Huyết áp tâm thu HATT và huyết áp tâm trươngHATr đều giảm rõ rệt so với điều trị tăng huyết áp THA bằng Aldomet phối hợp với Hydralazin p0,05; lượng urê máu giảm xuống có ý nghĩa p... TC
Trang 1TCNCYH 22 (2) - 2003
Sử dụng Amlodipin điều trị tăng huyết áp
trong nhiễm độc thai nghén
Ngô Văn Tài
Bộ môn Phụ sản- Đại học Y Hà Nội
Kết quả điều trị tăng huyết áp trong bệnh lý nhiễm độc thai nghén (NĐTN) bằng Amlodipin ở 61 thai phụ được biểu hiện như sau: tỷ lệ thành công ở 54/61 thai phụ (88,52%) Huyết áp tâm thu (HATT) và huyết áp tâm trương(HATr) đều giảm rõ rệt so với điều trị tăng huyết áp (THA) bằng Aldomet phối hợp với Hydralazin (p<0,05) Không có các biểu hiện suy gan và suy thận; không làm tăng glucose huyết thanh và cholesterol toàn phần của máu; lượng créatinin máu giảm không có ý nghĩa (p>0,05); lượng urê máu giảm xuống có ý nghĩa (p<0,05) Đối với thai nhi: Chỉ số Apgar chấp nhận được; không có biểu hiện quái thai và thai chết lưu trong tử cung Kết luận: Amlodipin là thuốc
được sử dụng tốt để điều trị tăng huyết áp trong nhiễm độc thai nghén
I Đặt vấn đề
Trong thực hành lâm sàng, đã có nhiều loại
thuốc hạ huyết áp được sử dụng để điều trị triệu
chứng tăng huyết áp (THA) trong thời kỳ có
thai như các thuốc thuộc nhóm hủy giao cảm
(aldomet), thuốc giãn mạch trực tiếp
(hydralazin) hoặc thuốc kích thích receptor α2
của giao cảm trung ương (clonidin)
Amlodipin (Amlor) là thuốc chẹn kênh calci
thuộc thế hệ thứ hai của phân nhóm
Dihydropiridin Amlor được chỉ định điều trị
triệu chứng tăng huyết áp trong thời kỳ có thai
khi mà tình trạng của thai phụ không đáp ứng
với các loại thuốc hạ áp khác và quyền lợi của
người mẹ được các nhà sản khoa cân nhắc và
ưu tiên hơn quyền lợi của thai nhi trong nghiên
cứu này, chúng tôi sử dụng Amlodipin cho
những thai phụ THA trong bệnh lý nhiễm độc
thai nghén khi mà trước đó, họ không đáp ứng
với các thuốc hạ áp Hydralazin và Aldomet
Mục đích nghiên cứu:
- Xác định tác dụng hạ huyết áp của Amlor
ở những thai phụ bị NĐTN
- Tìm hiểu những tác dụng khác của Amlor
đối với thai phụ và thai nhi
II Đối tượng và phương pháp nghiên cứu
1 Đối tượng nghiên cứu:
Những thai phụ bị tăng HA trong bệnh lý NĐTN ở thể trung bình và thể nặng (HAtâm thu lớn hơn hoặc bằng150 mmHg; HA tâm trương lớn hơn hoặc bằng 100 mmHg) mà trước đó họ đã được điều trị bằng hai loại thuốc Aldomet và Hydralazin trong một tuần nhưng HATT không hạ xuống dưới mức 150 mmHg
và HATTr không hạ xuống dưới hoặc bằng 100 mmHg
2 Phương pháp nghiên cứu:
- Đây là phương pháp thử nghiệm lâm sàng mở; có so sánh tự thân người bệnh bởi 2 loại thuốc được sử dụng
- Liều lượng thuốc: vì trước khi sử dụng Amlor, thai phụ đã được điều trị 1 tuần bằng Aldomet (1g/ngày) phối hợp với Hydralazin (100 mg/ngày) nhưng HATT và HATTr không hạ xuống như đã nêu ở phần đối tượng nghiên cứu, cho nên chúng tôi sử dụng liều khởi đầu là 5mg Amlodipin/ngày Nếu khống chế HATT ở mức thấp hơn 150mmHg và HATTr thấp hơn
100 mmHg thì tiếp tục duy trì liều như vậy Nếu con số HA không xuống được ở mức trên thì tăng liều lên 10 mg/ngày (liều tối đa của Amlor)
Trang 2TCNCYH 22 (2) - 2003
- Đối với thai phụ: Theo dõi HA tối thiểu 3
lần trong ngày (vào các buổi sáng, trưa và buổi
chiều) và theo dõi những tác dụng phụ của
Amlodipin trong thời gian điều trị
- Cách đánh giá kết quả: sau khi điều trị,
nếu HA hạ xuống là thuốc có tác dụng; nếu HA
không thay đổi hoặc tăng lên là thuốc không có
tác dụng Mức Glucose huyết thanh >
6,5mmol/L lúc thai phụ đói là có tăng đường
huyết Nếu lương crêatinin huyết thanh > 106
àmol/L là có suy thận Mức cholesterol huyết
thanh toàn phần ≥ 6 mmol/L là có tăng
cholesterol
- Đối với thai nhi: theo dõi monitoring sản
khoa để phát hiện những bất thường về tim thai
và cơn co tử cung Sử dụng siêu âm để phát
hiện những bất thường về chỉ số ối, Doppler
động mạch rốn, ước lượng trọng lượng thai
nhi sau khi đẻ, thai nhi được theo dõi:
+ Chỉ số Apgar
+ Tử vong chu sinh
+ Dị dạng
+ Cân nặng thai nhi
3 Xử lý số liệu: theo chương trình phần
mềm EPI-INFO 6.0 So sánh sự khác biệt giữa
các kết quả bằng thử nghiệm χ2 với độ tin cậy
p <0,05
Vấn đề đạo đức trong nghiên cứu: Phải được
bệnh nhân đồng ý và chấp nhận dùng thuốc
1 Tỷ lệ thành công:
+Tổng số thai phụ được sử dụng thuốc là 61
người
+ Số thai phụ không đáp ứng với điều trị là
7 người
+Tỷ lệ thành công là : 88,51%
2 Tuổi của thai phụ:
+ Người cao tuổi nhất là 44 tuổi
+ Người thấp tuổi nhất là 24 tuổi
+ Tuổi trung bình của thai phụ là 32,11 ±
6,16 tuổi
3 Số lần mang thai (con so, con rạ)
(bảng 1)
Con so, con rạ Số lượng Tỷ Lệ %
Tỷ lệ con rạ nhiều hơn con so
4 Tuổi thai (bảng 2)
Tuổi thai Số lượng Tỷ lệ %
5 Kết quả điều trị THA bằng Amlodipin
(bảng 3)
HA (mmHg)
Trước
điều trị
Sau
điều trị
Số HA hạ
% hạ
HA
HATT 160,27
±1,37
130,16
± 1,4
30,11 18,78
±1,03
80,54
±1,09
20,02 19,90
6 Kết quả điều trị THA bằng Aldomet kết hợp với Hydralazin (bảng 4)
HA (mmHg)
Trước
điều trị
Sau
điều trị
Số HA hạ
% hạ
HA
HATT 160,27
±1,31
150,61
±0,6
9,66 6,26
±1,033
90,98
±0,94
9,58 9,52
Nhận xét: từ bảng 3 và bảng 4 chúng tôi nhận thấy khi điều trị bằng Amlodipin, con số
HA hạ xuống ở cả HATT và HATTr; cụ thể là 18,78% cho HATT và 19,90 cho HATTr Trong khi điều trị bằng Aldomet phối hợp với Hydralazin thì tỷ lệ này chỉ đạt 6,02% cho HATT và 9,52% cho HATTr Nếu so sánh giữa hai phương pháp điều trị thì sự khác nhau có ý nghĩa thống kê (p < 0,05)
Trang 3TCNCYH 22 (2) - 2003
7 Một số thay đổi hóa sinh sau khi điều
trị tăng HA bằng Amlodipin (bảng 5)
Các xét nghiệm Trước
điều trị
Sau
điều trị
P
Protein niệu g/l 2,86 ±2 1,44 ±1 <0,01
±7,54
57,7
±6,40
>0,05
U rê máu
(mmol/l
4,68 ± 1,94
3,98 ± 1,42
<
0,05 Crêatinin máu
61,77 ± 16,00
>0,05
17,03
22,83 ± 16,02
>0,05
15
17,04 ± 13,35
>
0,05 Tiểu cầu /mm3
máu
0,05 Cholesterol toàn
phần (àmol/l)
4,32 ± 0,42
4,14 ± 0,43
>
0,05 Gluccose máu
(mmol/l)
4,67 ± 0,61
4,55 ± 0,58
>0,05
Axit uric
(àmol/l)
341 ±
125
228
±102
>
0,05
Nhận xét: sau điều trị, lượng protein niệu
giảm đi có ý nghĩa (p <0,01) Lượng u rê huyết
thanh, cũng giảm đi có ý nghĩa (p<0,05); lượng
tiểu cầu tăng lên có ý nghĩa thống kê (p <0,05)
Các xét mghiệm về protid huyết thanh,
crêatinin, SGOT, SGPT và cholesterol toàn
phần huyết thanh, Glucose và Acid uric huyết
thanh thay đổi không có ý nghĩa thống kê
(p>0,05)
8 Những tác dụng không mong muốn đối với thai phụ (bảng 6)
Các triệu chứng Tỷ lệ %
Nôn 0
Nhận xét: những tác dụng phụ không mong muốn thường gặp nhất là đau đầu (15%), chóng mặt (12%), cơn đỏ bừng mặt (6 %) Không có trường hợp nào bị tim nhịp nhanh và hạ huyết
áp ở tư thế đứng sau khi dùng thuốc
9 Cân nặng trẻ sơ sinh (bảng 7)
Tuổi thai Số trẻ Số trẻ < 2500 g %
Từ 38 tuần trở lên
Nhận xét: có tới 92% bà mẹ có tuổi thai dưới 37 tuần có trọng lượng thai nhi dưới 2500
g và 25% bà mẹ có tuổi thai từ tuần thứ 38 có trọng lượng thai nhi dưới 2500g Nếu tính chung cho toàn bộ sản phụ thì số trẻ có trọng lượng thai dưới 2500g là 32/61chiếm tỷ lệ 52,45%
10 Tỷ lệ tử vong chu sinh và dị dạng của thai nhi
+ Có 6/61 sơ sinh tử vong sau đẻ (9,8%)
Những trường hợp này đều có tuổi thai dưới 34 tuần và trọng lượng thai nhi dưới 1600 g
Không có trường hợp nào thai nhi chết lưu trong tử cung
11 Chỉ số Apgar của trẻ sơ sinh (bảng 8)
Điểm
Trang 4TCNCYH 22 (2) - 2003
IV .Bàn luận
1 Về tác dụng hạ áp của Amlodipin
trong bệnh lý NĐTN:
Trong nghiên cứu của chúng tôi (n=61) có
7 trường hợp thất bại (11,47%) Tất cả những
trường hợp này đều ở thể lâm sàng rất nặng,
không đáp ứng với thuốc hạ áp và tình trạng
của người bệnh không cho phép kéo dài thời
gian điều trị, phải đình chỉ thai nghén để cứu
mẹ Mặt khác, việc theo dõi thai nhi bằng các
phương tiện như siêu âm, monitoring sản
khoa ở những thai nhi đủ tháng hoặc gần đủ
tháng và trọng lượng thai có thể sống được cũng cần đình chỉ thai nghén để cứu con Những trường hợp còn lại , Amlodipin đều
có tác dụng hạ huyết áp rõ rệt cả HATT và HATTr đạt được ở mức mong muốn trong việc
điều trị hạ huyết áp của bệnh lý NĐTN Nếu so sánh với hai loại thuốc Aldomet và Hydralazin
mà bệnh nhân được điều trị trước đó thì con số huyết áp được giảm xuống rất có ý nghĩa (p<0,05) So sánh kết quả nghiên cứu của chúng tôi với một số tác giả khác như sau [5-7-8]:
n=61
ZIDEK [7]
n=37
AJAYI [5]
n=20
HORWITZ [8] n=62
Qua bảng này cho thấy con số hạ áp trong
nghiên cứu của chúng tôi có cao hơn so với một
số tác giả khác Có lẽ trong điều trị NĐTN,
chúng tôi có sử dụng thuốc Séduxen và Sulfat
Magiê là hai loại thuốc không thể thiếu trong
điều trị NĐTN Vì vậy, đã làm tăng tác dụng hạ
áp của Amlodipin (!) Nhưng điều cần bàn luận
ở đây là với cùng một điều kiện như nhau
(cùng một sản phụ, cùng được điều trị phối hợp
với Sêduxen và Sulfat Magiê nhưng Amlodipin
có tác dụng hạ áp hơn hẳn so với Aldomet và
Hydralazin (bảng 4)
2 Về tác dụng của Amlodipin lên chức
năng gan và thận
Qua bảng 5 cho thấy Amlodipin không làm
tăng hay giảm lượng Glucose máu, không gây
suy thận và không làm tăng choleserol toàn
phần huyết thanh Kết quả nghiên cứu của
chúng tôi tương tự như kết quả nghiên cứu của
Nguyễn Thành Nam [2] Tuy nhiên, một số
bệnh nhân nặng khi nhập viện đã có biểu hiện
suy thận hoặc suy gan thì sau khi điều trị bằng Amlodipin, lượng SGOT và SGPT cũng thuyên giảm Điều này chứng tỏ rằng Amlodipin không gây ảnh hưởng xấu tới chức năng của gan và thận Nhận xét này phù hợp với nhận
định của HORWITZ [8]
3 Về những tác dụng không mong muốn của Amlodipin
Tác dụng ngoài ý nặng nề nhất cho thai phụ
là đau đầu và chóng mặt, không có trường hợp nào bị hạ huyết áp ở tư thế đứng Chúng tôi cho rằng rất khó phân biệt các triệu chứng đau đầu
và chóng mắt ở những bệnh nhân bị NĐTN với tác dụng phụ của Amlodopin Tuy nhiên, một
số tác giả cũng thông báo có một tỷ lệ bệnh nhân bị đau đầu và chóng mặt hoặc có cơn đỏ bừng mặt khi điều trị hạ áp bằng Amlodipin nhưng không phải dừng thuốc [2]
4 Đối với trẻ sơ sinh
Chỉ số Apgar khi đẻ cho thấy chỉ có 7 trường hợp có chỉ số Apgar dưới 7 điểm ở phút
Trang 5TCNCYH 22 (2) - 2003
thứ nhất cần hồi sức tích cực; những trẻ này
đều là con của những sản phụ bị NĐTN ở thể
lâm sàng rất nặng và trọng lượng của thai nhi
đều ở dưới 1600 g; trong số này có 4 trẻ tử
vong ở giai đoạn chu sinh Số trẻ còn lại đều
phát triển bình thường
V Kết luận
Dựa trên những kết quả nghiên cứu khi sử
dụng Amlodipin điều trị tăng huyết áp cho
những thai phụ bị NĐTN chúng tôi có một số
kết luận sau:
1 Về hiệu quả của Amlodipin điều trị tăng
huyết áp trong bệnh lý NĐTN:
Amlodipin có tác dụng hạ áp cả tâm thu và
tâm trương, đạt được yêu cầu của điều trị là đưa
huyết áp trở về mức cho phép Trong NĐTN
thể trung bình và thể nặng, sử dụng Amlodipin
thuận lợi hơn và công hiệu hơn so với Aldomet
và Hydralazin do thời gian bán hủy của
Amlodipin kéo dài (từ 35 đến 40 giờ)
2 Amlodipin không gây rối loạn chức năng
gan và thận
3 Amlodipin không làm thay đổi lượng
Glucose huyết thanh và lượng cholestérol toàn
phần huyết thanh nhưng làm giảm u rê huyết
thanh
4 Amlodipin có thể gây ra một số tác dụng
phụ như đau đầu, chóng mặt nhưng những tác
dụng phụ này đều nhẹ và tự khỏi
Tài liệu tham khảo
1 Phạm Tử Dương (1999): Thuốc tim mạch Nhà xuất bản Y học 69-85 và 241-300
2 Nguyễn Thành Nam (1999): Góp phần nghiên cứu tác dụng của Amlodipin trong điều trị tăng huyết áp nhẹ và vừa Luận văn tốt nghiệp Bác sĩ chuyên khoa cấp II Hà Nội
3 Đào Văn Phan (1998): Thuốc chữa tăng huyết áp Dược lý học.Nhà xuất bảnY học 357-359
4 Vidal Việt Nam (2000) Nhà xuất bản OVP -33, Avenue de Wagram 75854 PARIS Cédex 17 30-31
5 Ajayi A A et al (1995): The efficacy and Tolerability of amlodipin and hydrochlothiazide in Nigerians with essntial hypertension J Nath Med Assoc
87 (7); 485-8 1995 Jul
6 Winifred G (1993): Amlodipine - Springer- Verlag Berlin Heidelberg
7 Zidek Wet al (1995): Comparison of the efficacy and safety of nifedipine Coat-core versus amlodipinein the treament of patients with mild to moderate essntial hypertension Hypertension study group Clin ther; 117 (4): 686-700 Jul-Aug
8 Horwitz et al (1997): Comparison of amlodipine and long - acting ditiazem in the treatment of mild or moderate hypertension
Am J Hypertension, 10 (11): 1263-0 Nov Résumé
Traitement de l'hypertension dans la toxémie
gravidique Lés résultats du traitement de l'hypertension artérielle dans la toxémie gravidique par Amlodipin chez 61 malades font ressortir: La pression artérielle systolique et la pression artérielle dyastolique sont diminués distinctement par rapport le traitement de l'hypertension artérielle gravidique par Aldomet et hydralazin (p<0,05) Il n'y a pas d'insuffisance rénale Le taux de créatinine sanguine,
de glucose sanguine et de cholestérole totale ne sont pas modifiés , losque le taux d'uré sanguine a
été diminué Absence d'effet tératogène et foetus mort in - utéro Conclusion: Amlodipin est un
médicament bon pour traiter l'hypertension artérielle dans la toxémie gravidique