1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu độc tính cấp và độc tính bán trường diễn của bài thuốc Sinh Tinh Thang potx

5 794 8
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 5
Dung lượng 224,73 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TCNCYH 25 5 - 2003 Nghiên cứu độc tính cấp và độc tính bán trường diễn của bài thuốc Sinh tinh thang Bài thuốc "Sinh tinh thang" là hợp tễ gia giảm vị từ 2 bài thuốc cổ phương: "Tứ quâ

Trang 1

TCNCYH 25 (5) - 2003

Nghiên cứu độc tính cấp và độc tính bán trường diễn

của bài thuốc Sinh tinh thang

Bài thuốc "Sinh tinh thang" là hợp tễ gia giảm vị từ 2 bài thuốc cổ phương: "Tứ quân tử thang" và

"Bát vị quế phụ" dùng để điều trị chứng suy giảm tinh trùng Khi nghiên cứu độc tính cấp trên chuột

và độc tính bán trường diễn của thuốc trên thỏ, đã cho thấy: không xác định được độc tính cấp của thuốc và với liều 12,6g/kg thỏ (gấp 15 lần liều điều trị trên lâm sàng), thuốc không làm biến đổi các chỉ số huyết học cũng như các chức năng gan, thận của động vật thực nghiệm

I Đặt vấn đề

Tình trạng suy giảm tinh trùng (SGTT)

ngày nay có xu hướng gia tăng Theo công bố

của Tổ chức Y tế thế giới, tỷ lệ vô sinh chiếm

khoảng 8% trong số các cặp vợ chồng [1]

Tỷ lệ vô sinh do chồng khá cao: từ 30,0 -

40,0% [2] thậm chí 46,5% Nhiều nghiên

cứu cho thấy, khoảng 90% vô sinh nam có

suy giảm chất lượng và số lượng tinh trùng,

trong đó đa số là do các rối loạn tự phát về

quá trình sinh sản tinh trùng Chính vì vậy, mặc

dù hiện nay đã có nhiều phương pháp điều trị

SGTT, nhưng kết quả còn tản mạn

Y học cổ truyền (YHCT) từ lâu đã rất quan

tâm nghiên cứu điều trị những chứng bệnh của

nam, trong đó có SGTT Hiện nhiều cơ sở điều

trị YHCT đã và vẫn đang áp dụng các bài

thuốc YHCT chữa chứng SGTT [1], [3], nhưng

việc tổng kết đánh giá hiệu quả còn ít

Bài thuốc "Sinh tinh thang" được giới thiệu

trong “Thiên gia diệu phương” để điều trị chứng

SGTT [4] Cho đến nay chưa có nghiên cứu

nào đánh giá một cách hệ thống tác dụng điều

trị chứng SGTT của bài thuốc này Vì vậy, trước

khi tiến hành đề tài:"Nghiên cứu tác dụng của

bài thuốc sinh tinh thang đến số lượng và chất

lượng tinh trùng", cần phải đánh giá độc tính

của bài thuốc

Trong bài báo này mục tiêu nghiên cứu

của chúng tôi là xác định độc tính cấp, độc tính

bán trường diễn và ảnh hưởng của bài thuốc

đến một số chỉ số sinh học của động vật thực

nghiệm

II Đối tượng và phương pháp nghiên cứu

Bài thuốc "Sinh tinh thang", do khoa

Dược viện Y học cổ truyền Quân đội bào chế dưới dạng bột tan Sản phẩm được đóng trong túi plastic, 42g/1túi, tương đương 1 thang thuốc sắc

Khi thử, pha bột thuốc với nước, thuốc tan được tối đa ở tỷ lệ 1,7g trong 1 ml nước

và thu được thể tích 1,4ml dung dịch thuốc; hay 1ml dung dịch thuốc có chứa 1,21g bột thuốc

musculus) chủng Swiss, cả hai giống, trọng lượng 20 + 2 gram, do viện Vệ sinh Dịch tễ trung ương cung cấp

tháng tuổi, trọng lượng 1,8-2,2kg Do Trung tâm Nghiên cứu giống dê và thỏ Ba Vì cung cấp

Chuột và thỏ được nuôi trong điều kiện phòng thí nghiệm tại bộ môn Dược lý, trường

Đại học Y Hà Nội

a) Nghiên cứu độc tính cấp

Xác định độc tính cấp LD50 trên chuột nhắt trắng theo đường uống bằng phương pháp Litchfied - Wilcoxon [6]

con

Trang 2

TCNCYH 25 (5) - 2003

từ liều tối đa không gây chết, đến liều gây chết

100%, trong một thể tích hằng định là 0,2 ml

dung dịch thuốc / 10g chuột x 2 lần, cách nhau

2 giờ

- Ghi số chuột chết trong 72 giờ và tiếp tục

theo dõi tình trạng chung của chuột sau 7 ngày

uống thuốc

b) Phương pháp xác định độc tính

bán trường diễn

-

ƒ

ƒ

Vì bài thuốc đã được sử dụng từ lâu

trên người, cho nên chúng tôi suy từ liều trên

người cho các thử nghiệm độc tính

được chia ngẫu nhiên thành 3 nhóm, mỗi nhóm

10 con:

0,9 %

ƒ Nhóm 2: uống thuốc thử với liều 8,4g/kg

thỏ/ 24 giờ; (gấp 10 lần liều vẫn dùng trên

người)

ƒ Nhóm 3: uống thuốc thử với liều 12,6g/ kg

thỏ/ 24 giờ; (gấp 15 lần liều vẫn dùng trên

người)

Các thỏ uống cùng 1 thể tích hằng định là

10 ml/1 kg thân trọng thỏ, liên tục trong 30

ngày

tạo máu, chức năng gan và thận, cấu trúc vi

thể của gan và thận trước, trong và sau thời

gian thỏ uống thuốc:

ƒ Chức phận tạo máu được đánh giá qua số lượng hồng cầu, bạch cầu, công thức bạch cầu,

định lượng huyết cầu tố

lượng hoạt độ các transaminase trong huyết thanh

Chức năng thận được đánh giá qua định lượng ure, creatinin trong huyết thanh

Cấu trúc vi thể gan, thận của thỏ: sau 30 ngày uống thuốc liên tục, thỏ được giết (bằng cách bơm khí vào tĩnh mạch tai thỏ), phân lập gan, thận và quan sát cấu trúc dưới kính hiển vi quang học

III Kết quả

Kết quả cho thấy, chuột uống thuốc với liều

tăng dần từ 10g / kg (tương đương 1g/kg trên người hoặc gấp 12 lần liều vẫn dùng trên

người) đến 55g / kg thể trọng (tương đương

5,5g/kg trên người hoặc gấp 56 lần liều vẫn

dùng trên người), là mức liều tối đa có thể cho

uống được; theo dõi trong 72 giờ không thấy chuột chết, mọi chuột đều ăn uống và hoạt

động bình thường trong suốt cả tuần

nặng của thỏ

Bảng 1: Biến đổi trọng lượng các nhóm thỏ trong quá trình uống thuốc STT (n = 9)

Lần cân Nhóm n

Trước điều trị (⎯X ± SE) kg

Ngày thứ 15 (⎯X ± SE) kg

Ngày thứ 30 (⎯X ± SE) kg

p (1) - (3)

Sau 30 ngày uống thuốc liên tục, trọng lượng của các nhóm thỏ ở từng thời điểm nghiên cứu so

với nhóm chứng không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với p 1 - 3 > 0,05 và p 2 - 3 > 0,05

Trang 3

TCNCYH 25 (5) - 2003

Kết quả nghiên cứu ảnh hưởng của bài thuốc STT đến một số chỉ số huyết học của thỏ được ghi trong các bảng 2 - 3

Bảng 2: Biến đổi số lượng hồng cầu và hàm lượng hemoglobin của các nhóm thỏ trong quá

trình uống thuốc ( n = 9 )

Nhóm

Chỉ số

Chứng(a) (⎯X± SE)

Thuốc liều I(b) (⎯X ± SE)

Thuốc liều2(c)

Hồng cầu

(x 1012/l)

> 0,05

p 0 - 30

P 15 - 30 > 0,05

Hemog

lobin

> 0,05

p 0 - 30

P 15 - 30 > 0,05

Qua số liệu ở bảng 2 cho thấy: trong quá trình uống thuốc, số lượng hồng cầu và hàm lượng

hemoglobin giữa các nhóm thỏ không có sự khác biệt với p a - c > 0,05 và p b - c > 0,05 Đồng thời cũng thấy số lượng hồng cầu và hàm lượng hemoglobin của các nhóm thỏ ở từng thời điểm nghiên

cứu biến đổi không rõ rệt với p 0 - 30 > 0,05và p 15 - 30 > 0,05

Bảng 3: Biến đổi số lượng bạch cầu và công thức bạch cầu của các nhóm thỏ trong quá

trình uống thuốc ( n = 9 )

Nhóm

Chỉ số

Chứng(a) (⎯X ± SE)

Thuốc liều I(b) (⎯X ± SE)

Thuốc liều II(c)

Số lượng

(x109/l)

> 0,05

Lym pho

(%)

> 0,05

Trung

tính (%)

> 0,05

Mono

(%)

> 0,05

Qua bảng 3 cho thấy: không có sự biến đổi đáng kể về số lượng bạch cầu và công thức bạch

cầu của các nhóm thỏ trước và sau thí nghiệm với p > 0,05 Đồng thời cũng thấy số lượng bạch cầu

và công thức bạch cầu giữa các nhóm thỏ uống thuốc và nhóm chứng không có sự khác biệt có ý

nghĩa thống kê với p a - c > 0,05 và p b - c>0,05

Trang 4

TCNCYH 25 (5) - 2003

Bảng 4 Biến đổi hàm lượng SGOT và SGPT của các nhóm thỏ sau khi uống thuốc Sinh tinh

thang ( n = 9 )

Nhóm

Chỉ số

Chứng(a) (X ± SE)

Thuốc liều I(b) (X ± SE)

Thuốc liều II(c)

SGOT

(U/l)

> 0,05

p 0 - 30

P 15 - 30 > 0,05

SGPT

(U/l)

> 0,05

p 0 - 30

P 15 - 30 > 0,05

Các số liệu trên bảng 4 cho thấy: hàm lượng men SGOT và SGPT ở các nhóm thỏ chứng, nhóm

uống thuốc Sinh tinh thang liều I và liều II không có sự khác biệt với p a - c > 0,05 và p b - c > 0,05

Đồng thời cũng không thấy biến đổi hàm lượng men SGOT và SGPT của các nhóm thỏ ở các thời

điểm trước, trong và sau thí nghiệm với p 0 - 30 > 0,05và p 15- 30 > 0,05

Bảng 5 Biến đổi hàm lượng ure và creatinin của các nhóm thỏ sau khi uống Sinh tinh thang

(n = 9)

Nhóm

Chỉ số

Chứng(a) (X ± SE)

Thuốc liều I (b) (X ± SE)

Thuốc liều II (c)

Ure

Mmol/l)

> 0,05

p 0 - 30

P 15 - 30 > 0,05

Creatinin

(mmol/l)

> 0,05

p 0 - 30

P 15 - 30 > 0,05

Hàm lượng Ure và Creatinin giữa các nhóm

thỏ nghiên cứu không có sự khác biệt với p a - c

> 0,05 và p b - c > 0,05 Đồng thời cũng không

thấy biến đổi hàm lượng Ure và Creatinin của

các nhóm thỏ trước, trong và sau thí nghiệm

với p 0 - 30 > 0,05và p15- 30 > 0,05

Cấu trúc vi thể gan và thận của các

nhóm thỏ nghiên cứu:

ở ngày thứ 30, quan sát cấu trúc gan, thận của các thỏ nhóm 3 (nhóm uống thuốc liều cao nhất), chúng tôi thấy:

- Các bè gan cấu trúc bình thường, không thấy thoái hoá tế bào gan, khoảng cửa có các mạch máu xung huyết

Trang 5

TCNCYH 25 (5) - 2003

- Cấu trúc ống thận và cầu thận bình

thường, không thấy thoái hoá biểu mô lợp của

ống thận

Iv Bàn luận

"Sinh tinh thang" là hợp tễ gia giảm vị từ 2

bài thuốc cổ phương: "Tứ quân tử thang" và

"Bát vị quế phụ" Đây là hai bài thuốc bổ cơ

bản và được sử dụng rất rộng rãi trong nền y

học cổ truyền từ rất xa xưa Nhưng khi hai bài

thuốc này kết hợp với nhau thì liệu bài thuốc

mới "Sinh tinh thang" có gây độc đối với cơ thể

hay không là điều cần phải được nghiên cứu

Nghiên cứu độc tính cấp của bài thuốc trên

chuột nhắt trắng, chúng tôi đã không xác định

được liều chết 50% của thuốc Nói một cách

khác, thuốc không có độc tính cấp khi dùng

gấp 10 lần liều hiện dùng trên lâm sàng cho

người

Nghiên cứu độc tính bán trường diễn của

bài thuốc trên thỏ, chúng tôi thấy các nhóm thỏ

nhận thuốc đều ăn uống hoạt động bình

thường Chúng có xu hướng tăng cân nhưng

xảy ra đều ở tất cả các nhóm, kể cả nhóm

chứng (bảng 1), điều đó có nghĩa các thỏ đều

phát triển tốt bởi chúng đang trong độ tuổi

trưởng thành (6 tháng tuổi) Các chỉ số huyết

học (bảng 2 và bảng 3) như số lượng hồng cầu,

hàm lượng hemoglobin, số lượng bạch cầu và

công thức bạch cầu ở các nhóm thỏ nghiên cứu

đều không có sự biến đổi (p > 0,05) Đồng thời,

hàm lượng SGOT, SGPT cũng như ure và

creatinin trong máu của các nhóm thỏ (bảng 4

và 5) không có sự biến đổi sau 30 ngày uống

thuốc "Sinh tinh thang" (p > 0,05)

So sánh hình thái cấu trúc vi thể gan và

thận các nhóm thỏ dưới kính hiển vi quang học,

chúng tôi nhận thấy không có sự thay đổi về

cấu trúc vi thể gan, thận giữa nhóm chứng với các nhóm dùng thuốc Tuy nhiên, do cách gây chết thỏ đã làm các mạch máu ở khoảng cửa trong gan và khoảng kẽ của thận xung huyết

V Kết luận Kết quả nghiên cứu độc tính cấp và bán trường diễn của thuốc sinh tinh thang trên chuột và thỏ thực nghiệm cho thấy thuốc không

có độc tính cấp Với liều 12,6g/ kg thỏ, thuốc không làm biến đổi các chỉ số huyết học và các chức năng gan, thận của động vật thực nghiệm

Tài liệu tham khảo

Điều trị 45 trường hợp giảm tinh trùng bằng thuốc Đông y, Tóm tắt báo cáo trong Hội nghị

Đông - Tây y, Cục Quân y; 16 - 17

về vô sinh nam tại Viện bảo vệ bà mẹ và trẻ sơ sinh năm 1995 Hội thảo về nguyên nhân và

điều trị vô sinh nam nữ Viện Bảo vệ sức khoẻ

bà mẹ và trẻ sơ sinh - Tổ chức Materra (Freiburg - CHLB Đức), 20 - 21/1997; 27 - 33

quân (1975), Điều trị 16 trường hợp thiểu năng sinh dục bằng thuốc nam, Tóm tắt báo cáo trong Hội nghị Đông - Tây y, Cục Quân y; 18 -

19

ương, (1989), Thiên gia diệu phương, Võ Văn Bình và cs biên dịch, Hà Nội, tr: 195- 196

5 Belsy M.A (1979) Etiology and natural histology, workshop on the diagnosis and treatmen of infertility - Kenya, February, 11-42

6 Litchfield J.T st Wilcoxon F (1949), A simplified method of evaluating dose- effect experiments J Pharmacol 96, 99 – 113 Summary

Study on the Acute and subchronic toxicity

of "Sinh tinh thang" Remedy

The STT, a traditional medication for treatment of spermatogensis insufficiency, has been

determined the Acute and subdesonic toxicity studies of STT medication on mice and rabbit The

results of experiment showed that on rabbit the STT with the dose of 12,6 g / kg of body weight (so more than 15 times of clinical dosis) did not influence on the blood cells and heptic and renal

function the DL50 in the mouse couldn't determine

Ngày đăng: 02/04/2014, 22:20

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1: Biến đổi trọng l−ợng các nhóm thỏ trong quá trình uống thuốc STT (n = 9) - Nghiên cứu độc tính cấp và độc tính bán trường diễn của bài thuốc Sinh Tinh Thang potx
Bảng 1 Biến đổi trọng l−ợng các nhóm thỏ trong quá trình uống thuốc STT (n = 9) (Trang 2)
Bảng 3: Biến đổi số l−ợng bạch cầu và công thức bạch cầu của các nhóm thỏ trong quá - Nghiên cứu độc tính cấp và độc tính bán trường diễn của bài thuốc Sinh Tinh Thang potx
Bảng 3 Biến đổi số l−ợng bạch cầu và công thức bạch cầu của các nhóm thỏ trong quá (Trang 3)
Bảng 5. Biến đổi hàm l−ợng ure và creatinin của các nhóm thỏ sau khi uống Sinh tinh thang - Nghiên cứu độc tính cấp và độc tính bán trường diễn của bài thuốc Sinh Tinh Thang potx
Bảng 5. Biến đổi hàm l−ợng ure và creatinin của các nhóm thỏ sau khi uống Sinh tinh thang (Trang 4)
Bảng 4. Biến đổi hàm l−ợng SGOT và SGPT của các nhóm thỏ sau khi uống thuốc Sinh tinh - Nghiên cứu độc tính cấp và độc tính bán trường diễn của bài thuốc Sinh Tinh Thang potx
Bảng 4. Biến đổi hàm l−ợng SGOT và SGPT của các nhóm thỏ sau khi uống thuốc Sinh tinh (Trang 4)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w