, một trong những mục tiêu của chúng ta cần đạt được khi

điều trị bệnh nhân suy thận mạn là “giữ bệnh nhân trong tình trạng tim mạch, xương khớp và dinh dưỡng tốt khi họ bắt

đầu được chỉ định điều trị lọc máu hoặc ghép thận” [9] Phải chăng bệnh nhân bắt c

Nghiên cứu được thực hiện tại Bộ môn Tim mạ h - Đại học Y Hà Nội, Viện Tim mạch

và Khoa Thận - Tiết niệu, Bệnh viện Bạch Mai năm 2001-2002

Trang 2

đầu lọc máu ở giai đoạn IV đã là chậm về

phương diện tim mạch

Với hy vọng tìm được “ngưỡng tim

mạch” cho chỉ định điều trị thay thế trong

suy thận (thận nhân tạo, lọc màng bụng

hoặc ghép thận) chúng tôi đặt vấn đề tiếp

tục nghiên cứu những giai đoạn suy thận

mạn sớm hơn, bước đầu là nhóm suy thận

giai đoạn III, nhằm các mục tiêu:

1 Đánh giá các biến đổi về hình thái,

chức năng tim và huyết động học ở những

bệnh nhân suy thận mạn giai đoạn III bằng

siêu âm Doppler

2 Xác định sự khác biệt trong những biến

đổi trên siêu âm Doppler tim ở nhóm bệnh

nhân này với nhóm suy thận mạn giai đoạn IV

ii Đối tượng và phương pháp

nghiên cứu

1 Đối tượng nghiên cứu

+ Nhóm chứng: người khỏe mạnh bình

thường (NC)

+ Nhóm bệnh nhân suy thận mạn giai

đoạn III (STM3)

+ Nhóm bệnh nhân suy thận mạn giai

đoạn IV (chưa lọc máu chu kỳ) (STM4)

Để có được số liệu nghiên cứu tương

đối thuần nhất, chúng tôi chỉ chọn các

bệnh nhân được chẩn đoán là viêm cầu

thận mạn hoặc viêm thận bể thận mạn, bởi

vì: suy thận mạn có thể là hậu quả của

nhiều nguyên nhân khác nhau, trong số đó

có một số bệnh mà ngay từ lúc chưa gây

suy thận đã có thể gây ra những biến đổi

về tim mạch: ví dụ bệnh hệ thống

(lupus ), bệnh chuyển hoá (đái tháo

đường), bệnh tăng huyết áp tiên phát

2 Phương pháp nghiên cứu

+ Chọn bệnh nhân suy thận mạn giai

đoạn III và IV dựa trên cơ sở khám lâm sàng và một số xét nghiệm cơ bản (máu: công thức máu, urê, creatinin, điện giải đồ

và protein niệu ), mức lọc cầu thận (theo phương pháp tính theo độ thanh thải Creatinin nội sinh)

+ Chụp X quang tim phổi thẳng, điện tâm

đồ 12 chuyển đạo, siêu âm thận - tiết niệu + Làm siêu âm tim theo mẫu nghiên cứu

để xác định các thông số siêu âm 2D, TM, Doppler nhằm đánh giá những biến đổi về hình thái, chức năng và huyết động học của tim theo các phương pháp đo đã được công

nhận rộng rãi [2, 4, 9]

Xử lý thống kê:

Chúng tôi đã sử dụng phần mềm thống kê: EPI-Info 2000 và SPSS 10.0 để phân tích các kết quả nghiên cứu

Các số liệu được phân tích theo 2 kiểu giữa mỗi nhóm (intra-group) và giữa các nhóm với nhau (inter-group), trong đó: các

tỷ lệ được so sánh bằng kiểm định χ bình phương (χ2

), các số liệu liên tục được kiểm

định bằng phép kiểm tra ANOVA và sự khác biệt được coi là có ý nghĩa thống kê khi p<0,05

iii Kết quả

Chúng tôi đã nghiên cứu được 51 bệnh nhân suy thận mạn giai đoạn III và so sánh các số liệu với nhóm chứng gồm 109 người khỏe mạnh bình thường và 117 bệnh nhân suy thận giai đoạn IV chưa lọc máu chu kì Kết quả được biểu thị trong các bảng và biểu đồ sau:

Trang 3

Bảng 1 Đặc điểm chung của các nhóm nghiên cứu

NC

(n=109)

p1 STM3

(n=51)

p2 STM4

(n=117)

p3

Tuổi 39,8 ± 14 k 41,2 ± 12,5 k 39,2 ± 13,5 k

Hồng cầu (106

/mm3 ) - - 3,2 ± 0,7 - 2,17 ± 0,58 **** Hemoglobine (g/l) - - 92,0 ± 23,9 - 64,1 ± 19,0 **** Hematocrite % - - 28,8 ± 6,6 - 18,1 ± 5,13 **** Urê (mmol/l) - - 28,1 ± 7,2 - 54,1 ± 18,1 ** Creatinine (àmol/l) - - 495 ± 135 - 1287 ± 391 * Mức lọc cầu thận

(ml/1’/1,73m2

)

- - 15,7 ± 8,6 - 2,76 ± 1,4 *

p 1 : giữa NC và STM3; p 2 : giữa NC và STM4; p 3 : giữa STM3 và STM4

k: p>0,05; * p<0,05; ** p<0,01; *** p<0,001; **** p<0,0001

Các nhóm nghiên cứu có tuổi và giới tương tự nhau, điều này cho phép phân tích các

số liệu một cách khách quan hơn Các xét nghiệm về sinh hóa và huyết học cho thấy nhóm STM4 có những biến đổi nặng hơn nhiều so với nhóm STM3

115,6

HA tâm thu (mmHg)

50 100

150

200

115,6

HA tâm thu (mmHg)

50 100

150

200

Biểu đồ 1 So sánh huyết áp tâm thu giữa các nhóm nghiên cứu

Huyết áp tâm thu và tâm trương ở cả hai nhóm bệnh nhân cao hơn rõ rệt so với nhóm chứng với ý nghĩ thống kê lớn (p<0,0001), nhưng không có sự khác biệt giữa hai nhóm bệnh với nhau

Trang 4

Bảng 2 Các thông số siêu âm Doppler ở nhóm suy thận mạn giai đoạn III (STM3)

so sánh với nhóm chứng (NC) và nhóm suy thận giai đoạn IV (STM4)

NC

(n=109)

p1 STM3

(n=51)

p2 STM4

(n=117)

p3

Nhĩ trái (mm) 30,0 ± 3,5 *** 33,0 ± 6,25 **** 37,4 ± 6,2 ****

Dd (mm) 45,9 ± 3,2 **** 49,2 ± 6,2 **** 53,9 ± 6,3 **** csVd (ml/m2

) 63,6 ± 9,7 **** 78,2 ± 21,9 **** 97,4 ± 25,2 **** csKLCTT (g/m2) 84,2 ± 15,7 **** 130,8 ± 47,9 **** 161,2 ± 41,4 **** Phân số tống máu(%) 65,9 ± 6,1 *** 60,9 ± 10,2 **** 55,6 ± 10,3 ** Chỉ số tim (l/ph/m2

) 2,91 ± 0,6 **** 3,8 ± 0,9 **** 3,98 ± 0,9 *

VE/VA hai lá 1,43 ± 0,41 **** 1,09 ± 0,4 ** 1,22 ± 0,48 *

áp lực tâm thu ĐMP 24,2 ± 4,1 * 35,3 ± 8,5 **** 41,9 ± 11,7 *

Dd: đường kính cuối tâm trương thất trái; csVd chỉ số thể tích thất trái; csKLCTT: chỉ số khối lượng cơ thất trái; VE, VA vận tốc sóng E và A qua van hai lá; ĐMP: động mạch phổi

p 1 : giữa NC và STM3; p 2 : giữa NC và STM4; p 3 : giữa STM3 và STM4

k: p>0,05; * p<0,05; ** p<0,01; *** p<0,001; **** p<0,0001

Bảng 2 cho thấy nhóm suy thận giai đoạn III (STM3) có những biến đổi rõ rệt so với nhóm chứng: nhĩ trái giãn; thất trái giãn, phì đại, giảm chức năng tâm thu thể tăng cung lượng và rối loạn chức năng tâm trương; tăng áp lực động mạch phổi Đồng thời các thông

số siêu âm Doppler tim của nhóm này cũng khác biệt có nghĩa thống kê so với nhóm suy thận giai đoạn IV

Thử chia tiếp nhóm STM3 thành 2 phân nhóm theo cách phân loại kinh điển: suy thận mạn giai đoạn IIIa (STM3a, n=30) và giai đoạn IIIb (STM3b, n=21), chúng tôi đã thu được các kết quả biểu diễn ở bảng 3: giữa hai phân nhóm cũng có những sự khác biệt khá rõ rệt

Bảng 3 So sánh giữa hai phân nhóm suy thận mạn giai đoạn IIIa và IIIb

NC (n=109)

p1 STM3a

(n=30)

p2 STM3b

(n=21)

p3

HA tâm thu (mmHg) 115,6 ± 8,7 **** 141,9 ± 26 * 155,2 ± 25,4 * Nhĩ trái (mm) 30,0 ± 3,5 k 31,5 ± 4,4 k 35,1 ± 7,7 k

Dd (mm) 45,9 ± 3,2 k 47,3 ± 5,6 * 51,9 ± 6,1 ** Chỉ số (csVd - ml/m2

) 63,6 ± 9,7 * 72,4 ± 19,7 * 86,4 ± 22,6 * Chỉ số KLCTT (g/m2

) 84,2 ± 15,7 **** 115,3 ± 43,7 * 153,1 ± 45,7 ** Nam < 130 g/m2

89,7 ± 14,7 k 129,9 ± 53,0 k 161,8 ± 56,7 k Nữ < 100 g/m2

75,2 ± 13,1 k 106,8 ± 36,2 * 146,6 ± 36,8 ** Phân số tống máu 65,9 ± 6,1 *** 60,8 ± 9,5 k 60,9 ± 11,2 k Chỉ số tim (l/ph/m2

) 2,91 ± 0,6 **** 3,5 ± 0,72 * 4,1 ± 0,98 *

VE/VA hai lá 1,43 ± 0,41 *** 1,1 ± 0,38 *** 1,08 ± 0,44 k

áp lực tâm thu ĐMP 24,2 ± 4,1 k 31,7 ± 8,4 * 37,6 ± 8,2 *

Trang 5

p 1 : giữa NC và STM3a; p 2 : giữa NC và

STM3b; p 3 : giữa STM3a và STM3b

k: p>0,05; * p<0,05; ** p<0,01; ***

p<0,001; **** p<0,0001

iv Bàn luận

Bảng 2 cho thấy bản thân nhóm STM3

cũng đã có nhiều biến đổi so với nhóm

chứng Song kết quả nghiên cứu cũng cho

thấy những biến đổi tim mạch trong suy

thận giai đoạn IV có rất nhiều khác biệt so

với suy thận giai đoạn III: nhĩ và thất trái

giãn hơn, phì đại thất trái nhiều hơn, chức

năng tâm thu kém hơn, rối loạn chức năng

tâm trương mức độ cao hơn và áp lực động

mạch phổi cao hơn Tất cả các thông số so

sánh giữa 2 nhóm bệnh đều khác biệt có ý

nghĩa thống kê Qua đó chúng tôi cho rằng

có một khoảng cách khá xa trong các biến

đổi về tim mạch giữa hai giai đoạn suy

thận: III và độ IV

Trong thực tế, 100% các bệnh nhân của

chúng ta chỉ bắt đầu chạy TNT chu kỳ ở

giai đoạn IV, tuy rằng từ trước tới nay

chúng ta vẫn lấy giai đoạn IIIb là ngưỡng

để bắt đầu chỉ định lọc máu và giai đoạn

IV là chỉ định bắt buộc [7] Phải chăng

trong điều kiện kinh tế hiện nay đã cải

thiện hơn và trên cơ sở những nhận xét về

tổn thương tim mạch nặng nề ở giai đoạn

IV, chúng ta nên chỉ định lọc máu sớm

hơn?

Chúng tôi muốn so sánh những kết quả

nghiên cứu của mình với các tác giả khác

trên thế giới và trong nước, nhưng rất tiếc

là không tìm thấy tài liệu nào, có thể là

chưa có nghiên cứu tương tự trong nước,

còn các tác giả nước ngoài không nghiên

cứu các nhóm suy thận giai đoạn III và giai

đoạn IV riêng rẽ mà gộp cả hai giai đoạn

đó thành "suy thận giai đoạn cuối - end

stage renal failure" để chỉ định điều trị lọc máu sớm [4, 7, 9]

So sánh hai phân nhóm suy thận giai

đoạn IIIa và IIIb cho thấy: số lượng bệnh nhân còn quá ít để các thống kê có ý nghĩa chặt chẽ nhưng chúng tôi sơ bộ thấy là nhóm STM3a có nhiều thông số tuy khác biệt ít nhiều so với nhóm chứng nhưng vẫn còn nằm trong hoặc gần giới hạn cao của bình thường, ví dụ: nhĩ trái, Dd, csVd, chỉ số KLCTT, phân số tống máu Trong khi đó nhóm STM3b thì khác biệt nhiều hơn: nhĩ trái lớn hơn 35 mm, Dd lớn hơn 50 mm, chỉ

số KLCTT cũng vượt xa ngưỡng bình thường (theo nghiên cứu Framingham [4]: nam là131 g/m2

, nữ là100 g/m2

), áp lực tâm thu ĐMP trên 35 mmHg

Dựa vào những số liệu còn hạn chế nói trên, chúng tôi nghĩ rằng suy thận mạn giai

đoạn IIIa có thể là “điểm ngưỡng về tim mạch”, là thời điểm để chuẩn bị điều kiện cho bệnh nhân sẽ lọc máu khi bước vào giai đoạn IIIb: ví dụ điều trị tốt các biến chứng khác, khống chế huyết áp, điều trị thiếu máu và tạo thông động - tĩnh mạch (fistula) nếu bệnh nhân sẽ chạy TNT hoặc

đào tạo bệnh nhân tự lọc màng bụng tại nhà nếu phương án này sẽ được ứng dụng hoặc ghép thận nếu có điều kiện Điều này cũng phù hợp với xu thế chung trên thế giới: các tác giả đều gọi suy thận từ giai đoạn IIIb trở lên là “suy thận giai đoạn cuối”

Tuy nhiên số lượng bệnh nhân ở hai phân nhóm còn quá ít, nên có nhiều thông

số khác biệt đáng kể giữa các phân nhóm nhưng không có ý nghĩa thống kê Do đó, trong thời gian tới, cần có những nghiên cứu rộng hơn với các phân nhóm suy thận giai đoạn III và các nhóm suy thận nhẹ hơn: giai đoạn I và II để có dữ liệu đầy đủ

Trang 6

về các biến chứng tim mạch trong suy thận

mạn, mà kể cả trong y văn thế giới hiện

nay, các thông tin này còn tản mạn và

không đầy đủ [7, 8, 9]

v Kết luận

Nghiên cứu các thông số siêu âm

Doppler tim ở 51 bệnh nhân suy thận mạn

giai đoạn III so sánh với người bình thường

và nhóm bệnh nhân suy thận giai đoạn IV,

chúng tôi có thể kết luận:

+ Nhóm suy thận giai đoạn III có những

biến đổi rõ rệt so với nhóm chứng: nhĩ trái

giãn; thất trái giãn, phì đại, giảm chức năng

tâm thu thể tăng cung lượng và rối loạn

chức năng tâm trương; tăng áp lực động

mạch phổi

+ Suy thận giai đoạn IV có rất nhiều

khác biệt so với suy thận giai đoạn III: nhĩ

và thất trái giãn hơn, phì đại thất trái nhiều

hơn, chức năng tâm thu kém hơn, rối loạn

chức năng tâm trương mức độ cao hơn và

áp lực động mạch phổi cao hơn Phân

nhóm suy thận mạn giai đoạn IIIb nặng nề

hơn nhóm suy thận giai đoạn IIIa và gần

tương đương với nhóm suy thận giai đoạn

IV Do vậy, giai đoạn IIIa có thể là "ngưỡng

tim mạch" để chúng ta chỉ định điều trị lọc

máu cho bệnh nhân, nhằm bảo vệ tim, kéo

dài tuổi thọ cho bệnh nhân và chuẩn bị

cho những biện pháp điều trị cao hơn, như

ghép thận: một giải pháp hiện nay được

ứng dụng rộng rãi trên thế giới

Tài liệu tham khảo

1 Appleton C.P., Jensen J.L., Hatle

L.K., Oh J.K (1997), “Doppler evaluation

of left and right ventricular diastolic

function: a technical guide for obtaining

optimal flow velocity recording” J Am

Soc Echocardiogr 10, pp 271-279

2 Cassidy M.J., Ter Hee P.M (1998),

“Assessment and initial management of

the patient with failing renal function”,

Oxford textbook of Clinical Nephrology,

Oxford, pp 1790-1813

3 Đỗ Doãn Lợi, Đinh Thị Kim Dung, Khổng Nam Hương, Nguyễn Ngọc Tuớc, Nguyễn Lân Việt, Phạm Gia Khải, Nguyễn Văn Xang, Trần Đỗ Trinh (2001), “Siêu âm tim ở các bệnh nhân suy thận mạn giai

đoạn IV (chưa lọc máu chu kỳ)” Tạp chí Tim mạch học Việt nam, số 27 tháng 9-

2001, tr 25-29 4 Devereux R.B., Alonso D.R., Lutas E.M (1986),

”Echocardiographic assessment of left ventricular hypertrophy: comparison to

necropsy findings” Am J Cardiol 57, pp

450-458

5 Foley R.N., Parfrey P.S., Harnett J.D (1996), “Impact of hypertension on cardiomyopathy, morbidity and mortality in

end-stage renal disease” Kidney Int., 49,

pp.1379-1285

6 Johnson D.W (2001) “Maintaining clearance in peritoneal dialysis”

Nephrology 6 (6), pp 243-249

7 Kessler M (1998), “Insuffisance

rénale chronique”, La revue du praticien,

48, pp.1457-1463

8 Levin A., Thompson C.R., Ethier J

(1999), “Left ventricular mass increase in early renal disease: impact of decline in

hemoglobin” Am J Kidney Dis., 34(1), pp

125-134

9 Parfrey P.S (2000), “Cardiac disease

in dialysis patient” Nephol Dial Transplant., 15(suppl.), pp 58-68

10 Tukek T., Yildiz A., Akkaya V

(2002), “Systolic time intervals in hemodialysis patients with normal ejection fraction: An echocardiographic study”

Nephrology, 7, pp.43-49

Trang 7

Summary Cardiac complications in stage III renal failure

Up today studies have shown the important echocardiographic changes in hemodialysis patients There are however limited data on echographically determined morphologic and functional cardiac performance in the stage III renal failure This prospective study was carried out to investigate clinical and echocardiographic findings in patients in renal failure stage III and to define the "cardiac threshold" for the hemodialysis indication

A group of 51 patients in stage III renal failure was compared with a group of 109 normal subjects and a group of 117 patients in stage IV renal failure: in clinical, ECG, chest X-ray, biochemical and echocardiographic findings

Based on Framingham criteria, the study has shown: LV hypertrophy, LV dilatation, high cardiac output systolic dysfunction and pulmonary hypertension There were significant LV diastolic disorders as shown by Doppler investigation The cardiac disorders

in stage IIIb renal failure are much more severe than in stage IIIa

This study suggests the "cardiac threshold" for hemodialysis indication would be stage IIIa

of renal failure in order to protect the heart before the best intervention - renal

transplantation could be done

Ngày đăng: 03/04/2014, 00:20

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1. Đặc điểm chung của các nhóm nghiên cứu - Biến chứng tim trong suy thận mạn giai đoạn III ppt
Bảng 1. Đặc điểm chung của các nhóm nghiên cứu (Trang 3)
Bảng 3. So sánh giữa hai phân nhóm suy thận mạn giai đoạn IIIa và IIIb - Biến chứng tim trong suy thận mạn giai đoạn III ppt
Bảng 3. So sánh giữa hai phân nhóm suy thận mạn giai đoạn IIIa và IIIb (Trang 4)
Bảng 2. Các thông số siêu âm Doppler ở nhóm suy thận mạn giai đoạn III (STM3) - Biến chứng tim trong suy thận mạn giai đoạn III ppt
Bảng 2. Các thông số siêu âm Doppler ở nhóm suy thận mạn giai đoạn III (STM3) (Trang 4)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm