Định lượng β hCG huyết thanh, ở ngưỡng ≥ 700 mUI/ml, siêu âm buồng tử cung rỗng, phần phụ có khối nên soi ổ bụng SOB để chẩn đoán sớm CNTC.. Nếu β hCG tăng < 66% hoặc giảm nhẹ, siêu âm
Trang 1Nghiên cứu một số yếu tố chẩn đoán sớm
chửa ngoài tử cung
Vương Tiến Hoà
Bộ môn Phụ Sản Đại học Y Hà Nội
Nghiên cứu theo phương pháp cắt ngang mô tả 120 bệnh nhân nghi ngờ chửa ngoài tử cung (CNTC) được điều trị tại Khoa Phụ 1, Viện Bảo vệ bà mẹ và trẻ sơ sinh từ 1-1999
đến 11-2000 100 trường hợp được chẩn đoán đúng chiếm 83,3% Dấu hiệu ra huyết bất thường, đặc biệt những người ra huyết sớm hay đúng ngày so với ngày kinh dự kiến, khí hư bẩn, lẫn máu là dấu hiệu gợi ý rất có giá trị Chỉ có 65% đau nhẹ hạ vị sau đó khu trú lại bên có khối thai Phần phụ có đám nề hay khối ấn đau là dấu hiệu lâm sàng có giá trị
Định lượng β hCG huyết thanh, ở ngưỡng ≥ 700 mUI/ml, siêu âm buồng tử cung rỗng,
phần phụ có khối nên soi ổ bụng (SOB) để chẩn đoán sớm CNTC Nếu còn nghi ngờ thì phải định lượng β hCG trong huyết thanh sau 48 giờ Nếu β hCG tăng < 66% hoặc giảm nhẹ, siêu âm không có túi thai trong buồng tử cung phải SOB để chẩn đoán sớm CNTC
i Đặt vấn đề
Chửa ngoài tử cung (CNTC) hiện nay
đang là một vấn đề lớn của chăm sóc sức
khỏe sinh sản trong cộng đồng bởi sự gia
tăng về tần suất và là một trong những
nguyên nhân gây tử vong mẹ do chảy
máu Phát hiện sớm CNTC cho phép chọn
lọc các phương pháp can thiệp với những
tổn thương tối thiểu, bảo tồn được vòi tử
cung, hạn chế viêm dính vùng tiểu khung
sau mổ, tạo điều kiện thuận lợi cho việc
điều trị vô sinh trong tương lai, thời gian
nằm viện ngắn sẽ tiết kiệm về kinh tế Vì
vậy chúng tôi tiến hành nghiên cứu này với
mục tiêu:
Xác định những triệu chứng lâm sàng
và giá trị của định lượng β hCG (human
Chorionic Gonadotrophine) trong huyết
thanh, siêu âm, soi ổ bụng để chẩn đoán
sớm CNTC
ii Đối tượng và phương pháp
nghiên cứu
CNTC được gọi là chẩn đoán sớm khi
khối thai chưa vỡ hoặc rỉ máu nhưng khối
lượng máu trong ổ bụng không quá 50ml
120 bệnh nhân nghi ngờ CNTC điều trị tại Khoa Phụ I, Viện Bảo vệ Bà mẹ và trẻ sơ sinh mà hiện nay được gọi là Bệnh viện Phụ Sản Trung ương (BVPSTƯ) từ 1-1999
đến 11-2000, được thực hiện theo phương
pháp mô tả: khám lâm sàng, định lượng β
hCG trong huyết thanh và siêu âm đầu dò
đường âm đạo Nếu nồng độ β hCG trong huyết thanh ≥ 700 mUI/ml mà không có túi thai trong tử cung, bệnh nhân được soi ổ bụng (SOB) Nếu nồng độ β hCG trong huyết thanh < 700 mUI / ml nhưng hình
ảnh siêu âm nghi ngờ là CNTC thì bệnh nhân cũng được soi ổ bụng Nếu chưa rõ,
48 giờ sau lấy máu lần thứ hai để định lượng β hCG, đồng thời siêu âm lại bằng
đầu dò âm đạo Nếu β hCG tăng < 66 %
so với nồng độ lần xét nghiệm trước và vẫn không thấy túi thai trong tử cung, bệnh nhân sẽ được SOB
Trang 2Cỡ mẫu tính theo công thức n =
2
)
2
/
1
(
d
q
p
z ư α được 117 và làm tròn 120
Xử lý số liệu theo chương trình
EPI-INFO.6, test χ 2 được sử dụng để tính toán
cho các biến với giá trị P ở ngưỡng 0,05,
tính độ nhạy (ĐN), độ đặc hiệu (ĐĐH), giá
trị tiên đoán dương tính (GTTĐDT), giá trị
tiên đoán âm tính (GTTĐÂT), OR
iii Kết quả
Với 120 bệnh nhân theo tiêu chuẩn trên, tỷ lệ chẩn đoán đúng của chúng tôi là
100 chiếm 83,33% và 16 trường hợp không phải CNTC (KCNTC) chiếm 16,67%
1 Thời điểm ra huyết
Bảng 1 Ra huyết bất thường so với ngày kinh dự kiến
Sớm Đúng ngày Chậm Không nhớ Chẩn đoán
Sự khác biệt giữa hai nhóm có ý nghĩa thống kê với P < 0,01 và OR = 10,45
Bảng 2 Tình trạng ra huyết ở âm đạo
Có Không Chẩn đoán
ĐN: 76,6 %; ĐĐH: 50 % GTTĐDT: 92,0% GTTĐAT: 40,0% So sánh với nhóm
KCNTC khác nhau có ý nghĩa với P < 0,01, OR = 7,6
2 Có huyết ở âm đạo
Bảng 3 Thăm trong có huyết ở âm đạo
Chẩn đoán
CNTC (100) 75 75 25 25 100 100
KCNTC (20) 11 55 9 45 20 100
ĐN: 75/86 = 87,2 % ĐĐH: 9/34 = 26,5 % GTTĐDT: 75 /100 = 75,0% GTTĐAT: 9/34 =
26,5% OR = 2,45; P > 0,05 Huyết âm đạo bao gồm dịch, khí hư đen lẫn máu, máu đen
hoặc đỏ, hoặc lẫn chất nhầy
3 Triệu chứng đau bụng
Bảng 4 Triệu chứng đau bụng
Chẩn đoán
CNTC (100) 65 65 34 34 1 1
KCNTC (20) 9 45 11 55 0 0
Trang 3ĐN: 65/74 = 87,8 %; ĐĐH:11/45 = 24,4 % GTTĐDT: 65/99 = 65,6% GTTĐAT: 11/20 =
5,5% OR = 2,34, P < 0,05
4 Tình trạng tử cung và phần phụ
Tình trạng tử cung: Nhóm CNTC có 28/100 tử cung to hơn bình thường và nhóm
KPCNTC là 8/20 Triệu chứng tử cung to hơn bình thường có các giá trị chẩn đoán
ĐN:77,7 % ĐĐH: 40,0 % p > 0,05 OR = 0,58
Bảng 5 Tình trạng phần phụ
Có khối hoặc đám nề Bình thường Tổng Chẩn đoán
CNTC (100) 90 90 10 10 100 100
KCNTC (20) 14 70 6 30 20 100
Dấu hiệu có khối, đám nề ở phần phụ giữa hai nhóm khác nhau có ý nghĩa thống kê với
P < 0,05, OR = 3,86 và ĐN: 86,5% ĐĐH: 37,5% GTTĐDT: 90% GTTĐDT:70,0%
5 Tình trạng cùng đồ Douglas
Khám lâm sàng cùng Douglas cảm giác có dịch, đầy, đau hoặc không đau
Bảng 6 Tình trạng cùng đồ Douglas
Chẩn đoán
CNTC (100) 19 19 81 81 100 100
KCNTC (20) 4 20 16 80 20 100
ĐN: 82,6 % ĐĐH: 16,5% GTTĐDT: 19 % GTTĐDT: 69,5% Dấu hiệu cùng đồ đau có
độ nhạy cao nhưng độ đặc hiệu và GTTĐDT quá thấp vì khi có dấu hiệu này là đã chảy
máu nhiều không còn là CNTC sớm nữa (P > 0,05) và (OR = 0,94)
6 Kết quả xét nghiệm β hCG
Kết quả định lượng β hCG huyết thanh rất phân tán vì phân bố rời rạc Độ lệch chuẩn
nhóm CNTC cao hơn số trung bình, với p > 0,05 nên so sánh giữa các các trị số không có
ý nghĩa thống kê Tại các điểm cắt 500, 700, 1000 (mUI/ml), có các giá trị chẩn đoán như
sau:
Bảng 7 So sánh tại 3 điểm cắt
Điểm cắt ĐN ĐĐH GTTĐDT GTTĐAT OR p
≥ 700 53 75 91,3 75 3,38 < 0,05
< 1000 63 50 86,3 50 1,7 > 0,05
Sau khi so sánh các kết quả chúng tôi
nhận thấy ở điểm cắt 700 mIU/ml là có giá
trị nhất cả về lý thuyết lẫn thực tế lâm sàng Với điểm cắt này có độ nhạy là 53 %
Trang 4và giá trị tiên đoán dương tính là 91,3%,
OR = 3,3 với P < 0,05
Có 20 trường hợp được xét nghiệm β
hCG sau 48 giờ: chỉ có 1 trường hợp tăng
gấp đôi (108,3%) sau 48 giờ, nhưng khi soi
đúng là CNTC Vì số lượng quá ít chúng tôi
không rút ra nhận xét có giá trị Tuy nhiên
so với tổng thể là 1% CNTC có biểu hiện
về β hCG giống như thai trong tử cung
Các trường hợp còn lại đều tăng hay giảm
không theo qui luật của thai trong tử cung
Có 01 trường hợp thai trong tử cung nhưng
tỷ lệ tăng sau 48 giờ chỉ có 31,17% Như
vậy số trường hợp thai trong tử cung nhưng
biểu hiện giống như CNTC là 1/11 chiếm
9% Có 3 trường hợp giảm theo qui luật
thời gian bán huỷ từ 24 đến 30 giờ Cả 3
trường hợp này là sau HĐHKN Có 1%
CNTC có tỷ lệ tăng gấp đôi giống thai
trong tử cung
7 Kết quả siêu âm
Bảng 8 Các giá trị chẩn đoán hình ảnh
siêu âm buồng tử cung
Buồng tử cung CNTC KCNTC
Không rỗng 7 7
Tổng số 100 20
ĐN: 93%; ĐĐH: 35,0% GTTĐDT:
87,7% GTCĐAT:50,0%,
Buồng tử được mô tả rỗng (không có túi
thai hoặc dịch ứ đọng trong buồng tử cung)
hay không rỗng So sánh giữa 2 nhóm, sự khác nhau có ý nghĩa thống kê với p < 0,05
và OR = 7,1
8 Hình ảnh siêu âm phần phụ
Bảng 9 Các giá trị chẩn đoán hình ảnh siêu âm phần phụ có khối
Siêu âm phần phụ CNTC KCNTC
Tổng
số
Có khối 72 12 84 Không có khối 28 8 3 Tổng số 100 20 120
ĐN: 72%; ĐĐH: 40,0%; GTTĐDT:
85,7%; GTCĐAT: 21,0% không có ý nghiã
thống kê (với P > 0,05); OR = 1,7 vì khối ở phần phụ có thể là khối thai nhưng cũng
có thể là nang hoàng thể hoặc là nang bọc noãn hay chính là buồng trứng cho nên phải mô tả hình ảnh có tính chất đặc hiệu của CNTC điển hình nhất là hình chiếc
nhẫn có một vòng
Những hình ảnh đặc hiệu bao gồm: hình nhẫn, khối có âm vang không đồng nhất vì
máu cục lẫn tổ chức rau thai bong ra và
đọng lại hoặc là một khối có vỏ dày do phản ứng của VTC không điển hình, còn thưa âm vang là do máu rỉ ra và đọng lại
Hình ảnh không đặc hiệu là những khối có
vỏ mỏng, âm vang thuần nhất thì có nghĩa
là đơn thuần chỉ có dịch, mà giống như
nang noãn đặc biệt là nang hoàng thể
Bảng 10 Giá trị chẩn đoán của các hình ảnh đặc hiệu trên siêu âm
CNTC (n = 72) KCNTC (n = 12) Hình ảnh
Hình ảnh đặc hiệu 56 77,7 4 33,3
Hình ảnh không đặc hiệu 16 22,3 8 66,7
ĐN: 56/72 = 77,6%,ĐĐH: 8/12 = 66,7%, GTTĐDT: 56/72 = 93%
Trang 59 Hình ảnh dịch cùng đồ
Bảng 11 Giá trị chẩn đoán của hỉnh ảnh siêu âm cùng đồ có dịch
Siêu âm cùng đồ CNTC KCNTC Tổng số
ĐN: 31%, ĐĐH: 75% GTTĐDT: 86,1%;
GTTĐDT: 15/84 = 17,9% Sự khác biệt của
hai nhóm không có ý nghĩa với P > 0,05 và
OR = 1,35
Cả 120 trường hợp đều được SOB
nhưng có 4 trường hợp phải chuyển
sang mổ mở vì vào ổ bụng dính nhiều
nên không tìm được khối thai Tất cả
đều tốt, không có tai biến
10 Tình trạng máu trong ổ bụng
Nhóm CNTC: Chỉ có 19% CNTC hoàn
toàn chưa rỉ máu Số có máu là 81chiếm
81% Nhóm KCNTC: không có trường hợp
nào có máu Lượng máu trung bình trong ổ
bụng: 0 ml = 19; ≥ 10 ml = 10; ≥ 20 - 30 ml
= 40; > 30 - 50 ml = 31
11 Số ngày chờ SOB và nằm viện
Số ngày chờ soi ổ bụng: 3,75 ± 2,81;
Số ngày nằm viện: 6,54 ± 2,3 Nếu bệnh
nhân được xét nghiệm β hCG và siêu âm
cùng ngày vào viện, ra viện sau khi soi ổ
bụng 24 giờ thì số ngày trung bình để chờ
SOB là 1,28 ± 0,69 và số ngày trung bình
nằm viện sẽ là 3,3 ± 0,71, với p < 0,05
iv Bàn luận
1 Dấu hiệu cơ năng:
- Ra huyết bất thường bao gồm ra huyết
trước hoặc đúng hoặc là chậm so với ngày
dự kiến hành kinh mà trước đây thường gọi
là rối loạn kinh nguyệt nhưng không giống
như hành kinh bình thường
- Có 36/98 (chiếm 37,7%) bệnh nhân ở nhóm CNTC ra máu trước hoặc đúng ngày
dự kiến so với 1/19 (chiếm 5%) của nhóm KCNTC Tỷ lệ ra huyết trước và đúng ngày
so với ngày dự kiến có kinh của nhóm CNTC cao hơn rất nhiều so với nhóm
KCNTC Tần suất bị CNTC của những người ra huyết trước hoặc đúng ngày dự kiến gấp 10,45 lần so với những người chỉ
chậm kinh đơn thuần (OR = 10,45) và sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với P < 0,01
- Tần suất mắc bệnh của những người
ra huyết gấp 7,6 lần so với người không ra huyết
- Triệu chứng đau bụng: chỉ có 65%
trường hợp thường đau âm ỉ vùng hạ vị sau
đó lệch về bên có khối thai Không có ai
đau dữ dội hoặc đau lan nhiều xuống dưới hay mót đi ngoài, vì đó là dấu hiệu CNTC
đã rõ ràng Tần suất bị CNTC của những người có đau bụng gấp 2,34 lần so với người không đau bụng Đau âm ỉ và mơ hồ
ở hạ vị rồi khu trú một bên có khối thai So sánh giữa hai nhóm có ý nghĩa thống kê
với p < 0,05
Về cơ năng, triệu chứng ra huyết bất thường so với ngày kinh dự kiến và đau hạ
vị là hai triệu chứng có giá trị bởi độ nhạy, giá trị tiên doán dương tính cũng như tần suất bị bệnh cao và sự khác nhau giữa hai nhóm có ý nghĩa thống kê với p < 0,05
Trang 62 Khám lâm sàng:
Dấu hiệu tử cung to hơn bình thường
không có giá trị vì thai còn bé, tử cung
chưa to và phụ thuộc vào chủ quan người
khám Có khối hoặc đám nề ở phần phụ có
giá trị cao nhất trong chẩn đoán với độ
nhạy là 86,5% và giá trị tiên đoán dương
tính tới 90% có tỷ suất chênh là 4,1 với p <
0,05 Như vậy dấu hiệu lâm sàng có giá trị:
Ra huyết bất thường Đau bụng vùng hạ vị
Có khối hoặc đám nề ở phần phụ Đó là
những dấu hiệu lâm sàng quan trọng nhất
để gợi ý chẩn đoán sớm CNTC đặc biệt là
dấu hiệu ra huyết bất thường và khối hoặc
đám nề ở phần phụ Dấu hiệu này phù hợp
với các nghiên cứu khác [1,4]
3 Định lượng β hCG huyết thanh
Kết quả định lượng β hCG huyết thanh
rất phân tán vì phân bố rời rạc Độ lệch
chuẩn nhóm CNTC cao hơn số trung bình,
với P > 0,05 nên so sánh giữa các trị số
không có ý nghĩa thống kê Nhóm CNTC
có β hCG huyết thanh với giá trị trung vị
thấp hơn rất nhiều so với nhóm không phải
CNTC (673,24 và 1.178,77 xấp xỉ bằng
1/2) Có 20 trường hợp được xét nghiệm β
hCG lần thứ hai, sau 48 giờ so với lần thứ
nhất So sánh kết quả giữa CNTC và
KCNTC có p > 0,05, không có ý nghĩa
thống kê Độ lệch chuẩn của cả hai nhóm
gấp đôi hoặc gần bằng trị số của nồng độ
trung bình nên không có giá trị trên lâm
sàng Sau khi so sánh các kết quả chúng
tôi nhận thấy ở điểm cắt 700 mIU/ml là có
giá trị nhất cả về lý thuyết lẫn thực tế lâm
sàng Với điểm cắt này có độ nhạy là 53 %
và giá trị tiên đoán dương tính là 91,3%,
OR = 3,3 với P < 0,05 Chỉ có 1% CNTC
có tỷ lệ tăng gấp đôi giống thai trong tử
cung, 9% thai trong tử cung tỷ lệ tăng
giống như CNTC Bản thân β hCG huyết
thanh chỉ có tính chất gợi ý chứ không phải quyết định mà phải kết hợp với siêu âm [2,5,6,8]
4 Hình ảnh siêu âm:
- Những người không có túi thai trong tử cung bị CNTC gấp 5,6 lần so với những người có túi thai hay có dịch trong buồng
tử cung Hình ảnh siêu âm không có túi thai trong tử cung có lẽ có giá trị nhất trong chẩn đoán CNTC vì chiếm tới 93% các trường hợp nhưng phải kết hợp với ngưỡng phân biệt của β hCG Những hình ảnh khối
ở phần phụ được mô tả điển hình của CNTC phải biệt lập với buồng trứng, được xác định từ góc của tử cung và nằm trên VTC mới có giá trị để chẩn đoán Tuy nhiên cũng không được quên rằng: có một
tỷ lệ nhỏ chửa tại buồng trứng thì cũng có hình ảnh đặc hiệu nếu quan sát kỹ Vì vậy phải kết hợp với lượng β hCG huyết thanh, buồng tử cung rỗng để quyết định soi ổ
bụng Chúng tôi cho rằng: trong những trường hợp không thấy khối biệt lập với buồng trứng nhưng lại có nhiều nang nhỏ ở buồng trứng thì nồng độ βhCG sẽ quyết
định cho chẩn đoán Hình ảnh dịch cùng
đồ không có giá trị vì khi đã có dịch nghĩa
là đã muộn
5 Soi ổ bụng
Chỉ có 4 trường hợp phải chuyển mổ mở vì quá dính không thấy khối thai Không có tai biến xảy ra Thời gian trung bình nằm viện đã rút ngắn rất nhiều phù hợp với các nghiên cứu khác [1,4,9]
v Kết luận
- Những dấu hiệu ra huyết sớm hoặc
đúng ngày so với ngày kinh dự kiến, huyết
ra giỏ giọt, thấm khăn vệ sinh hoặc khí hư
đen bẩn có giá trị gợi ý sớm CNTC Chỉ có 65% các trường hợp có đau bụng và đau nhẹ, mơ hồ ở hạ vị rồi lệch về bên có khối
Trang 7thai Phần phụ có đám nề (dấu hiệu viêm
phần phụ) hoặc khối mềm ấn đau là dấu
hiệu
- Nồng độ β hCG huyết thanh ở ngưỡng
700 mUI/ml có giá trị để kết hợp với các
dấu hiệu lâm sàng và siêu âm để SOB
- Buồng tử cung rỗng ở ngưỡng β hCG
huyết thanh 700 mUI/ml, siêu âm có khối ở
phần phụ cần SOB để chẩn đoán sớm
CNTC
- Những trường hợp chưa rõ cần định
lượng β hCG huyết thanh sau 48 giờ Nếu
tăng hoặc giảm không theo qui luật nên
SOB
Tài liệu tham khảo
1 Vương Tiến Hoà (1996), "Nhận xét
202 trường hợp chửa ngoài tử cung được
chẩn đoán sớm ", Kỷ yếu công trình NKCH
Trường Đại học Y Hà Nội, Hà Nội 5, 49-58
2 Vương Tiến Hoà, Dương Thị Lưu,
Nguyễn Xuân Hợi (2001) Thông báo kết
quả bước đầu nghiên cứu β hCG trong
chửa ngoài tử cung Tạp chí y học thực
hành, Hà Nội (3), 52
3 Vương Tiến Hoà, (1996), "Giá trị
của phương pháp soi ổ bụng trong chẩn
đoán chửa ngoài tử cung", Kỷ yếu công
trình nghiên cứu khoa học, Trường Đại học
Y Hà Nội., Hà Nội 5, tr 42-48
4 Đỗ Thị Ngọc Lan, Đặng Minh Nguyệt, Nguyễn Đức Hinh (12/1999), "Một
số nhận xét về chẩn đoán và xử trí chửa ngoài tử cung bằng phẫu thuật nội soi",
Tạp chí thông tin y dược, Số chuyên đề
Sản Phụ khoa, Viện thông tin thư viện y học trung ương, Hà Nội
5 Braunstein D HCG testing (1996),
"A clinical guide for the testing of Human chorionic gonadotropin", Tài liệu hướng dẫn sử dụng kit định lượng bêta hCG của ABOTT Laboratories
6 Cacciarore B., Stenman U Ylostalo P (1990), "Diagnosis of ectopic pregnancy ultrasonography in combination with a discriminatory serum hCG level of
1000 IU/l (IRP) ", Brist J Obstet Gynecol
97, 904-908
7 Romeo R (1988), "The value of adnexa sonography findings in the
diagnosis of ectopic pregnancy" Am J Obste Gynecol 155, 52-55
8 Berthet J., Racinet C (1998), "La coelioscopie diagnostique de la grosesse extra-utérine Grosesse extra-utérine Doin Editeurs Paris 152-160
Summary
Study of factors which attributed of early
diagnsis of ectopic pregnancy
A cross-sectional study of 120 cases in order early diagnoses of ectopic pregnancy The abnormal hemorrhagic such as early or in time the date of expected menstrual, the vaginal charge attained mixes blood were the singes values for diagnosis There were
65% cases have complained presented a pain in hypogastric then located at the iliac hole which presented the ectopic pregnancy No amniotic sac in uterine cavity at the threshold
of serum β hCG ≥ 700 mUI/ml and presenting a mass in annex, it should be laparoscopy
to early diagnostic ectopic pregnancy