1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

NGHIÊN CỨU SO SÁNH CÁC YẾU TỐ NGUY CƠ TRẺ SUY DINH DƯỠNG VỚI TRẺ CÓ TÌNH TRẠNG DƯỠNG TỐT Ở XÃ TÂN LẬP ĐAN PHƯỢNG HÀ TÂY pptx

5 569 1
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 5
Dung lượng 258,27 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nghiên cứu so sánh các yếu tố nguy cơ trẻ suy dinh dưỡng với trẻ có tình trạng dinh dưỡng tốt ở x∙ Tân Lập Đan Phượng Hà Tây Phạm Duy Tường Khoa Y tế công cộng - Đại học Y Hà Nội Ngh

Trang 1

Nghiên cứu so sánh các yếu tố nguy cơ trẻ suy dinh dưỡng với trẻ có tình trạng dinh dưỡng tốt

ở x∙ Tân Lập Đan Phượng Hà Tây

Phạm Duy Tường

Khoa Y tế công cộng - Đại học Y Hà Nội

Nghiên cứu Case- Cotrol được áp dụng so sánh các yếu tố nguy cơ trẻ suy dinh dưỡng với trẻ

có tình trạng dinh dưỡng tốt ở xã Tân Lập, Đan Phượng, Hà Tây Mẫu nghiên cứu với 73 trẻ bị suy dinh dưỡng và 146 trẻ có tình trạng dinh dưỡng tốt dưới 5 tuổi Kết quả cho thấy

Các yếu tố nguy cơ cao ở trẻ suy dinh dưỡng rơi vào các hộ gia đình bị thiếu lương thực trong năm trên 2 tháng gấp 3 lần so với trẻ có tình trạng dinh dưỡng tốt (OR= 3,2) Những gia đình không

có phương tiện truyền thông đặc biệt là ti vi, gia đình đông con trên 2 trẻ là những yếu tố nguy cơ gián tiếp tác động tới việc chăm sóc và nuôi dưỡng trẻ với (OR >3)

Những trẻ khi mẹ sinh ra có cân nặng thấp có nguy cơ rơi vào tình trạng suy dinh dưỡng nhiều hơn gấp 8,8 lần trẻ sinh ra bình thường (OR là 8,8), trẻ cho bú muộn sau sinh cũng là yếu tố nguy cơ cao để trẻ rơi vào suy dinh dưỡng với (OR=6,6)

I Đặt vấn đề

Thiếu dinh dưỡng protein - năng lượng ở

nước ta vẫn còn là vấn đề sức khoẻ có ý nghĩa

cộng đồng Cùng với những tiến bộ về kinh tế,

chăm sóc sức khoẻ và và chăm sóc dinh dưỡng

ở nước ta có những tiến bộ rõ rệt, tuy nhiên tỷ

lệ suy dinh dưỡng hiện nay vẫn còn cao

Một vấn đề đặt ra là những yếu tố nguy cơ

nào để cho những đứa trẻ sống trên cùng một

cộng đồng lại rơi vào tình trạng thiếu dinh

dưỡng và có trẻ lại có tình trạng dinh dưỡng tốt

Những nghiên cứu về dịch tễ học về tình trạng

suy dinh dưỡng trên những trẻ suy dinh dưỡng

đã được đề cập nhiều [1,2,3] và chỉ ra những

nguyên nhân trực tiếp dẫn tới trẻ rơi vào tình

trạng suy dinh dưỡng Các nghiên cứu đều đưa

ra những nguyên nhân chung là thiếu kiến thức

nuôi dưỡng trẻ, điều kiện vệ sinh môi trường

kém, các bệnh nhiễm trùng và kí sinh trùng và

đặc biệt là đói nghèo, kinh tế chậm phát triển

Để có được những can thiệp phòng chống

suy dinh dưỡng có hiệu quả việc xác định các

yếu tố nguy cơ và các yếu tố liên quan trên cơ

sở phân tích đối chứng ở cùng điều kiện kinh tế xã hội là rất cần thiết

Nghiên cứu so sánh xác định các yếu tố nguy cơ giữa một nhóm trẻ có tình trạng dinh dưỡng tốt và trẻ bị suy dinh dưỡng nhằm mục

đích sau:

- So sánh những yếu tố nguy cơ ở điều kiện kinh tế hộ gia đình ở nhóm trẻ có tình trạng dinh dưỡng tốt và suy dinh dưỡng

- Xác định những yếu tố nguy cơ kiến thức thực hành nuôi dưỡng ở hai nhóm trẻ suy dinh dưỡng và tình trạng dinh dưỡng tốt

II Đối tượng và phương pháp nghiên cứu

1 Đối tượng:

Nghiên cứu được tiến hành trên 73 cặp mẹ

và con bị suy dinh dưỡng và 146 cặp mẹ con dưới 5 tuổi có tình trạng dinh dưỡng tốt Tổng

số 219 cặp mẹ con được đưa vào mẫu nghiên cứu so sánh

Trang 2

2 Phương pháp:

Nghiên cứu tiến hành theo phương pháp

Case-control, với tiêu chuẩn ghép cặp trẻ đối

chứng có tình trạng dinh dưỡng tốt với trẻ suy

dinh dưỡng độ II và III, có cùng tháng tuổi và

cùng giới, sống gần nhà Xác định và phân loại

tình trạng dinh dưỡng dựa vào chỉ tiêu cân nặng

theo tuổi với thang phân loại của WHO 19981

[8] Các yếu tố nguy cơ được xác định bằng bộ câu hỏi phỏng vấn trực tiếp các bà mẹ

Số liệu được xử lý trên phần mềm Epi-info 6.04, tính p, χ2,,OR

III Kết quả

1 So sánh các yếu tố nguy cơ ở điều kiện kinh tế gia đình của trẻ

Bảng 1 Các yếu tố về hộ gia đình

Nhóm trẻ SD D n=73

Nhóm trẻ chúng n=146

P (χ2) OR

Nghề nghiệp của me

Làm ruộng

Buôn bán

Cán bộ công nhân viên

64

5

4

87,6 6,8 5,6

117

14

15

80,1 9,6 10,3

>0,05

>0,05

>0,05

-

-

- Trình độ văn hoá của mẹ

Cấp I Cấp II

Cấp III

Cao đẳng, đại học

2

55

13

3

2,7 75,4 17,8 4,1

3

114

22

7

2,0 78,1 15,1 4,8

>0,05

>0,05

>0,05

>0,05

-

-

-

- Nhà ở mái bằng,mái ngói 73 100 146 100 >0,01 - Nguồn nước ăn giếng khoan 73 100 146 100 >0,01 - Phương tiện nghe nhìn

Có đài

Có ti vi

43

27

59,0 37,0

104

93

71,2 63,6

>0,05

<0,01

- 2,9 Thiếu lương thực >2 tháng 9 12,3 6 4,1 <0,01 3,3

Số con trong gia đình

1- 2 con

>2con

61

12

83,6 16,4

141

5

97,2 2,7

>0,05

<0,01

- 3,5

Kết quả trên cho thấy ở hộ gia đình rơi vào

tình trạng thiếu lương thực trong năm trên 2

tháng đó là yếu tố nguy cơ dẫn tới trẻ dễ rơi

vào tình trạng suy dinh dưỡng với OR= 3,2,

điều này nói lên rằng những gia đình khi có

tình trạng thiếu lương thực, trẻ dưới 5 tuổi

trong gia đình đó có khả năng bị suy dinh

dưỡng gấp hơn 3 lần những trẻ ở gia đình có

lương thực đủ ăn trong năm Trong khi đó

những yếu tố như nghề nghiệp của mẹ, trình độ văn hoá, điều kiện nhà ở, cung cấp nước ở Tân Lập đã được đảm bảo không còn là yếu tố nguy cơ tới tình trạng dinh dưỡng của trẻ dưới 5 tuổi Những gia đình không có phương tiện truyền thông đặc biệt là ti vi, gia đình đông con trên 2 trẻ là những yếu tố nguy cơ gián tiếp tác động tới việc chăm sóc và nuôi dưỡng trẻ với OR >3

Trang 3

2 Những yếu tố nguy cơ liên quan tới chăm sóc và nuôi dưỡng trẻ

Bảng 2: Những yếu tố nguy cơ trong chăm sóc nuôi dưỡng trẻ

Nhóm trẻ SDD n=73

Nhóm trẻ chúng n=146

n % n %

P (χ2) OR

Cân nặng khi sinh dưới 2500 g 8 8,3 2 1,4 0<0,01 8,8 Cho con bú sau sinh sau 30 phút 43 59 26 17,9 <0,01 6,6 Cho uống nước quả sau sinh 58 79,4 119 81,5 >0,05 0,9 Cho trẻ ăn trước 4 tháng tuổi 10 13,6 18 12,3 >0,05 1,1 Thức ăn bổ sung không đủ 4 nhóm

thức ăn

55 75,4 96 65,8 >0,05 1,6

Mẹ bận không có thời gian chăm

sóc con

35 52,1 21 14,3 >0,01 5,4

Kết quả trên cho thấy những trẻ khi mẹ sinh

ra có cân nặng thấp dưới 2500g có nguy cơ rơi

vào tình trạng suy dinh dưỡng với OR là 8,8,

với tỷ xuất chênh này cho thấy khi cân nặng sơ

sinh thấp nguy cơ trẻ vẫn tiếp tục rơi vào tình

trạng suy dinh dưỡng nhiều hơn gấp 8,8 lần trẻ

sinh ra bình thường Trẻ cho bú muộn sau sinh

cũng là yếu tố nguy cơ đối với trẻ OR=6,6 và

người mẹ ít có thời gian chăm sóc con là yếu tố

nguy cơ để trẻ rơi vào tình trạng bị suy dinh

dưỡng với OR=5,4 Khi cho trẻ ăn bổ sung không đủ 4 nhóm thức ăn tuy chưa thấy khác nhau có ý nghĩa nhưng tỷ xuất chênh cho thấy

ở trẻ suy dinh dưỡng chịu nguy cơ này cao hơn 1,6 lần so với trẻ có tình trạng dinh dưỡng tốt Những yếu tố như cho trẻ sau sinh uống nước quả, cho trẻ ăn bổ sung sớm trước bốn tháng tuổi chưa thấy khác nhau có ý nghĩa, với tỷ xuất chênh OR xung quanh 1

3 Nguy cơ mắc tiêu chảy và nhiễm khuẩn hô hấp

Bảng 3 Tiêu chảy và nhiễm khuẩn hô hấp

n=73

Nhóm trẻ chúng n=146

P (χ2) OR Viêm đường hô hấp cấp 35 48,0 52 35,6 >0,05 1,6

Kết quả so sánh hai yếu tố viêm đường hô

hấp cấp và tiêu chảy trong hai tuần ở hai nhóm

trẻ bị suy dinh dưỡng và dinh dưỡng tốt chưa

thấy sự khác biệt có ý nghĩa thống kê Nhưng ở

viêm đường hô hấp tỷ lệ mắc trong hai tuần qua

đối với trẻ bị suy dinh dưỡng tới 48% còn dinh

dưỡng tốt là 35%, tỷ xuất chênh giữa 2 nhóm là

1,6 như vậy khi trẻ bị viêm đường hô hấp là

yếu tố nguy cơ dẫn tới suy dinh dưỡng tới 1,6

lần Tỷ lệ tiêu chảy ở hai nhóm đều thấp dưới 10% và chênh lệch giữa nhóm trẻ suy dinh dưỡng và nhóm có tình trạng dinh dưỡng tốt với OR là 1,3

IV Bàn luận Những nghiên cứu về dịch tễ học đã chỉ ra nhiều nguyên nhân trực tiếp và gián tiếp dẫn

đến trẻ bị dưới 5 tuổi bị suy dinh dưỡng, với

Trang 4

nguyên nhân hàng đầu là đói nghèo và thiếu

kiến thức nuôi dưỡng, các nguyên nhân khẩu

phần không đầy đủ cả về lượng và chất kèm

theo đó là bệnh nhiễm trùng Nghiên cứu so

sánh các yếu tố nguy cơ ở trẻ suy dinh dưỡng

và trẻ có tình trạng dinh dưỡng tốt ở kết quả

trên đã đưa ra cách nhìn sát thực hơn ở cộng

đồng Trong điều kiện cộng đồng đã có những

tiến bộ về kinh tế và dịch vụ chăm sóc sức khoẻ

và việc cung cấp nước sạch thì các yếu tố nguy

cơ dẫn tới trẻ bị suy dinh dưỡng có những thay

đổi [1,5]

Kết quả so sánh yếu tố nguy cơ của điều

kiện hộ gia đình, tình trạng thiếu lương thực

trong năm trên 2 tháng, trẻ dưới 5 tuổi trong

gia đình đó có khả năng bị suy dinh dưỡng gấp

hơn 3 lần những trẻ ở gia đình có lương thực đủ

ăn trong năm Trong khi đó những yếu tố như

nghề nghiệp của mẹ, trình độ văn hoá, điều

kiện nhà ở, cung cấp nước ở Tân Lập đã được

đảm bảo không còn là yếu tố nguy cơ tới tình

trạng dinh dưỡng của trẻ dưới 5 tuổi Những gia

đình không có phương tiện truyền thông đặc

biệt là ti vi, gia đình đông con trên 2 trẻ là

những yếu tố nguy cơ gián tiếp tác động tới

việc chăm sóc và nuôi dưỡng trẻ các yếu tố này

đều có OR >3 Theo Viện Chiến lược và chính

sách Dinh dưỡng Quốc tế (IFPRI, 2/2000) khi

chỉ số nước sạch được cải thiện thường gắn liền

với dịch vụ chăm sóc y tế được cải thiện Một

khi chỉ số sử dụng nước sạch được cải thiện thì

các nguyên nhân trực tiếp của SDD sẽ giảm đi,

tình hình vệ sinh được cải thiện [5,6] Kết quả

của chúng tôi cũng cho thấy ở Tân Lập 100%

hộ gia đình nghiên cứu sử dụng nước giếng

khoan, tỷ lệ tiêu chảy ở cả hai nhóm đều thấp

dưới 10% và không có sự khác nhau có ý

nghĩa So sánh yếu tố nguy cơ giữa hai nhóm ở

tiêu chảy chỉ chênh nhau ít OR=1,3 Điều này

cũng nhận thấy với viêm đường hô hấp cấp

chênh lệch tỷ lệ trẻ mắc ở hai nhóm cũng thấp

và khác nhau không có ý nghĩa với OR =1,6

Cân nặng sơ sinh thấp là một nguy cơ có tỷ

xuất chênh cao, trẻ suy dinh dưỡng khi sinh có

cân nặng thấp dưới 2500g có nguy cơ rơi vào tình trạng suy dinh dưỡng với OR là 8,8 Nghiên cứu của Nguyễn Thị Ngọc Phượng và

Cs về suy dinh dưỡng bào thai và ảnh hưởng tới

sự phát triển của trẻ dưới 60 tháng tuổi cũng có nhận xét, trẻ suy dinh dưỡng bào thai hiện bị suy dinh dưỡng so với trẻ sinh ra bình thường là hơn gấp hai lần [ 3,4]

Trẻ cho bú muộn sau sinh cũng là yếu tố nguy cơ đối với trẻ OR=6,6 và người mẹ ít có thời gian chăm sóc con là yếu tố nguy cơ để trẻ rơi vào tình trạng bị suy dinh dưỡng với OR=5,4 Khi cho trẻ ăn bổ sung không đủ 4 nhóm thức ăn tuy chưa thấy khác nhau chưa có

ý nghĩa nhưng tỷ xuất chênh cho thấy ở trẻ không ăn đủ 4 nhóm thức ăn thì nguy cơ bị suy dinh dưỡng là 1,6 lần so với trẻ có tình trạng dinh dưỡng tốt Những yếu tố như cho trẻ uống nước quả sau sinh, cho trẻ ăn bổ sung sớm trước bốn tháng tuổi chưa thấy khác nhau có ý nghĩa, với tỷ xuất chênh OR xung quanh 1 Kế quả của chúng tôi cũng phù hợp với một số tác giả cho rằng chỉ có môi liên quan gián tiếp về sản xuất lương thực phẩm thấp, thực hành cho

bú và ăn bổ sung, chăm sóc phụ nữ và gánh nặng công việc của bà mẹ không có thời gian chăm sóc con [7]

V Kết luận Các yếu tố nguy cơ cao ở trẻ dưới 5 tuổi rơi vào tình trạng suy dinh dưỡng ở hộ gia đình thiếu lương thực trong năm trên 2 tháng gấp 3 lần (OR= 3,2) Những gia đình không có phương tiện truyền thông đặc biệt là ti vi, gia

đình đông con trên 2 trẻ là những yếu tố nguy cơ gián tiếp tác động tới việc chăm sóc và nuôi dưỡng trẻ với (OR >3)

Những trẻ khi mẹ sinh ra có cân nặng thấp

có nguy cơ rơi vào tình trạng suy dinh dưỡng nhiều hơn gấp 8,8 lần trẻ sinh ra bình thường (OR là 8,8), trẻ cho bú muộn sau sinh cũng là yếu tố nguy cơ cao để trẻ rơi vào suy dinh dưỡng với (OR=6,6)

Trang 5

Tài liệu tham khảo

1 Huy Khôi (2000): Thực trạng và giải

pháp phòng chống suy dinh dưỡng trẻ em Một

số công trình nghiên cứu về dinh dưỡng và vệ

sinh an toàn thực phẩm, NXBYH- Hà Nội, tr

44-50

2 Huy Khôi (1996) Tổng quan tình hình

dinh dưỡng ở Việt Nam Tình hình dinh dưỡng

và chiến lược hành động ở Việt Nam, NXBYH-

Hà Nội, 1996,tr 1-8

3 Nguyễn Thị Ngọc Phượng (2000): Suy

dinh dưỡng bào thai và ảnh hưởng của suy dinh

dưỡng bào thai lên sự phát triển của trẻ dưới 60

tháng tuổi tại huyện Củ Chi Một số công trình

nghiên cứu về dinh dưỡng và vệ sinh an toàn

thực phẩm, NXBYH- Hà Nội, tr 216-229

4 Hoàng Văn Tiến Các yếu tố ảnh hưởng

đến trẻ sơ sinh thấp cân ở huyện Sóc Sơn -Hà

Nội Luận án thạc sĩ dinh dưỡng cộng đồng, Trường đại học Y Hà Nội, 1998

Lisa C.Smith and Lawrence Haddad Overcoming Child malnutrition in developing Countries Past achievements and future choices International Food policy Research Institute, Washington DC,2/2000

UNICEF The state of worlds children 2000, UNICEF New York, NY, USA

SCN News (1999) Adequate food: A human right, UNSFN 11-20

WHO (1983), Measuring change in Nutrition Status

Summary

The comparing study on risk factors of malnutrition

children with well nutritional children

Case control study has been applied to compare risk factors of malnutrition children with well nutritional children in Tan Lap, Dan Phuong, HaTay A sample with 73 malnutrition children and

146 well nutritional children had designed in the study The results showed that:

The high-risk factors in malnutrition group is that their households have food shorted two months in a year is 3 times multiply compare with well nutritional group Other factors such as the households have not mass media (forexample television), number of children in the family more than two that are indirect factors effected on feeding course and children care (OR>3)

In the study, the results also pointed that malnutrition children with low birth weight had highgest risk factor more than 8 times compaire to well nutritional children (OR=8,8) The otherwise, the late breastfeeding after born is also high risk factor to cause malnutrition children (OR=6,6)

Ngày đăng: 02/04/2014, 22:21

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1.  Các yếu tố về hộ gia đình. - NGHIÊN CỨU SO SÁNH CÁC YẾU TỐ NGUY CƠ TRẺ SUY DINH DƯỠNG VỚI TRẺ CÓ TÌNH TRẠNG DƯỠNG TỐT Ở XÃ TÂN LẬP ĐAN PHƯỢNG HÀ TÂY pptx
Bảng 1. Các yếu tố về hộ gia đình (Trang 2)
Bảng 2: Những yếu tố nguy cơ trong chăm sóc nuôi d−ỡng trẻ - NGHIÊN CỨU SO SÁNH CÁC YẾU TỐ NGUY CƠ TRẺ SUY DINH DƯỠNG VỚI TRẺ CÓ TÌNH TRẠNG DƯỠNG TỐT Ở XÃ TÂN LẬP ĐAN PHƯỢNG HÀ TÂY pptx
Bảng 2 Những yếu tố nguy cơ trong chăm sóc nuôi d−ỡng trẻ (Trang 3)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w