. Quan hệ sản xuất và lực lượng sản xuất có mối quan hệ thống nhất và chặt chẽ, chính là tương tác giữa hai bộ phận cấu thành trong một chỉnh thể của phương thức sản xuất. Trong đó, lực lượng sản xuất là nội dung vật chất còn quan hệ sản xuất là hình thái xã hội của sự tồn tại, phát triển của phương thức sản xuất. Sự tổng hoà mối quan hệ giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất tạo nên một nền kinh tế có lực lượng sản xuất phát triển kéo theo một quan hệ sản xuất phát triển.
Trang 1PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất là một quy luật phổ biến và vô cùng quan trọng tới sự phát triển kinh tế – xã hội của mỗi quốc gia Quan hệ sản xuất và lực lượng sản xuất có mối quan
hệ thống nhất và chặt chẽ, chính là tương tác giữa hai bộ phận cấu thành trong một chỉnh thể của phương thức sản xuất Trong đó, lực lượng sản xuất là nội dung vật chất còn quan hệ sản xuất là hình thái xã hội của sự tồn tại, phát triển của phương thức sản xuất Sự tổng hoà mối quan hệ giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất tạo nên một nền kinh tế có lực lượng sản xuất phát triển kéo theo một quan hệ sản xuất phát triển Nói cách khác quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất là một điều kiện tất yếu
để phát triển một nền kinh tế
Do vậy, nghiên cứu về quy luật này sẽ giúp cho mỗi sinh viên, đặc biệt là sinh viên khối kinh tế, có thêm những hiểu biết về quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất áp dụng vào sự phát triển kinh tế của nước ta cũng như trên thế giới Chính vì vậy, em xin được chọn đề
bài: “Vận dụng quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, luận giải cho tính tất yếu và giải pháp để phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay”.
2 Mục tiêu nghiên cứu
Áp dụng cơ sở lý luận của Triết học Mác - Lênin vào trong thực tiễn cuộc sống để làm rõ các khái niệm về quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với tính chất
và trình độ của lực lượng sản xuất Lấy đó làm cơ sở để luận giải cho tính tất yếu và giải pháp để phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Trang 2Đối tượng nghiên cứu: Quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất và sự vận dụng quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất vào sự phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay
Phạm vi nghiên cứu: Quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất và kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay
4 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp quy nạp: Dựa trên cở sở thống kê, tổng hợp, nghiên cứu, phân tích các tài liệu liên quan tới Triết học Mác- Lênin về quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất làm rõ các khái niệm liên quan
Phương pháp lịch sử: Dựa trên tìm hiểu, xem xét quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất một cách cụ thể,
áp dụng vào các sự kiện diễn ra trong một bối cảnh nhất định theo trình tự thời gian liên tục kể từ khi bắt đầu đến khi kết thúc trong mối quan hệ của quy luật với thực tế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay để chỉ ra điểm đặc trưng, khác biệt của nó với các sự vật, hiện tượng khác
Trang 3NỘI DUNG PHẦN I: CƠ SỞ LÝ LUẬN 1.1 Cơ sở lý luận về quy luật quan hệ sản xuất
1.1.1 Khái niệm và kết cấu của lực lượng sản xuất
Lực lượng sản xuất biểu hiện mối quan hệ giữa con người với thế giới tự nhiên trong quá trình sản xuất, nó thể hiện năng lực chinh phục tự nhiên của con người
Bất kỳ một quá trình sản xuất vật chất nào cũng cần phải có các nhân tố thuộc về người lao động như năng lực, kỹ năng, tri thức… kết hợp cùng các tư liệu sản xuất nhất định như đối tượng lao động, công cụ lao động Toàn bộ các nhân tố đó đã tạo nên lực lượng sản xuất Lực lượng sản xuất là nhân tố cơ bản tất yếu tạo thành nội dung vật chất của quá trình sản xuất Và không một quá trình sản xuất nào có thể diễn ra thiếu một trong hai nhân tố người lao động và
tư liệu sản xuất.
Theo như Lenin đã từng khẳng định: “Lực lượng sản xuất hàng đầu của toàn thể nhân loại là công nhân và người lao động” Như vậy, trong các nhân tố
tạo thành lực lượng sản xuất, người lao động là nhân tố quan trọng nhất Bởi vì chính con người đã tạo ra các tư liệu sản xuất trong quá trình lao động, đồng thời giá trị và hiệu quả thực tế của các tư liệu sản xuất phụ thuộc vào trình độ sử dụng và sáng tạo của người lao động
1.1.2 Khái niệm và kết cấu của quan hệ sản xuất
Để tiến hành quá trình sản xuất thì buộc con người phải có mối quan hệ với nhau Tổng thể những mối quan hệ này gọi là quan hệ sản xuất Nói cách khác quan hệ sản xuất là quan hệ giữa người với người trong sản xuất
Quan hệ sản xuất do con người tạo ra, nhưng nó hình thành một cách khách quan trong quá trình sản xuất, không phụ thuộc vào ý muốn chủ quan của con người Quan hệ sản xuất là những quan hệ mang tính vật chất của đời sống
Trang 4xã hội Quan hệ sản xuất là hình thức xã hội của lực lượng sản xuất và là cơ sở của đời sống xã hội
Quan hệ sản xuất bao gồm 3 mặt:
Thứ nhất, quan hệ sở hữu về tư liệu sản xuất tức là quan hệ giữa người với tư liệu sản xuất Tính chất của quan hệ sản xuất trước hết được quy định bởi quan hệ sở hữu đối với tư liệu sản xuất – biểu hiện thành chế độ sở hữu Đây quan hệ xuất phát, cơ bản, đặc trưng cho từng quan hệ sản xuất trong từng xã hội
Thứ hai, quan hệ tổ chức và quản lý kinh doanh sản xuất: Tức là quan hệ giữa người với người trong sản xuất và trong trao đổi vật chất của cải Quan hệ
tổ chức và quản lý sản xuất do quan hệ sở hữu quyết định và nó phải thích ứng với quan hệ sở hữu Tuy nhiên có trường hợp, quan hệ tổ chức và quản lý không thích ứng với quan hệ sở hữu, làm biến dạng quan hệ sở hữu
Thứ ba, quan hệ phân phối sản xuất sản phẩm tức là tổng hợp hai mối quan hệ sở hữu về tư liệu sản xuất và quan hệ tổ chức và quản lý kinh doanh sản xuất Quan hệ phân phối có thể thúc đẩy tốc độ và nhịp điệu của sản xuất nhưng ngược lại nó có khả năng kìm hãm sản xuất kìm hãn sự phát triển của xã hội
Ba mặt trên của quan hệ sản xuất tác động lẫn nhau trong đó qua hệ sở hữu quyết định các mặt còn lại Đồng thời quan hệ tổ chức quản lý và quan hệ phân phối tác động trở lại quan hệ sở hữu theo hai hướng tích cực và tiêu cực
1.2 Quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực
lượng sản xuất
Quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất là quy luật phổ biến và cơ bản nhất tác động đến sự phát triển của toàn nhân loại Khuynh hướng chung của sản xuất vật chất là sự phát triển không ngừng, bắt nguồn từ sự biến đổi và phát triển của lực lượng sản xuất, trước hết là công cụ lao động
Trang 5Trong tư liệu lao động thì công cụ lao động là yếu tố quan trọng nhất Bởi vậy, khi công cụ lao động đã phát triển và đạt đến trình độ tự động hoá thì vai trò của nó lại càng quan trọng Chính sự chuyển đổi cải tiến và hoàn thiện không ngừng của nó đã gây lên những biến đổi sâu sắc trong toàn bộ tư liệu sản xuất
Sự vận động, phát triển quá trình sản xuất sẽ quyết định và làm thay đổi quan hệ sản xuất cho phù hợp với nó Chính vì vậy mà sự phát triển của lực lượng sản xuất đến một giới hạn nhất định sẽ đặt ra nhu cầu xoá bỏ quan hệ sản xuất cũ và hiện có thay bằng một quan hệ sản xuất mới Điều đó cũng có nghĩa
là diệt vong cả một phương thức sản xuất lỗi thời và sự ra đời của một phương thức sản xuất mới hiện đại hơn
Sự xoá bỏ các hình thức quan hệ sản xuất hiện có không phải là tự thân
mà phải thông qua một phương thức chính trị và pháp quyền mà phương thức pháp quyền là trực tiếp Những quan hệ sản xuất cũ và hiện có từ chỗ là hình thức kinh tế cần thiết để đảm bảo duy trì khai thác, phát triển của lực lượng sản xuất giờ đây trở thành những hình thức kìm hãm sự phát triển đó như CácMác đã nhận định “Từ một giai đoạn phát triển nào đó của chúng, các lực lượng sản xuất vật chất của xã hội mâu thuẫn với những quan hệ sản xuất hiện có trong đó
từ trước đến nay các lực lượng sản xuất vẫn tiếp tục phát triển Từ chỗ là những hình thức phát triển của lực lượng sản xuất những quan hệ ấy trở thàng những xiềng xích của các lực lượng sản xuất Khi đó bắt đầu thời đại một cuộc Cách mạng xã hội.”Đó cũng chính là nội dung quy luật về sự phù hợp của quan hệ sản xuất với trình độ phát triển nhất định của lực lượng sản xuất
Như vậy, lực lượng sản xuất quyết định quan hệ sản xuất, nhưng quan hệ sản xuất cũng có tính độc lập tương đối và tác động trở lại sự phát triển của lực lượng sản xuất Quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển lực lượng sản xuất là động lực thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển
Trang 6PHẦN II: LUẬN GIẢI CHO TÍNH TẤT YẾU VÀ GIẢI PHÁP ĐỂ PHÁT TRIỀN NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG ĐỊNH HƯỚNG XHCN Ở
NƯỚC TA HIỆN NAY 2.1 Sự vận dụng quy luật quan hệ sản xuất tại Việt Nam hiện nay
2.1.1 Thực trạng lực lượng sản xuất ở Việt Nam hiện nay
Sau hơn 30 năm đổi mới, trình độ phát triển của lực lượng ѕản хuất ở Việt Nam đã có những bước tiến đáng kể Hiện naу, cần ưu tiên phát triển lực lượng ѕản хuất hiện đại để tạo đà cho ᴠiệc хâу dựng cơ ѕở ᴠật chất - kỹ thuật tiên tiến, nhằm thực hiện mục tiêu đẩу mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn ᴠới phát triển kinh tế tri thức ᴠà hội nhập quốc tế
Trong thời gian qua, ᴠới хu thế toàn cầu hóa, ѕự chuуển giao ᴠà hội nhập quốc tế ᴠề khoa học, công nghệ đã khiến nền kinh tế nước ta phát triển mạnh
mẽ Những công cụ lao động giản đơn mang tính chất tiểu thủ công nghiệp đã được thaу thế bằng những dâу chuуền máу móc thiết bị tối tân, hiện đại Sức lao động của con người được giải phóng, lao động chân taу dần được thaу thế bởi lao động trí óc, lao động giản đơn dần được thaу thế bằng ѕự chuуên môn hóa ngàу càng cao
Những ѕự thaу đổi lớn lao của công cụ ѕản хuất đã làm cho năng ѕuất lao động tăng ᴠượt bậc, khối lượng ѕản phẩm làm ra ngàу càng nhiều ᴠà có chất lượng cao Cũng nhờ ѕự phát triển của công cụ ѕản хuất, nền kinh tế nước ta đang có ѕự chuуển dịch lớn mạnh ᴠề cơ cấu kinh tế Trong những năm gần đâу,
tỉ trọng đóng góp của các ngành công nghiệp, хâу dựng ᴠà dịch ᴠụ có хu hướng tăng mạnh hơn ѕo ᴠới các ngành nông nghiệp Từ một nước thuần nông, Việt Nam đã хâу dựng được nhiều nhà máу, хí nghiệp có những dâу chuуền công nghệ tiến tiến; nhiều khu chế хuất công nghệ cao
Tuу nhiên, ѕo ᴠới nhiều quốc gia khác trên khu ᴠực ᴠà trên thế giới, là một nước đi ѕau nên nhìn chung nền ѕản хuất công nghiệp của Việt Nam ᴠẫn
Trang 7còn nhiều hạn chế, mức độ hiện đại hóa trong các ngành công nghiệp chưa đồng đều giữa các ngành ᴠà giữa các địa phương trong cả nước, tính cạnh tranh của các mặt hàng ѕản хuất công nghiệp nhìn chung còn thấp nên giá thành không cao, nhất là những ngành ᴠốn là thế mạnh của nước ta như dệt maу, da giàу, khoáng ѕản…
Theo Tổng cục Thống kê, lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên năm 2021 đạt 50,5 triệu người, giảm 791.600 người so với năm trước Trong đó số lao động có việc làm là 49 triệu người, giảm 1 triệu người so với năm 2020 Do tình hình dịch bệnh kéo dài và phức tạp hơn, trong năm 2021 có hàng triệu người mất việc, lao động trong các ngành tiếp tục giảm, đặc biệt là khu vực dịch vụ
Xét theo khu vực, số lao động trong khu vực công nghiệp và xây dựng là 16,3 triệu người, giảm 254.200 người; khu vực dịch vụ là 18,6 triệu người, giảm 800.800 người; khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản là 14,2 triệu người, tăng 37.300 người so với năm 2020 Số lao động thiếu việc làm trong độ tuổi lao động năm 2021 được Tổng cục Thống kê ghi nhận hơn 1,4 triệu người, tăng 370.800 người so với năm trước Tỉ lệ thiếu việc làm của lao động trong độ tuổi
là 3,1%, tăng 0,71% so với cùng kỳ năm trước
Diễn biến phức tạp của đợt dịch COVID-19 lần thứ 4 đã đẩy tỉ lệ thiếu việc làm ở khu vực thành thị cao hơn khu vực nông thôn Điều này trái với xu hướng thị trường lao động thường được quan sát ở nước ta những năm qua với số lao động thất nghiệp trong độ tuổi lao động năm 2021 là hơn 1,4 triệu người, tăng 203.700 người so với năm 2020 Tỉ lệ thất nghiệp trong độ tuổi lao động là 3,22%, tăng 0,54% so với năm trước
2.1.2 Thực trạng các quan hệ sản xuất ở Việt Nam hiện nay
Trước hết cần khẳng định: quan hệ sản xuất chúng ta thiết lập và xây dựng là quan hệ sản xuất trong nền kinh tế thị trường và theo định hướng xã hội chủ nghĩa
Trang 8Việc sở hữu tư liệu sản xuất còn chưa đồng đều trong nhân dân dẫn đến
sự phân hóa giàu nghèo càng trở nên sâu sắc, tạo nên sự phân tầng xã hội về mặt kinh tế Trong đó, tầng lớp trên chiếm tỉ trọng lớn tài sản và các ưu thế kinh tế
và tầng lớp dưới chiếm một tỉ trọng nhỏ các tài sản và một phần nhỏ các ưu thế kinh tế
Nhà nước ta chủ trương phát triển nền kinh tế nhiều thành phần theo định hướng xã hội chủ nghĩa Cơ cấu kinh tế nhiều thành phần với các hình thức kinh doanh đa dạng, phát huy mọi năng lực sản xuất, mọi tiềm năng của các thành phần kinh tế Trong đó bao gồm: kinh tế Nhà nước; kinh tế tập thể; kinh tế cá thể; tiểu chủ, kinh tế tư bản tư nhân; kinh tế tư bản Nhà nước và kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài Về quan hệ sản xuất được xây dựng và hoàn thiện bao gồm
cả quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa đại diện cho định hướng đi lên Chủ nghĩa xã hội trình độ cao, Quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa – thấp hơn…
Ngoài ra, quan hệ sản xuất ở Việt Nam hiện nay không chỉ hạn hẹp với người dân trong nước mà còn mở rộng với kinh thế giới Việc Việt Nam ký kết các Hiệp định tự do thương mại như EVFTA, CPTPP, UKVFTA… đã mở ra các mối quan hệ sản xuất thế giới Sự thông thương hàng hóa sẽ nâng cao và làm thay đổi những phương thức sản xuất và tác động đến mối quan hệ sản xuất xã hội Ngoài ra, nhiều quốc gia đặt các trụ sở sản xuất ở Việt Nam sẽ làm thay đổi lực lượng và công cụ sản xuất của kinh tế thị trường Việt Nam hiện nay
Như vậy, trong thời kỳ này, Nhà nước ta đã biết áp dụng đúng quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với sự phát triển của lực lượng sản xuất đã đem lại nhiều tín hiệu tích cực cho nền kinh tế Nước nhà Đó là sự tăng nhanh về năng suất, chất lượng sản phẩm, khiến cho Tổng sản phẩm trong nước mỗi năm tăng cao, không chỉ đủ cho tiêu dùng trong nước mà còn có thể cạnh tranh với các sản phẩm nước ngoài thông qua xuất khẩu Các quan hệ sản xuất ở trình độ khác nhau được thiết lập đa dạng hoá các hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế
Trang 9đã từng bước tạo nên sự phù hợp với trình độ phát triển không đồng đều về mọi yếu tố trong kết cấu của lực lượng sản xuất
2.2 Một số phương hướng để tiếp tục vận dụng quy luật này
2.2.1 Phương hướng phát triển lực lượng sản xuất
Điều đầu tiên cần thực hiện để tiếp tục vận dụng tốt quy luật này chính là nâng cao chất lượng lao động bởi người lao động chính là yếu tố cấu thành lực lượng sản xuất quan trọng nhất Có thể nâng cao trình độ người lao động bằng cách mở các trường lớp đào tạo ngành nghề, đầu tư phát triển giáo dục Tập trung vào việc đào tạo các ngành nghề có nhu cầu lớn trong xã hội, chú trọng nâng cao trình độ khoa học kỹ thuật cho người lao động Quan tâm, học hỏi chất lượng đào tạo nước ngoài
Đồng thời, Nhà nước cũng cần nâng cao tư công cụ lao động thông qua việc cải tạo các loại máy móc, dây chuyền sản xuất để nâng cao năng suất, khối luợng sản phẩm Nhà nước cần quan tâm đầu tư ứng dụng khoa học – kĩ thuật vào trong sản xuất cũng như việc nghiên cứu, sáng chế, mua các thiết bị, máy móc sản xuất để theo kịp sự tiến bộ, phát triển của khoa học công nghệ hiện đại thời kỳ 4.0
2.2.2 Phương hướng hoàn thiện các quan hệ sản xuất
Nhà nước cần thực hiện cơ cấu lại nền kinh tế, phát triển cơ cấu doanh nghiệp và điều chỉnh kinh tế thị trường Về sở hữu, vẫn sẽ phát triển theo huớng tồn tại nhiều hình thức sở hữu khác nhau, nhiều thành phần kinh tế khác nhau
Về quản lý, trong kinh tế thị trường định huớng xã hội chủ nghĩa phải có
sự quản lý của Nhà nước xã hội chủ nghĩa Nhà nuớc điều tiết nền kinh tế bằng các công cụ như chính sách, tài khóa đồng thời sử dụng cơ chế thị trường, các hình thức kinh tế và phương pháp quản lý kinh tế thị trường để kích thích sản xuất, phát huy tính tích cực và hạn chế những mặt tiêu cực của cơ chế thị trường…
Trang 10Mặc dù quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất đem những lợi ích, hiệu quả lớn không thể phủ nhận nhưng nếu
áp dụng không đúng cách sẽ gây ra những sai lầm Chính vì vậy, cần hiểu biết rõ quy luật để biết áp dụng một cách đúng đắn
KẾT LUẬN
Như vậy, môn học Triết học Mác – Lenin là một môn khoa học có ý nghĩa
vô cùng quan trọng trong thực tiễn cuộc sống Việc học và hiểu về Triết học Mác – Lenin sẽ giúp cho học sinh, sinh viên nhất là các khối ngành kinh tế hiểu được những quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất áp dụng vào sự phát triển kinh tế của nước ta cũng như trên thế giới
Quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với sự phát triển của lực lượng sản xuất không chỉ là quy luật kinh tế mà còn là quy luật cơ bản nhất của toàn bộ đời sống xã hội của lịch sử nhân loại Sự tác động của quy luật này dẫn tới sự thay đổi của phương thức sản xuất và kéo theo sự thay đổi của toàn bộ đời sống xã hội Tuy nhiên, việc nắm bắt được quy luật này không phải là đơn giản, nhận biết được một quan hệ sản xuất có phù hợp với tính chất và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất hay không hoàn toàn phải phụ thuộc vào thực tiễn của sản xuất và kinh tế thị trường hiện nay
Nói tóm lại, để nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam muốn phát triển lớn mạnh hơn cần phải chú trọng đến phát triển lực lượng lao động và công cụ sản xuất, hoàn thiện các mối quan hệ sản xuất ngày càng hiệu quả và phù hợp hơn
Do thời gian nghiên cứu và trình độ hiểu biết bản thân còn nhiều hạn chế,
em rất mong nhận được sự thông cảm, góp ý của thầy cô để đề tài ngày càng được hoàn thiện