Nghiên cứu ảnh hưởng của điện châm huyệt Nội quan lên ngưỡng đau và phản xạ Hoffmann ở người trưởng thành bình thường tuổi từ 19 đến 44 Bùi Mỹ Hạnh , Phạm Thị Minh Đức Bộ môn Sinh lý
Trang 1Nghiên cứu ảnh hưởng của điện châm huyệt Nội quan lên ngưỡng đau và phản xạ Hoffmann ở người
trưởng thành bình thường tuổi từ 19 đến 44
Bùi Mỹ Hạnh , Phạm Thị Minh Đức
Bộ môn Sinh lý học - Trường Đại học Y Hà Nội Nghiên cứu được tiến hành trên các đối tượng là người bình thường từ 19 - 44 tuổi Ngưỡng đau được đo trên 60 đối tượng (gồm 30 nam và 30 nữ ), 30 nam được ghi phản xạ Hoffmann (H) để đánh giá biên độ và thời gian tiềm tàng của sóng H dưới tác dụng của điện châm huyệt Nội quan hai bên Chế độ kích thích lên huyệt đều là 2Hz, 4-5 Voltz Kết quả cho thấy: (1) Điện châm huyệt Nội quan làm tăng ngưỡng đau ở cả nam
và nữ (p<0,01) (2) Sau điện châm mức độ tăng ngưỡng đau ở nữ cao hơn so với mức tăng ở nam (p<0,05) (3) Điện châm huyệt Nội quan có tác dụng ức chế phản xạ H thông qua việc làm giảm biên độ sóng H và kéo dài thời gian tiềm tàng của sóng này (p<0,05) Những kết quả thu được cho thấy cơ chế giảm đau do điện châm có thể liên quan đến vai trò của hệ thống thần kinh trong cơ thể
I Đặt vấn đề
Điện châm để giảm đau là một phương
pháp cổ truyền đã được áp dụng từ nhiều
thế kỷ nay Năm 1960, ca phẫu thuật cắt
phổi đầu tiên sử dụng gây mê bằng điện
châm được thực hiện thành công tại Bệnh
viện Nhân dân Thượng Hải - Trung Quốc
(trích theo [8]) Từ đó đến nay, không riêng
các bệnh viện ở Trung Quốc mà nhiều
nước khác trong đó có Việt Nam đã sử
dụng điện châm như một trong những
phương pháp vô cảm có hiệu quả trong
một số loại phẫu thuật Việc nghiên cứu về
cơ chế giảm đau của châm cứu, châm
giảm đau và châm tê phẫu thuật là một
trong những hướng nghiên cứu sớm nhất
và nhiều nhất để góp phần giải thích cơ chế
tác dụng của châm cứu Mô hình thực
nghiệm khi nghiên cứu về vấn đề này
thường xuất phát từ những nghiên cứu về
thay đổi ngưỡng cảm giác đau, về các cung
phản xạ, đặc biệt là định lượng các chất
giảm đau nội sinh ở huyết thanh, dịch não
tuỷ và trong các cấu trúc thần kinh tham gia
vào hệ thống giảm đau nội sinh của cơ thể
như chất xám quanh cống Sylvius, nhân Raphe, nhân Arcuate, vùng vách Các phương pháp đã và đang được sử dụng để tìm hiểu tác dụng của điện châm giảm đau là: đo ngưỡng cảm giác đau, tiêm các chất
đánh dấu để tìm mối liên quan giữa huyệt
đường kinh với những đường dẫn truyền thần kinh và cấu trúc thần kinh trung ương, thăm dò một số phản xạ đơn synap và định lượng những chất được xem là có liên quan
đến cơ chế giảm đau như beta - endorphin, enkephalin, dynorphin, acetylcholin, serotonin , xác định độ bộc lộ gen của các chất này ngay trong các cấu trúc thần kinh trung ương [8], [9], [10] Trên lâm sàng, Nội quan là một trong số những huyệt hay được
sử dụng để điều trị các bệnh có liên quan
đến đau, gần đây đã có nhiều công trình nghiên cứu điện châm huyệt Nội quan phối hợp với một số huyệt khác như Hợp cốc, ế phong, Túc tam lý, Tam âm giao để gây tê giảm đau trong các phẫu thuật phần trên của cơ thể như phẫu thuật vùng đầu, mặt,
cổ, ngực, bụng thay cho việc gây mê bằng thuốc [1], [2], [7] Tuy nhiên, muốn tìm hiểu tác dụng giảm đau của từng huyệt thì rất
Trang 2cần có những mô hình nghiên cứu riêng về
từng huyệt Kết quả thu được không những
góp phần làm sáng tỏ tác dụng giảm đau
của từng huyệt mà còn giúp các nhà lâm
sàng có thể chọn một phác đồ châm tê sao
cho số lượng huyệt là ít nhất nhưng cho
hiệu quả cao nhất Xuất phát từ nhận định
này chúng tôi tiến hành đề tài nghiên cứu
“ảnh hưởng của điện châm huyệt Nội quan
lên ngưỡng cảm giác đau và phản xạ
Hoffmann " với mục tiêu:
1 Đánh giá tác dụng của điện châm
huyệt Nội quan lên ngưỡng cảm giác đau
2 Xác định ảnh hưởng của điện
châm huyệt Nội quan lên các chỉ số của
sóng H
II Đối tượng và phương pháp
nghiên cứu
1 Đối tượng nghiên cứu
- 60 đối tượng gồm 30 nam và 30 nữ
bình thường tuổi từ 19-44 được nghiên
cứu về ngưỡng cảm giác đau khi điện
châm huyệt Nội quan
- 30 nam được nghiên cứu về phản xạ H
2 Các chỉ số nghiên cứu
- Ngưỡng cảm giác đau (g/s)
- Hệ số giảm đau
- Thời gian tiềm tàng của sóng H (ms)
- Điện thế sóng H (mV)
2.3 Phương pháp nghiên cứu
3.1 Xác định vị trí huyệt Nội quan
Huyệt Nội quan được xác định theo
cách lấy thốn của Đông y (huyệt nằm trên
nếp gấp cổ tay 2 thốn, giữa cơ gan tay
lớn và gan tay bé), sau đó dùng máy
Neurometer RB - Type 68 để xác định lại
vị trí huyệt Nguyên lý của máy đơn giản
có cường độ dòng điện cao hơn hẳn so với vùng da xung quanh chính là hình chiếu của huyệt trên bề mặt da
3.2 Kỹ thuật châm
Cho đối tượng ngồi ở tư thế thoải mái, bàn tay ngửa, ngón duỗi mềm, đặt lên bàn Châm kim vuông góc với mặt da vào giữa huyệt sâu khoảng 0,5-1,5 cm ở cả hai tay tuỳ thuộc vào cảm giác đắc khí của từng đối tượng Điện châm với tần số 2-3Hz, điện thế 3-4 Voltz, thời gian lưu kim là 30 phút cho mọi đối tượng
3.3 Kỹ thuật đo ngưỡng cảm giác đau
Nguyên lý của phương pháp như sau: Tác động lên da đối tượng một lực tăng dần theo một tỷ lệ hằng định (gam/giây: g/s), lực này được tạo ra liên tục bởi một
“con chạy” di động theo một thước nằm ngang gắn với một trục hình nón, đầu nhọn hướng xuống dưới đè lên một điểm của cơ thể để xác định ngưỡng cảm giác
đau Dưới trục ấn là đế được cấu tạo có
độ ma sát rất thấp
Để xác định ngưỡng cảm giác đau, người thao tác ấn bàn đạp “đóng-mở” cho lực tác động lên đối tượng Điểm để xác
định ngưỡng cảm giác đau là gốc móng ngón tay út Khi đối tượng có cảm giác
đau thì người đo thả chân khỏi bàn đạp
"đóng-mở”, con chạy dừng lại và ghi nhận ngưỡng cảm giác đau được xác định trên thang đo (g/s) Hệ số giảm đau (K) được tính bằng ngưỡng cảm giác đau sau điện châm (Đs) chia cho ngưỡng cảm giác đau trước điện châm (Đt)
Đs (g/s)
K =
Đt (g/s)
Trang 33.3 Kỹ thuật ghi phản xạ H
Phản xạ H là phản xạ đơn sinap, cung
phản xạ gồm neuron hướng tâm là các sợi
cảm giác thuộc nhóm Ia và neuron ly tâm
là các sợi vận động anpha Trung tâm phản
xạ nằm ở khoanh tuỷ S1 Kích thích dây
thần kinh hông khoeo trong tại đỉnh hố
khoeo, ghi phản xạ H tại cơ dép của khối
cơ tam đầu cẳng chân, người ta thu được
hai sóng đáp ứng là sóng M (phản ánh đáp
ứng của cơ do xung kích thích trực tiếp đến
điện cực ghi) và sóng H (phản ánh xung
động thần kinh đi theo sợi Ia vào khoanh
tuỷ S1 sau đó quay trở lại điện cực ghi qua
sợi α (vòng cung phản xạ)
4 Phương tiện
- Máy dò huyệt Neurometer typ RB68 -
Nhật Bản
- Máy điện châm của Viện Thiết bị y tế sản xuất với các thông số kỹ thuật như
dạng xung, tần số xung, cường độ, biên
độ rất ổn định
- Máy đo ngưỡng đau Analgesy Meter của hãng Ugobasile (Italia)
5 Quy trình nghiên cứu
Ngưỡng đau, hệ số giảm đau được đo trước điện châm và ngay tại thời điểm trước khi rút kim
Ghi phản xạ H tại khối cơ dép trước
điện châm và ngay sau khi rút kim
6 Xử lý số liệu
Các số liệu được xử lý bằng chương trình EPI Info 6.0 với phương pháp so sánh tự đối chứng trên từng đối tượng giữa các thời điểm
III Kết quả
1 ảnh hưởng của điện châm huyệt Nội quan lên ngưỡng cảm giác đau
1.1 Ngưỡng đau ban đầu của các đối tượng được trình bày ở bảng 1
Bảng 1 Ngưỡng cảm giác đau (g/s) ban đầu của các đối tượng nghiên cứu (n=60)
Giới Ngưỡng đau
Nữ (1)(n=30)
X ± SD
Nam (2)(n=30)
X ± SD
Chung
X ± SD
Ngưỡng đau thấp 90,63 ± 4,27 81,42 ± 7,95 84,25 ± 8,14
Ngưỡng đau cao 135,62 ± 18,01 132,69 ± 24,72 134,34 ± 21,02
Ngưỡng đau chung 129,60 ± 23,12 117,31 ± 31,78 123,45 ± 28,24
Kết quả ở bảng 1 cho thấy ngưỡng đau
ban đầu của các đối tượng nghiên cứu
dao động từ 67 đến 171 g/s, trung bình là
123,45 ± 28,24 g/s Hầu hết các đối
tượng nam đều có ngưỡng đau ban đầu
cao hơn so với nữ (p < 0,05) Trong số 30
đối tượng nam có 26 người có ngưỡng
đau ban đầu cao (chiếm 86,67%), còn ở nữ chỉ có 21/30 đối tượng có ngưỡng đau ban đầu cao (chiếm 70%) Số nữ có ngưỡng đau ban đầu thấp là 9/30 người (chiếm 30%)
Trang 41.2 Ngưỡng cảm giác đau ở hai giới sau điện châm huyệt PC6 (bảng 2)
Bảng 2 Ngưỡng cảm giác đau (g/s) khi điện châm huyệt PC6 (n = 60)
Thời điểm Giới
Trước châm (1)
X ± SD
Trước khi rút kim (2)
X ± SD p 1-2
Nữ (a) n = 30 117,31 ± 31,78 156,02 ± 36,44 < 0,01
Nam (b) n = 30 129,60 ± 23,12 148,61 ± 33,22 < 0,01
Chung 123,45 ± 28,24 138,43 ± 28,93 < 0,01
Kết quả ở bảng 2 chỉ ra rằng ngưỡng đau tăng một cách rõ rệt ở cả nam và nữ
(p<0,01), mức độ tăng ngưỡng đau sau điện châm ở nữ cao hơn so với nam (p<0,05)
1.3 Hệ số giảm đau khi điện châm huyệt Nội quan (bảng 3)
Bảng 3 Hệ số giảm đau dưới tác dụng của điện châm huyệt Nội quan (n = 60)
Giới Tay
Nữ (1)(n=30)
X ± SD
Nam (2)(n=30)
X ± SD p 1-2
Tay phải (a) 1,36 ± 0,28 1,18 ± 0,22 < 0,01
Tay trái (b) 1,36 ± 0,18 1,17 ± 0,37 < 0,01
Kết quả trên bảng 3 cho thấy sau khi điện châm huyệt Nội quan, hệ số giảm đau
tăng ở cả tay phải và tay trái trên cả nam cũng như nữ Hệ số giảm đau đau ở nữ cao
hơn so với nam (p<0,01)
2 ảnh hưởng của điện châm huyệt Nội quan lên phản xạ H
Bảng 4 Các thành phần của sóng H khi điện châm huyệt PC6 (n=30)
Thời điểm
Chỉ số
Trước châm (1)
X ± SD
Sau châm 30'(2)
X ± SD p 2-1
Biên độ (mV) 6,98 ± 1,95 5,03 ± 1,67 < 0,05
Thời gian tiềm tàng (ms) 26,99 ± 4,11 28,78 ± 3,12 < 0,05
Các số liệu trên bảng 4 cho thấy sau điện châm huyệt Nội quan 30 phút, biên độ của
sóng H giảm rõ rệt (p<0,05), thời gian tiềm tàng của sóng H kéo dài một cách có ý
nghĩa so với trước khi điện châm (p<0,05)
IV Bàn luận
1 ảnh hưởng của điện châm huyệt
Nội quan lên ngưỡng cảm giác đau
Kết quả ở bảng 1 cho thấy ngưỡng đau ban đầu của các đối tượng nghiên cứu khác nhau và ngưỡng đau ban đầu của nam hầu hết đều cao hơn so với ngưỡng
Trang 5Hằng [6], [4] cũng cho thấy có điểm tương
đồng về sự khác biệt ngưỡng đau giữa hai
giới tương tự như kết quả nghiên cứu của
chúng tôi Như chúng ta đã biết, cảm giác
đau phụ thuộc vào các cấu trúc tiếp nhận
cảm giác đau và các cấu trúc tham gia
vào hệ thống giảm đau của hệ thần kinh
mà trong đó hệ limbic gần đây được cho
rằng có ảnh hưởng nhiều đến khía cạnh
cảm xúc của cảm giác đau, đến sự nhận
biết cảm giác đau mang tính chủ quan
của đối tượng [3] Có lẽ vì vậy mà các đối
tượng nữ thường có ngưỡng đau thấp
hơn so với nam
1.2 Ngưỡng cảm giác đau ở hai
giới sau điện châm huyệt Nội quan
Kết quả ở bảng 2 chỉ ra rằng sau điện
châm huyệt Nội quan, ngưỡng đau tăng
một cách rõ rệt ở cả nam và nữ Như vậy
ngoài tác dụng an thần điện châm huyệt
Nội quan còn có tác dụng giảm đau Điều
này một lần nữa khẳng định việc sử dụng
huyệt này trong một số phác đồ châm tê,
giảm đau hiện nay là có cơ sở khoa học
Trong nghiên cứu của chúng tôi, mức độ
tăng ngưỡng đau sau khi điện châm
huyệt Nội quan vào khoảng 12% tương
đương với mức độ giảm đau khi điện
châm huyệt Hợp cốc [4] nhưng thấp hơn
so với các huyệt khác [9] (châm huyệt
Dương khê ngưỡng đau tăng 77%, huyệt
Khúc trì ngưỡng đau tăng 70% và huyệt
Nghinh hương tăng ít hơn (45%) Theo
Farber [9] thì mức độ làm tăng ngưỡng
đau sau châm không những phụ thuộc
vào tính cá thể mà còn phụ thuộc vào vị
trí các huyệt nằm trên kinh và cách chọn
chế độ kích thích Wan và cộng sự [10]
thấy rằng nếu chọn tần số điện châm 2-3
Hz (tương tự với tần số được sử dụng
trong nghiên cứu này) sẽ cho tác dụng
giảm đau không mạnh nhưng kéo dài do
cơ chế hoạt hoá mRNA đặc hiệu cho việc tổng hợp các peptid giảm đau nội sinh ở não, tủy sống Muốn có tác dụng nhanh, mạnh thì phải kích thích ở tần số cao hơn (khoảng 100Hz) ở tần số này, tuỷ sống
và nhiều neuron sẽ tăng tiết các peptid giảm đau nội sinh, đặc biệt là dynorphin - một peptid có tác dụng giảm đau rất mạnh và không chịu sự tác động đối kháng của naloxon Như vậy, mức độ giảm đau do châm cứu và nồng độ các peptid nội sinh được bài tiết phụ thuộc vào tần số, cường độ và vị trí huyệt được kích thích [8], [10] Chính vì thế mà trong châm tê phẫu thuật để đạt được hiệu quả vô cảm cần chọn huyệt và chế độ kích thích có cường độ và tần số cao Do việc
định lượng các peptid nội sinh trong huyết thanh hoặc bán định lượng các chất này ở các cầu trúc thần kinh trong thực tế ở nước ta còn hạn chế nên một số tác giả {4], [7] đi sâu tìm hiểu vai trò của hệ thống thần kinh thực vật (bao gồm catecholamin và acetylcholin) Kết quả cho thấy có sự hoạt hoá tương ứng của cả 2 chất này trên tất cả những đối tượng
có ngưỡng đau tăng Một số tác giả nước ngoài cho rằng châm cứu giảm đau có liên quan đến việc làm tăng nồng độ acetylcholin cả ở ngoại vi và trung ương (trích theo[8]) Nếu dùng atropin là chất
đối kháng với acetylcholin có thể làm mất tác dụng giảm đau của châm cứu Những kết quả này cho thấy có lẽ đây là một trong những chất truyền đạt thần kinh có vai trò quan trọng trong cơ chế giảm đau
do châm cứu bên cạnh hệ serotonin-endorphinergic
1.3 Hệ số giảm đau khi điện châm huyệt Nội quan
Kết quả trên bảng 3 cho thấy điện châm huyệt Nội quan làm tăng ngưỡng
Trang 6cảm giác đau, hệ số giảm đau đau ở cả
nam và nữ nhưng mức độ tăng ở nữ cao
hơn so với mức tăng của nam Kết quả
thu được tương tự như kết quả trong
nghiên cứu của Hoàng Khánh Hằng [4]
(cũng làm trong cùng một điều kiện và
cùng một nhóm tuổi) nhưng thấp hơn kết
quả của Nguyễn Thị Vân Thái [6] Sự
khác nhau hay giống nhau về kết quả đo
ngưỡng cảm giác đau giữa các tác giả có
thể do hai lý do Lý do thứ nhất có lẽ là do
các đối tượng đo của các tác giả có độ
tuổi khác nhau, lý do thứ hai có lẽ do kỹ
thuật đo được thực hiện trong những hoàn
cảnh không hoàn toàn giống nhau Như
chúng ta đã biết, bình thường không có
sự khác biệt nhiều về ngưỡng cảm giác
đau giữa các cá thể, nhưng cách phản
ứng với kích thích đau lại rất khác nhau
[3], [8] Nguyên lý của phương pháp đo
ngưỡng cảm giác đau lại dựa chủ yếu vào
sự nhận biết cảm giác đau mang tính chủ
quan của đối tượng, sự phân biệt giữa
cảm giác đè ép với cảm giác đau Có lẽ
do vậy mà có sự khác nhau về kết quả đo
ngưỡng cảm giác đau giữa các tác giả
Mặt khác ngưỡng đau có thể khác nhau ở
từng cá thể và thậm chí ở trên cùng một
cá thể ngưỡng đau có thể thay đổi theo
nhịp ngày đêm hoặc theo trạng thái sinh
lý, bệnh lý Mặc dù ngưỡng đau ban đầu
của nữ thấp hơn so với nam và số đối
tượng nữ có ngưỡng đau ban đầu thấp
chiếm tới 76,7% nhưng hệ số giảm đau ở
nữ lại lớn hơn so với nam (p<0,01) Điều
này chứng tỏ rằng đối tượng có ngưỡng
cảm giác đau ban đầu thấp thì dưới tác
dụng của điện châm ngưỡng cảm giác
đau tăng nhiều hơn so với những người
có ngưỡng đau ban đầu cao Nhận xét
Trương Việt Bình [1] khi nghiên cứu trên người bình thường
2 ảnh hưởng của điện châm huyệt Nội quan lên phản xạ H
Các số liệu trên bảng 4 cho thấy sau
điện châm huyệt Nội quan 30 phút, biên
độ của sóng H giảm , thời gian tiềm tàng của sóng H kéo dài một cách có ý nghĩa
so với trước khi điện châm (p<0,05) Vũ Văn Lạp khi điện châm Tam âm giao cũng thấy có sự ức chế cung phản xạ này [5] Kết quả nghiên cứu của chúng tôi và
Vũ Văn Lạp cũng phù hợp với các nghiên cứu về điện sinh lý của các tác giả nước ngoài (trích theo [8]) Các tác giả này cho rằng khi châm cứu gây ra tác dụng giảm
đau là do có hiện tượng ức chế sự hình thành các phản xạ đối với tác nhân gây
đau Như chúng ta đã biết, việc xuất hiện phản xạ H, một phản xạ đơn synap thể hiện sự dẫn truyền xung động từ ngoại vi
về khoanh tuỷ S1 và từ khoanh tuỷ này theo sợi vận động Ia ra khối cơ dép Nội quan là một huyệt ở tay, khoanh tuỷ tương ứng với huyệt đã được xác định là
cổ 5, ngực 2 Vậy thì tại sao châm Nội quan lại ảnh hưởng đến cung phản xạ này? Theo giả thuyết của một số tác giả (trích theo [8]) thì điện châm huyệt Nội quan cũng như các huyệt khác sẽ tạo ra
được một xung động theo các sợi hướng tâm (loại I, II, II, IV) về hệ thần kinh trung
ương Nơi đến có thể là một số neuron vùng dưới đồi, cấu trúc lưới, vỏ não Phải chăng chính sự hoạt hoá các cấu trúc này đã tạo ra các xung động ức chế truyền xuống gây tác dụng ức chế tuỷ sống, trong đó có phản xạ H - một phản xạ chịu ảnh hưởng rất mạnh của yếu tố
Trang 7của điện châm huyệt Nội quan có lẽ cần
phải dùng một số phương pháp nghiên
cứu điện sinh lý khác Rất tiếc trong điều
kiện hiện nay ở nước ta nhất là trong
khuôn khổ đề tài này chúng tôi chưa thể
thực hiện được
V Kết luận
Từ kết quả và bàn luận nêu trên,
chúng tôi xin rút ra một số kết luận sau:
1 Điện châm huyệt Nội quan có
tác dụng làm tăng ngưỡng cảm giác
đau ở cả nam và nữ, mức độ tăng
ngưỡng đau ở nữ cao hơn so với
mức tăng ở nam (p < 0,05 - 0,01)
2 Điện châm huyệt Nội quan làm giảm
biên độ và kéo dài thời gian tiềm tàng của
sóng H (p<0,05)
Tài liệu tham khảo
1 Trương Việt Bình (1993), Góp
phần nghiên cứu châm tê thực nghiệm và
tác dụng của châm tê phối hợp thuốc hỗ
trợ trong phẫu thuật sản khoa Luận án
PTS khoa học Y dược, Thư viện Đại học
Y Hà Nội
2 Hoàng Bảo Châu (1981), Tác dụng
và cơ chế tác dụng của châm tê, Thông
tin Đông Y, 3-4(31), tr.3- 5
3 Phạm Thị Minh Đức (1998), "Sinh
lý đau”, Chuyên đề Sinh lý học, Trường
Đại học Y Hà Nội, tr.138-153
4 Hoàng Khánh Hằng (2001),
Nghiên cứu đặc điểm sinh học huyệt Hợp
cốc và một số chỉ số sinh học khi điện
châm huyệt này, Tóm tắt luận án Tiến sĩ
Y học, Đại học Y Hà Nội
5 Vũ Văn Lạp (1996), Nghiên cứu đặc
điểm huyệt Túc tam lý và ảnh hưởng của
điện châm huyệt này lên chức năng một
số cơ quan trong cơ thể, Tóm tắt luận án PTS khoa học Y dược, Thư viện Y học Trung ương
6 Nguyễn Thị Vân Thái (1996), ảnh
hưởng của điện châm lên ngưỡng cảm giác đau và một số đặc điểm của huyệt châm cứu, Tóm tắt Luận án PTS khoa học Sinh học, Thư viện Quốc gia Hà Nội
7 Nguyễn Tài Thu, Nguyễn Bá Quang, Nghiêm Hữu Thành và cộng sự (1998), Nghiên cứu châm tê phối hợp với
thuốc hỗ trợ trong phẫu thuật mổ bướu
cổ, Đề tài cấp bộ, tr.37- 42
8 Cao X.(1999), Scientific bases of
acupuncture Consultation meeting on traditional and modern medecine: harmonizing the two approaches, WHO regional office for Western Pacific, Beijing China, 67-76
9 Farber P.L., TachibanaA., Campiglia H.M.(1997), Increased pain
threshold following electroacupuncture analgesia is induced mainly in meridian acupuncture points, Acupunct- Electrother- Res, 22 (2), 109- 117
10 Wan Y., Wilson S.G., Han J.S., Mogil J.S (2001), The effect of genotype
on sensitivity to electroacupuncture analgesia, Pain, 91, 5-13
Trang 8Summary
Effect of Neiguan (PC6) electro acupuncture (EA) on pain threshold and Hoffmann reflex in normal subjects
Experiments were undertaken on normal subjects at the age of 19 - 44 years Pain threshold were measured byAnalgesymeter (Made in Ugobasile - Italy) in 60 subjects before and after 30 minutes of PC6 EA Amplitude and latency of Hoffman wave of 30 males was investigated before and after 30 minutes of PC6 EA EA parameters were set in 2Hz, 4-5 Volts The following results were shown: (1)
PC6 EA could elevate pain threshold in most subjects (p<0,01) (2)
The effectiveness of PC6 EA was significantly different among male and female Pain thresholds markedly increased in male and female after PC6 EA (p<0,05) (3)
PC6 EA could elicit inhibitory effect of Hoffmann reflex (amplitude of Hoffmann wave was significantly decreased whereas latency of this wave was prolonged) It suggested that the involvement of central neuromodulatory mechanism in the acupuncture analgesia