TIỂU LUẬN KINH TẾ HỌC VĨ MÔ Đề tài: Chính sách tiền tệ và tình hình thực hiện chính sách tiền tệ ở Việt Nam từ 2008 đến 2012. Nhận thức của bạn về sự cần thiết của chính sách tiền tệ trong điều hành chính sách kinh tế vĩ mô.
Trang 1Chính sách tiền tệ và tình hình thực hiện chính sách tiền tệ ở Việt Nam từ
2008 đến 2012 Nhận thức của bạn về sự cần thiết của chính sách tiền tệ
trong điều hành chính sách kinh tế vĩ mô
Sinh viên thực hiện:
Mã lớp:
GVHD:
Trang 2Hà Nội, tháng 2/2023
Trang 4MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU 1
NỘI DUNG NGHIÊN CỨU 2
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VẤN VỀ NGHIÊN CỨU 2
1.1 Mục tiêu và công cụ của chính sách tiền tệ 2
1.2 Nguyên tắc điều hành chính sách tiền tệ 3
1.3 Định lượng chính sách tiền tệ 4
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 5
2.1 Chính sách tiền tệ và tình hình thực hiện chính sách tiền tệ năm 2008 5
2.2 Chính sách tiền tệ và tình hình thực hiện chính sách tiền tệ năm 2009 8
2.3 Chính sách tiền tệ và tình hình thực hiện chính sách tiền tệ năm 2010 11
2.4 Chính sách tiền tệ và tình hình thực hiện chính sách tiền tệ năm 2011 14
2.5 Chính sách tiền tệ và tình hình thực hiện chính sách tiền tệ năm 2012 17
CHƯƠNG 3: NHẬN THỨC CỦA BẠN VỀ SỰ CẦN THIẾT CỦA CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ TRONG ĐIỀU HÀNH CHÍNH SÁCH KINH TẾ VĨ MÔ 21
3.1 Tác động của việc điều hành chính sách tiền tệ đến kinh tế vĩ mô 21
3.2 Bảo đảm thực hiện hiệu quả chính sách tiền tệ trong thời gian tiếp theo 22
KẾT LUẬN 23
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 24
Trang 5PHẦN MỞ ĐẦU
Chính sách tiền tệ là một chính sách kinh tế vĩ mô do Ngân hàng trung ương khởithảo và thực thi, thông qua các công cụ, biện pháp của mình nhằm đạt các mục tiêu: ổnđịnh giá trị đồng tiền, tạo công ăn việc làm, tăng trưởng kinh tế Tùy thuộc điều kiệnkinh tế của mỗi quốc gia mà chính sách tiền tệ có thể được xác lập theo hai hướng:
- Chính sách tiền tệ mở rộng (tăng cung tiền, giảm lãi suất để thúc đẩy sản xuấtkinh doanh, giảm thất nghiệp nhưng lạm phát tăng - chính sách tiền tệ chốngthất nghiệp)
- Chính sách tiền tệ thắt chặt (giảm cung tiền, tăng lãi suất làm giảm đầu tư vàosản xuất kinh doanh từ đó làm giảm lạm phát nhưng thất nghiệp tăng chính sáchtiền tệ ổn định giá trị đồng tiền)
Như vậy, chính sách tiền tệ góp phần vào sự thành công hay thất bại của sự pháttriển kinh tế Nhận thức được tầm quan trọng của chính sách tiền tệ đối với sự pháttriển của nền kinh tế nói chung và nền kinh tế Việt Nam nói riêng, trên cơ sở nhữngkiến thức đã được học từ thầy cô và tài liệu tham khảo, với môn học Kinh tế học vĩ
mô, nhóm em xin chọn đề tài “Chính sách tiền tệ và tình hình thực hiện chính sách tiền
tệ ở Việt Nam từ 2008 đến 2012 Nhận thức của bạn về sự cần thiết của chính sách tiền
tệ trong điều hành chính sách kinh tế vĩ mô.” với mong muốn được hiểu cũng như làm
rõ hơn về vấn đề này Nội dung nghiên cứu bao gồm các chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về vấn đề nghiên cứu
Chương 2: Thực trạng của vấn đề nghiên cứu
Chương 3: Nhận thức về sự cần thiết của chính sách tiền tệ trong điều hànhchính sách kinh tế vĩ mô
Về mục đích nghiên cứu: nghiên cứu xem tác động của chính sách tiền tệ đến cácbiến số kinh tế vĩ mô, từ đó đánh giá hiệu quả của chính sách tiền tệ tại Việt Namtrong giai đoạn 2008-2012
Về đối tượng và phạm vi nghiên cứu: đưa ra cơ sở lý luận về chính sách tiền tệ, sựvận dụng chính sách tiền tệ ở Việt Nam từ năm 2008 đến 2012 và đề xuất các nhómgiải pháp nhằm nâng cao chính sách tiền tệ tại Việt Nam trong thời gian tới
Về ý nghĩa khoa học và thực tiễn của vấn đề nghiên cứu: chính sách tiền tệ gópphần vào sự thành công hay thất bại của sự phát triển kinh tế Ở Việt Nam, Chính sách
Trang 6tiền tệ và công cụ của nó đang từng bước hoàn thiện và phát huy tác dụng đối với nềnkinh tế Với đặc điểm của nền kinh tế Việt Nam việc lựa chọn các công cụ nào và sửdụng nó ra sao ở các giai đoạn cụ thể của nền kinh tế luôn là một vấn đề thường xuyênphải quan tâm theo dõi và giải quyết đối với các nhà hoạch định và điều hành chínhsách tiền tệ quốc gia, các nhà nghiên cứu kinh tế Đặc biệt, trong bối cảnh kinh tế trongnước và quốc tế như hiện nay thì việc nghiên cứu về chính sách tiền tệ là một vấn đề
có ý nghĩa lý luận thực tiễn cao Việt Nam xác định mục tiêu tăng trưởng kinh tế công bằng xã hội, vì vậy việc lựa chọn giải pháp để xây dựng và điều hành chính sáchtiền tệ quốc gia có hiệu quả nhất vẫn là một vấn đề khó khăn và phức tạp
Trang 7-NỘI DUNG NGHIÊN CỨUCHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VẤN VỀ NGHIÊN CỨU
1.1 Mục tiêu và công cụ của chính sách tiền tệ
1.1.1 Mục tiêu của chính sách tiền tệ
Để đảm bảo ổn định nền kinh tế, giữ vững sự cân bằng trong tăng trưởng, pháttriển nền kinh tế của các thị trường quan trọng Giữa thị trường hàng hóa và thị trườngtiền tệ luôn phải giữ cân bằng, nếu hai thị trường này không cân bằng nhau, lượng tiềntrong lưu thông lớn hơn (nhỏ hơn) giá trị hàng hóa sẽ xảy ra tình trạng lạm phát (hoặcgiảm phát) Điều này xảy ra sẽ không có lợi cho nền kinh tế Vì vậy, ngân hàng trungương thông qua các công cụ của chính sách tiền tệ trực tiếp hoặc gián tiếp tác động lênlượng cung tiền, nhằm kích thích tăng trưởng kinh tế, giảm tỷ lệ thất nghiệp, giảm lạmphát Ổn định nền kinh tế với:
- Mức sản lượng cân bằng (Y*) bằng mức sản lượng tiềm năng (Yp)
- Thất nghiệp thực tế bằng thất nghiệp tự nhiên
- Lạm phát ở mức vừa phải
1.1.2 Công cụ của chính sách tiền tệ.
- Tỷ lệ dự trữ bắt buộc: là tỷ lệ tối thiểu giữa tiền mặt so với tiền gửi mà ngân
hàng trung ương quy định các ngân hàng thương mại phải thực hiện
- Lãi suất chiết khấu: là lãi suất mà ngân hàng trung ương áp dụng đối với
khoản tiền cho ngân hàng thương mại vay
- Nghiệp vụ thị trường mở: Ngân hàng trung ương thay đổi cơ sở tiền khi thực
hiện việc mua bán chứng từ có giá, chứng khoán trên thị trường mở
✓ Muốn mở rộng tiền tệ: mua chứng từ có giá, chứng khoán trên thịtrường, do đó sẽ đẩy tiền mặt vào lưu thông
✓ Muốn thu hẹp tiền tệ: bán chứng từ có giá, chứng khoán, thu tiền về,giảm lượng tiền mặt trong xã hội
Hai công cụ trên của ngân hàng trung ương làm thay đổi số nhân tiền, còn công
cụ nghiệp vụ thị trường mở làm thay đổi cơ sở tiền
Trang 81.2 Nguyên tắc điều hành chính sách tiền tệ
1.2.1 Trường hợp nền kinh tế hoạt động chưa hết năng lực (Y* < Yp)
Ngân hàng trung ương thực hiện chính sách tiền tệ mở rộng làm tăng lượng
↑MS → i↓ → (C, I, X)↑ → AD↑ → Y↑
1.2.2 Trường hợp nền kinh tế lạm phát cao (Y* > YP)
Ngân hàng trung ương thực hiện chính sách tiền tệ thắt chặt làm giảm lượng
cung tiền bằng cách:
Bán ra chứng từ có giá (chứng khoán)
Tăng tỷ lệ dự trữ bắt buộc
Tăng lãi suất chiết khấu
Cơ chế tác động: ↓MS → i↑ → (C, I, X) ↓ → AD↓ → Y↓
1.3 Định lượng chính sách tiền tệ
Giả định rằng mục tiêu của chính sách tiền tệ thay đổi lượng cung tiền trong nềnkinh tế nhằm đạt được sản lượng tiềm năng (YP) Vấn đề đặt ra là cần điều chỉnhlượng cung tiền một mức là bao nhiêu để sản lượng cân bằng thay đổi một mức (Y) (Y =YP – Y)
Ngân hàng nhà nước điều chỉnh cung tiền một mức MS= h Y m
i m c thì sản lượng cânbằng của nền kinh tế thay đổi một mức (Y)
Trang 9CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU.
2.1 Chính sách tiền tệ và tình hình thực hiện chính sách tiền tệ năm 2008
Bối cảnh kinh tế Việt Nam:
Năm 2008 là năm có nhiều khó khăn và thử thách đối với hoạt động kinh tế.Sau một thời gian dài lạm phát được giữ ở mức một con số thì đến năm 2004 lạm phátlại bùng nổ ở mức cao (9,5%) và đến những tháng cuối của năm 2007, lạm phát đãtăng lên 2 con số và đạt mức 12,6% vào tháng 12/2007 Những tháng tiếp theo củanăm 2008, lạm phát tiếp tục tăng cao, chỉ tính riêng 3 tháng đầu năm 2008, chỉ số CPI
đã tăng là 9,1% (đây là quý có mức tăng cao nhất tính từ năm 1995 trở lại đây) và đãvượt xa chỉ tiêu của Chính phủ đặt ra cho cả năm 2008 là: GDP tăng từ 6,7 – 7% vàgiữ CPI thấp hơn mức này
Hình 1: Biểu đồ tỷ lệ lạm phát hàng năm trong khoảng thời gian 1995 – 2013
2.1.1 Giai đoạn nửa đầu năm 2008
- NHNN Việt Nam quyết định nâng dữ trự bắt buộc đối với các NHTM và quy địnhcác NH mua trái phiếu từ NHNN Kèm với đó là hạn chế tăng trưởng tín dụngnóng bằng việc khống chế ở mức 30% Kèm theo đó là hàng loạt chính sách để hỗtrợ trị trường chứng khoán, hạn chế cho vay với bất động sản
Trang 10- Nửa đầu năm 2008, tình hình kinh tế vĩ mô bắt đầu cho thấy những dấu hiệu đáng
lo ngại của một nền kinh tế đang “quá nóng” với việc tăng giá của thực phẩm, xăngdầu và các hàng hóa cơ bản khác và tổng lượng tiền thừa bị dồn nén từ lâu So vớitháng 12 năm 2007, giá tiêu dùng tăng 17.18% Đặc biệt là lương thực và thựcphẩm có mức tăng vô cùng đáng kể lần lượt là 59.44% và 21.83%
- Để ứng phó với tình hình đó, thực hiện chính sách thắt chặt tiền tệ là mục tiêu hàngđầu:
+ Sử dụng đồng thời ba công cụ lãi suất, dự trữ bắt buộc và thị trường mở
và áp dụng những quy định sết chặt thị trường chứng khoán và bất động sản.+ Thắt chặt cung tiền bằng việc NHNN bán ra hơn 20,000 tỷ đồng các loạitrái phiếu và buộc các NHTM mua vào
+ NHNN liên tục tăng lãi suất cơ bản trong 6 tháng đầu năm
Quyết định Ngày có hiệu lực Lãi suất điều chỉnh
+ Tăng tỷ lệ dự trữ bắt buộc thêm 1%
- Việc sử dụng các công cụ chính sách tiền tệ thắt chặt để giảm cung tiền là vô cùnghợp lý về cả mặt lý thuyết lẫn thực tiễn Sự can thiệp kịp thời đã chặn đứng tỷ lệlạm phát và đẩy lùi từ mức đỉnh là 3.91%/tháng (tương đương 25.2%/năm)
- Chiến dịch lãi suất của các ngân hàng trong thời điểm đó đã để lại những ấn tượngkhó quên, hàng dài người dân đến xếp hàng để có thể gửi tiền Trong vài ngày đó,các ngân hàng đã đẩy lãi suất tiền gửi lên đến 2 con số từ 15%/năm đến 19%/năm,lãi suất vay đạt mức tối đa 21%/năm Với lãi suất cao như vậy, các doanh nghiệpvừa và nhỏ cũng sẽ có thể vay vốn kinh doanh Giá cả chưa xuống thấp vì giá trịđồng tiền tăng nhưng lượng tiền lưu thông giảm xuống đồng thời chi phí vốn lạităng lên càng tạo ra nhiều khó khăn
2.1.2 Giai đoạn nửa sau năm 2008
- Chủ trương cần thiết thời điểm này là giảm tăng trưởng nhằm chống lạm phát
- Sau khi đã kiểm soát được lạm phát, NHNN đã dần dần nới lỏng chính sách tiền tệtuy nhiên lãi suất vẫn đóng vai trò quan trọng LSCB đã hạ dần từ đỉnh 14% xuống
Trang 1113% (vào 21/10/2008), 12% (từ 05/11/2008) và liên tiếp được điều chỉnh tới 3 lầntrong vòng 1 tháng cuối năm 2008 (11% vào 21/11/08, 10% vào 05/12/08, 8,5%vào 22/12/08) Tỷ lệ dự trữ bắt buộc được nới lỏng dần đi kèm với việc điều chỉnhlãi suất dự trữ bắt buộc Các công cụ trên đã tác động mạnh tới thị trường, làm tăngdần mức cung tiền cho nền kinh tế Tăng trưởng tín dụng 2008 đạt ~ 23%, đónggóp và việc ổn định kinh tế vĩ mô.
- Tín phiếu bắt buộc được thanh toán trước hạn, biên độ tỷ giá được nới lỏng từ 2%lên thành 3%
- Giảm tỷ lệ dự trữ bắt buộc từ 10%/năm xuống còn 5%/năm, các loại lãi suất kháccũng được giảm
2.1.4 Các giải pháp điều hành chính sách tiền tệ
- Siết chặt lại các điều kiện được cho vay và khống chế tổng dư nợ cho vay, chiếtkhấu giấy tờ để đầu tư có kinh doanh chứng khoán không được vượt ngưỡng 20%vốn điều lệ của tổ chức tín dụng
- Sử dụng các công cụ của chính sách tiền tệ để điều tiết lượng vốn khả dụng củangân hàng thương mại
Trang 122.2 Chính sách tiền tệ và tình hình thực hiện chính sách tiền tệ năm 2009
2.2.1 Thực trạng và tình hình thực hiện chính sách tiền tệ
2.2.1.1 NHNN đã kịp thời chỉ đạo các ngân hàng thương mại thực hiện chương trình hỗ trợ lãi suất 4%
Chính phủ đã quyết định thực hiện kế hoạch kích cầu thông qua lãi suất và NHNN
có trách nhiệm triển khai nhiệm vụ này Tính đến ngày 24/12/2009, dư nợ cho vay hỗtrợ lãi suất bằng đồng Việt Nam đạt hơn 412 nghìn tỷ đồng
2.2.1.2 Chính sách tiền tệ được điều hành linh hoạt và hiệu quả, góp phần duy trì các chỉ số tiền tệ và kinh tế vĩ mô ở mức hợp lý
NHNN đã điều hành chính sách tiền tệ theo hướng nới lỏng thận trọng, hỗ trợthanh khoản, tạo điều kiện cho các tổ chức tín dụng mở rộng tín dụng hiệu quả Đặcbiệt, NHNN đã quyết tâm thực hiện giữ nguyên lãi suất cơ bản trong 10 tháng (ápdụng 7%/năm từ tháng 2 đến tháng 11/2009)
Kể từ ngày 26/11/2009 Ngân hàng Nhà nước đã điều chỉnh giảm biên độ ấn định
tỷ giá xuống /-3%, đồng thời điều chỉnh tỷ giá bình quân liên ngân hàng áp dụng chongày 26/11/2009 tăng thêm 5,4% so với ngày 25/11/2009
2.2.1.3 Triển khai đồng bộ các giải pháp về điều hành tín dụng nhằm khuyến khích sản xuất và xuất khẩu, đảm bảo ổn định kinh tế vĩ mô và an sinh xã hội
NHNN đã chỉ đạo các tổ chức tín dụng thực hiện các giải pháp về tín dụng và lãisuất để vừa chia sẻ khó khăn với doanh nghiệp, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, vừa bảođảm an toàn hoạt động và ngăn ngừa nguy cơ tái lạm phát…
Trong đó, đáng chú ý là việc thực hiện Nghị quyết số 30a/2008/NQ-CP của Chínhphủ về chương trình hỗ trợ giảm nghèo nhanh và bền vững đối với 62 huyện nghèo
Trang 13Hình 2: Diễn biến lãi suất từ cuối năm 2005 đến cuối năm 2010
2.2.1.4 Hiện đại hoá hoạt động ngân hàng và phát triển thanh toán không dùng tiền mặt
Hiện hệ thống thanh toán điện tử liên ngân hàng giai đoạn II được đưa vào vậnhành từ tháng 11/2008 với khả năng xử lý 2 triệu giao dịch/ngày đã góp phần rất quantrọng tăng cường khả năng cung cấp các dịch vụ thanh toán điện tử hiện đại, tiện íchcao cho xã hội
2.2.1.5 Hạ nhiệt thị trường vàng
Quyết định cho phép nhập khẩu vàng trong thời điểm nhạy cảm đã được xem nhưmột liều thuốc giải nhiệt hiệu quả và kịp thời đối với cơn sốt vàng (trung tuần tháng11/2009) Trước đó, hoạt động nhập khẩu vàng đã bị tạm ngừng một năm rưỡi
2.2.1.6 Tăng cường hoạt động đối ngoại, chủ động hội nhập kinh tế quốc
tế, nâng cao vị thế của nước ta trên trường quốc tế
Năm 2009, NHNN đã chủ trì đàm phán với các tổ chức tài chính, tiền tệ quốc tếnhư Ngân hàng Thế giới (WB), Ngân hàng Phát triển Châu Á (ADB), Quỹ tiền tệ quốc
tế (IMF)… thực hiện nhiều chương trình, dự án về phát triển kinh tế- xã hội
Đặc biệt, sự kiện Thống đốc NHNN được toàn thể Thống đốc các nước thành viênIMF/WB bầu giữ chức Chủ tịch Hội đồng Thống đốc IMF/WB nhiệm kỳ 2008-2009cho thấy sự ghi nhận và đánh giá cao của cộng đồng tài chính tiền tệ quốc tế đối vớinhững thành tựu mà Việt Nam đã đạt được trong công cuộc phát triển kinh tế xã hội
2.2.1.7 Đẩy mạnh công tác cải cách hành chính
NHNN đã hoàn thành việc thống kê và công bố Bộ thủ tục hành chính thuộc phạm
vi, chức năng quản lý của NHNN, và là đơn vị hoàn thành sớm nhất giai đoạn 1 - giaiđoạn rà soát và thống kê tất cả các thủ tục hành chính thuộc lĩnh vực hoạt động ngânhàng, đảm bảo đúng yêu cầu và có chất lượng Hiện nay, NHNN tiếp tục tập trung ràsoát các thủ tục hành chính còn lại để đề xuất đơn giản hoá tối thiểu 30% các quy định
về thủ tục hành chính theo đúng yêu cầu của Thủ tướng Chính phủ
2.2.1.8 Hoàn thiện thể chế về tiền tệ và thành lập các cơ quan đủ mạnh để thực hiện chức năng, nhiệm vụ của NHNN
Thực hiện chương trình xây dựng Luật, pháp lệnh năm 2009 của Quốc hội, NHNN
đã hoàn thiện dự thảo Luật Ngân hàng Nhà nước và Luật Các tổ chức tín dụng (sửa
Trang 14đổi) Năm 2010, NHNN sẽ tập trung hoàn thiện 2 dự thảo Luật trên để trình Quốc hộithông qua, đồng thời xây dựng các văn bản hướng dẫn để có thể áp dụng ngay sau khiLuật có hiệu lực thi hành.
2.2.1.9 Điều hành hệ thống ngân hàng thương mại đứng vững
Năm 2009, trong khi có tới trên 140 ngân hàng tại Mỹ bị “sập tiệm”, các vụ bê bốitài chính trên thế giới xuất hiện, thì tại Việt Nam, hệ thống ngân hàng mặc dù cònnhiều khó khăn nhưng đã đứng vững, vượt qua khủng hoảng và tiếp tục phát triển
2.2.1.10 Xử lý các tin đồn trên thị trường tài chính - tiền tệ
Năm 2009 cũng là năm nhiều tin đồn tấn công vào thị trường tài chính - tiền tệ.NHNN đã kịp thời lên tiếng, minh bạch thông tin, ổn định thị trường
2.2.2 Những hạn chế và một số giải pháp
2.2.2.1 Hạn chế, nguy cơ
Tốc độ tăng trưởng GDP còn thấp; tình trạng nhập siêu và thâm hụt cán cân thanh
toán chậm được cải thiện; mức thâm hụt ngân sách cao; lạm phát có nguy cơ tăng dogiá cả một số mặt hàng nhất là nguyên nhiên liệu đầu vào đang tăng và sẽ tiếp tục tăngkhi kinh tế hồi phục
Về lĩnh vực tài chính tiền tệ, cuộc đua lãi suất của các NHTM đang có xu hướngnóng dần lên, một số NHTM bắt đầu gặp khó khăn về thanh khoản; Tăng trưởng tíndụng có dấu hiệu “nóng”; Tình trang khan hiếm ngoại tệ chưa được giải quyết triệt để,
tỷ giá ngoại tệ còn diễn biến phức tạp
=> Như vậy, có thể thấy nền kinh tế Việt Nam đã tạm qua giai đoạn suy giảm vàđang bắt đầu hồi phục với không ít khó khăn và nhiều nguy cơ đòi hỏi phải những nhàhoạch định chính sách tiền tệ phải đối mặt để ngăn chặn
2.2.2.2 Một số giải pháp
- Ngoại trừ điều kiện bất khả kháng, nên tiếp tục duy trì lãi suất cơ bản như thời gianqua
- Nên xem xét thu hẹp phạm vi hỗ trợ lãi suất, tiến tời dừng thực hiện hỗ trợ lãi suất
- Các NHTM cần phối hợp chặt chẽ và tăng cường đồng thuận
- Nên tăng cường cơ chế thông tin đại chúng về các vấn đề liên quan đến chính sáchtiền tệ