TÓM TẮT SÁNG KIẾN 1.Hoàn cảnh nảy sinh sáng kiến Môn Tiếng Việt là môn học bắt buộc trong chương trình Tiểu học. Một trong những mục tiêu quan trọng là giúp học sinh hình thành, phát triển năng lực ngôn ngữ và văn học cho học sinh, cụ thể là hình thành, phát triển cho học sinh các kĩ năng đọc, viết, nghe và nói với mức độ căn bản để làm công cụ cho các môn học khác và tự học một cách vững chắc. Thông qua các hoạt động đọc, viết, nói và nghe, môn học bước đầu hình thành cho học sinh năng lực văn học, giúp học sinh cảm nhận được cái hay cái đẹp của tác phẩm, nhân vật, hình ảnh, bồi dưỡng cảm xúc thẩm mĩ cho các em. Nói là một hoạt động phát tin nhờ sử dụng bộ máy phát âm. Ngay từ khi lọt lòng mẹ, mỗi con người đều có hoạt động nói. Nhưng để có kĩ năng nói, nói năng có văn hóa thể hiện trình độ văn minh lịch sự …thì phải trải qua một quá trình học tập và rèn luyện mới có được. Là một giáo viên được phân công giảng dạy khối lớp 1 đã nhiều năm, tôi nhận thấy vốn từ và ngôn ngữ nói của học sinh còn hạn chế, nói chưa đúng chủ đề, chưa đủ ý, đủ câu. Các em còn nhỏ chưa tự tin, ngại giao tiếp với mọi người xung quanh và đặc biệt là nói trước đông người. Vì thế, tôi rất lo lắng và băn khoăn làm thế nào để rèn kỹ năng nói tốt hơn cho học sinh. Điều đó thôi thúc tôi nghiên cứu, tìm tòi và mạnh dạn đưa ra một số biện pháp rèn kĩ năng nói trong các tiết Tiếng Việt cho học sinh lớp 1. 2. Điều kiện, thời gian, đối tượng áp dụng sáng kiến 2.1. Điều kiện con người Giáo viên dạy Tiếng Việt có chuyên môn vững vàng, đ¬ược trang bị kiến thức và kĩ năng tương đối tốt trong quá trình giảng dạy; nắm vững khả năng tiếp thu của đối t¬ượng học sinh để có biện pháp giảng dạy phù hợp. Học sinh: Học sinh lớp 1 đại trà (đặc biệt là học sinh ở vùng nông thôn). 2.2. Điều kiện về cơ sở vật chất: Phòng học, thiết bị dạy học môn Tiếng Việt, sách giáo khoa, sách thiết kế, .... 2.3.Thời gian áp dụng sáng kiến:Từ năm học 2021 – 2022 và tiếp tục trong năm học 2022 2023
Trang 1BẢN MÔ TẢ SÁNG KIẾN
MỘT SỐ BIỆN PHÁP RÈN KỸ NĂNG NÓI CHO HỌC SINH LỚP 1
Bộ môn: Tiếng Việt
Cấp học: Tiểu học
Năm học: 2022 - 2023
Trang 22 Lĩnh vực áp dụng sáng kiến: Môn Tiếng Việt lớp
3 Tác giả:
Họ và tên: Nguyễn Thị Hồng Hạnh Nam( nữ): NữNgày/tháng/năm sinh: 10/11/1977
Trình độ chuyên môn: Đại học Tiểu học
Chức vụ, đơn vị công tác: Giáo viên trường Tiểu học Thượng Vũ - huyện Kim Thành - tỉnh Hải Dương
Điện thoại: 0948228088
4 Chủ đầu tư tạo ra sáng kiến: Trường Tiểu học Thượng Vũ - huyện Kim Thành - tỉnh Hải Dương
5 Đơn vị áp dụng sáng kiến lần đầu (nếu có): Trường Tiểu học Thượng
Vũ - huyện Kim Thành - tỉnh Hải Dương
6 Các điều kiện cần thiết để áp dụng sáng kiến:
- Điều kiện con người:
+ Giáo viên dạy Tiếng Việt có chuyên môn vững vàng, được trang bị kiếnthức và kĩ năng tương đối tốt trong quá trình giảng dạy; nắm vững khả năng tiếpthu của đối tượng học sinh để có biện pháp giảng dạy phù hợp
8 Cam kết không sao chép hoặc vi phạm bản quyền: Tôi xin cam kết sáng
kiến " Một số biện pháp rèn kĩ năng nói cho học sinh lớp 1.” là do cá nhân tôi tự
viết, không sao chép Nếu sao chép, tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm
TÊN TÁC GIẢ (KÝ TÊN) XÁC NHẬN CỦA CƠ QUAN ĐƠN
VỊ ÁP DỤNG SÁNG KIẾN
Nguyễn Thị Hồng Hạnh
XÁC NHẬN CỦA PHÒNG GD&ĐT
Trang 3MÔ TẢ SÁNG KIẾN 1
4.2 Biện pháp 2: Tạo tâm thế hứng thú, hoàn cảnh giao
4.4 Biện pháp 4: Coi trọng phát triển lời nói của học sinh
qua phần luyện nói theo tranh (video) và trả lời câu
Trang 4TÓM TẮT SÁNG KIẾN 1.Hoàn cảnh nảy sinh sáng kiến
Môn Tiếng Việt là môn học bắt buộc trong chương trình Tiểu học Mộttrong những mục tiêu quan trọng là giúp học sinh hình thành, phát triển năng lựcngôn ngữ và văn học cho học sinh, cụ thể là hình thành, phát triển cho học sinhcác kĩ năng đọc, viết, nghe và nói với mức độ căn bản để làm công cụ cho cácmôn học khác và tự học một cách vững chắc Thông qua các hoạt động đọc, viết,nói và nghe, môn học bước đầu hình thành cho học sinh năng lực văn học, giúphọc sinh cảm nhận được cái hay cái đẹp của tác phẩm, nhân vật, hình ảnh, bồidưỡng cảm xúc thẩm mĩ cho các em Nói là một hoạt động phát tin nhờ sử dụng
bộ máy phát âm Ngay từ khi lọt lòng mẹ, mỗi con người đều có hoạt động nói.Nhưng để có kĩ năng nói, nói năng có văn hóa thể hiện trình độ văn minh lịch sự
…thì phải trải qua một quá trình học tập và rèn luyện mới có được
Là một giáo viên được phân công giảng dạy khối lớp 1 đã nhiều năm,tôi nhận thấy vốn từ và ngôn ngữ nói của học sinh còn hạn chế, nói chưa đúngchủ đề, chưa đủ ý, đủ câu Các em còn nhỏ chưa tự tin, ngại giao tiếp với mọingười xung quanh và đặc biệt là nói trước đông người Vì thế, tôi rất lo lắng vàbăn khoăn làm thế nào để rèn kỹ năng nói tốt hơn cho học sinh Điều đó thôithúc tôi nghiên cứu, tìm tòi và mạnh dạn đưa ra một số biện pháp rèn kĩ năngnói trong các tiết Tiếng Việt- cho học sinh lớp 1
2 Điều kiện, thời gian, đối tượng áp dụng sáng kiến
2.1 Điều kiện con người
- Giáo viên dạy Tiếng Việt có chuyên môn vững vàng, được trang bị kiếnthức và kĩ năng tương đối tốt trong quá trình giảng dạy; nắm vững khả năng tiếpthu của đối tượng học sinh để có biện pháp giảng dạy phù hợp
- Học sinh: Học sinh lớp 1 đại trà (đặc biệt là học sinh ở vùng nông thôn) 2.2 Điều kiện về cơ sở vật chất: Phòng học, thiết bị dạy học môn TiếngViệt, sách giáo khoa, sách thiết kế,
Trang 52.4 Đối tượng áp dụng sáng kiến: Môn Tiếng Việt lớp 1 – Cánh Diều.
3 Nội dung sáng kiến
Nội dung sáng kiến gồm 4 phần:
+ Phần 1: Những thông tin chung về sáng kiến
+ Phần 2: Tóm tắt sáng kiến
+ Phần 3: Mô tả sáng kiến tôi đưa ra những thuận lợi, khó khăn của học sinh khi
học chương trình Tiếng Việt bộ sách Cánh diều cũng như các bộ sách Tiếng Việt 1
trong chương trình sách giáo khoa 2018 Trong phần này tôi cũng đưa ra các biện
pháp giúp học sinh nắm chắc âm, vần, đọc tốt Tiếng Việt và hiểu nghĩa của TiếngViệt
+ Phần 4: Kết luận
3.1 Tính mới, tính sáng tạo của sáng kiến
Sáng kiến này đảm bảo tính chính xác, khoa học, phù hợp với lí luận về giáodục, phù hợp với chủ trương, nội dung của chương trình giáo dục phổ thông 2018
Sáng kiến có thể áp dụng vào dạy học trong các tiết Tiếng Việt- cho họcsinh lớp 1và các môn học khác
Các hình thức tổ chức hoạt động tôi nêu ra phát huy tính tích cực trong hoạtđộng học tập của học sinh và được biểu hiện như: say mê tìm hiểu, biết phánđoán, suy luận logic để có thể nhớ âm, vần một cách chính xác
Việc hướng dẫn học sinh tự tìm tòi, chiếm lĩnh kiến thức mới, mở rộng vốn
từ có vai trò quan trọng trong quá trình hình thành và phát triển kĩ năng nói và nghe Học sinh hiểu sâu hơn, nhớ lâu hơn kiến thức khi chính mình tìm ra hoặc góp phần cùng với các bạn tìm tòi, khám phá, xây dựng kiến thức
đọc-viết-Qua các bài học, học sinh sẽ ghi nhớ và nhớ lâu âm, vần, tiếng, từ và phát biểu thành câu văn hoàn chỉnh, biết phân tích cấu tạo của các vần, tiếng, từ để đi đến phát âm chuẩn Tiếng Việt, viết đúng Tiếng Việt và nói đúng mục đích khi các em được mở rộng vốn từ, hiểu nghĩa của tiếng - từ
3.2 Khả năng áp dụng của sáng kiến
Trang 6và cho các đối tượng học sinh
Các giải pháp đưa ra dễ thực hiện, có tính khả thi Hơn nữa, giáo viên nàocũng có thể thực hiện được
3.3 Lợi ích của sáng kiến
Sáng kiến dễ vận dụng, không tốn kém kinh tế, làm tăng hứng thú học tậpcho học sinh trong tiết học và đặc biệt hiệu quả tiết học cao
4 Khẳng định giá trị, kết quả đạt được của sáng kiến
Khi áp dụng sáng kiến vào trong giảng dạy môn Tiếng Việt 1- Cánh Diều,học sinh có sự chuyển biến rõ rệt về kỹ năng nói, kỹ năng giao tiếp, mạnh dạn,
tự tin hơn; giáo viên có thêm nhiều kinh nghiệm trong dạy học môn Tiếng Việt
1 – Cánh Diều theo chương trình GDPT 2018
5 Đề xuất khuyến nghị để thực hiện áp dụng
Để sáng kiến được nhân rộng và áp dụng rộng rãi đề nghị với Ban giámhiệu và tổ chuyên môn giúp đỡ về cơ sở vật chất, về nhân lực, vật lực và trí lựcgiúp cho các em được hình thành và phát triển cả về năng lực, phẩm chất, đápứng được yêu cầu đổi mới hiện nay
Trang 7MÔ TẢ SÁNG KIẾN
1 Hoàn cảnh nảy sinh sáng kiến
1.1 Xuất phát từ mục tiêu môn Tiếng Việt
Bước vào kỉ nguyên mới, đất nước ta đã có nhiều đổi mới, đổi mới vềkinh tế, xã hội, giáo dục… Sự đổi mới của nền giáo dục đã giúp cho những chủnhân tương lai của đất nước luôn được phát triển toàn diện, đầy đủ về năng lực,trí tuệ, nhân cách Việc nắm bắt kiến thức, tri thức chính là tiền đề để từ đó hìnhthành nên những kĩ năng cần thiết của cuộc sống, hành động đúng của bản thân
Tiểu học là bậc học đặt cơ sở và nền móng cho toàn bộ hệ thống giáo dụcQuốc dân Nằm trong chương trình giáo dục tiểu học, môn Tiếng Việt có một vịtrí, vai trò vô cùng quan trọng Đây là môn học chiếm thời lượng rất lớn trongchương trình của cả cấp học
Môn Tiếng Việt cung cấp cho học sinh những mẫu đúng đắn của ngôn ngữnghệ thuật, giáo dục cho các em văn hóa lời nói, dạy cho các em biết truyền đạt tưtưởng, hiểu biết, tình cảm của mình một cách đúng đắn, chính xác và biểu cảm Từ
đó hình thành và phát triển cho học sinh kĩ năng sử dụng Tiếng Việt (đọc, viết, nghe,nói) để học tập và giao tiếp trong các môi trường hoạt động của lứa tuổi
Ông cha ta thường nói: “Học ăn, học nói, học gói, học mở” Nói là một
hoạt động phát tin nhờ sử dụng bộ máy phát âm Ngay từ khi lọt lòng mẹ, mỗicon người đều có hoạt động nói Nhưng để có kĩ năng nói, nói năng có văn hóathể hiện trình độ văn minh lịch sự …thì phải trải qua một quá trình học tập vàrèn luyện mới có được
1 2 Xuất phát từ tầm quan trọng của việc rèn kỹ năng nói cho học sinh lớp 1
Việc rèn kĩ năng nói cho học sinh ngay từ khi mới vào lớp 1 đã trở thành một
nội dung không thể thiếu trong mỗi giờ Học vần hay Tập đọc Thông qua giờ học sẽ
giúp học sinh làm quen với không khí học tập mới, không rụt rè, nhút nhát, dám
Trang 8mạnh dạn nói cho các bạn nghe, nghe các bạn nói theo hướng dẫn của thầy cô giáo
trong môi trường giao tiếp mới: “Giao tiếp văn hóa, giao tiếp học đường” Điều này
đòi hỏi người thầy phải biết khơi dạy hứng thú nói cho học sinh và biết lắng nghe
các em nói, để các em nói một cách tự nhiên Từ đó định hướng chữa lời nói cho các
em sao cho đúng, rèn luyện cho học sinh nói tốt làm nền móng cho học sinh phát
triển triển ngôn ngữ nói, viết trong suốt quá trình học sau này
1.3 Xuất phát từ thực tế dạy học môn Tiếng Việt trong chương trình giáo dục phổ thông 2018 hiện nay.
Môn Tiếng Việt lớp 1 chiếm một vị trí quan trọng trong bậc Tiểu học Nó lànền móng cho việc học môn Tiếng Việt ở các lớp tiếp theo của bậc Tiểu học vàTrung học sau này
Năm học 2022 – 2023 là năm thứ ba thực hiện Chương trình giáo dục phổthông 2018 dành cho học sinh khối lớp 1 nên không ít phụ huynh học sinh lolắng việc thay sách ảnh hưởng đến việc tiếp thu bài của con em mình Nhiều phụhuynh lo các con không biết đọc, biết viết, kỹ năng nói, giao tiếp còn hạn chế vàkhông biết có phải dạy kèm con và dạy trước bài hay không
Qua thực tế giảng dạy cho thấy có nhiều học sinh tiếp thu chậm, khôngnhớ âm – vần đã học, dẫn đến việc các em đọc chậm, đọc nhưng không hiểunghĩa, phát âm còn nhầm lẫn dấu thanh, âm cuối, l/n, viết bài hay sai chính tả.Khi yêu cầu các em nêu tiếng-từ thì tiếng-từ các em đưa ra nhưng không hiểunghĩa
Trang 9Xuất phát từ những lí do trên nghiên cứu và viết sáng kiến “Rèn kỹ
năng nói cho học sinh lớp 1” giúp cho học sinh nói đúng chủ đề, đủ câu, đủ ý
và biết sử dụng ngôn từ hay vào giao tiếp cuộc sống thực tiễn hàng ngày
2 Cơ sở lí luận và cơ sở thực tiễn
2.1 Cơ sở lý luận
Việc nâng cao chất lượng giảng dạy nói chung và ở bậc Tiểu học nói
riêng đang là mối quan tâm chung của toàn xã hội Nâng cao chất lượng giảngdạy ở Tiểu học sẽ góp phần quan trọng cho việc thực hiện mục tiêu đào tạo củangành Giáo dục là đào tạo con người mới một cách có hệ thống, vững chắc ngay
từ khi các em mới cắp sách đến trường
Theo Tài liệu Tập huấn giáo viên theo SGK Cánh diều: Tiếng Việt là
môn học bắt buộc trong chương trình Tiểu học Một trong những mục tiêu giáodục của môn học này ở lớp 1 là: Góp phần thực hiện mục tiêu chung của mônhọc là hình thành, phát triển năng lực ngôn ngữ và văn học cho học sinh (HS),
cụ thể là hình thành, phát triển cho học sinh các kĩ năng đọc, viết, nghe và nóivới mức độ căn bản để làm công cụ học các môn học khác và tự học Mức độcần đạt đối với kĩ năng nói ở lớp 1 như sau:
- Nói: Nói rõ ràng, thành câu; Biết nhìn vào người nghe khi nói; Đặt được câu hỏi đơn giản và trả lời đúng vào nội dung câu hỏi; Nói và đáp lại được lời chào hỏi, xin phép, cảm ơn, xin lỗi, phù hợp với đối tượng người nghe; Biết giớithiệu ngắn về bản thân, gia đình, đồ vật yêu thích dựa trên gợi ý; Kể lại được một đoạn hoặc cả câu chuyện đơn giản đã đọc, xem hoặc nghe (dựa vào các tranh minh hoạ và lời gợi ý dưới tranh); Biết đưa tay xin phát biểu, chờ đến lượt được phát biểu; Biết trao đổi trong nhóm để chia sẻ những ý nghĩ và thông tin đơn giản
Trong đó, kĩ năng nói được luyện tập kết hợp trong kĩ năng đọc, nghe,viết Thông qua hoạt động nói các em phát huy được vốn ngôn ngữ mẹ đẻ, nóiđúng cấu trúc ngữ pháp, mở rộng thêm vốn từ làm cơ sở cho việc tiếp thu tri
Trang 10thức sau này, góp phần hoàn thiện nhân cách của con người Việt Nam Vì ngoàicung cấp cho học sinh hệ thống câu từ, lời nói còn rèn luyện cho các em tính cẩnthận, sự tự tin trước đám đông, trách nhiệm với bản thân và tôn trọng ngườitham gia giao tiếp
Dạy tiếng mẹ đẻ chỉ được coi là thành công khi học sinh có được cả bốn kĩ
năng: nghe, nói, đọc, viết Trong đó việc rèn kỹ năng cho học sinh có kĩ năng mạnh
dạn, tự tin, rõ ràng ngay từ lớp 1 là vấn đề cần thiết giúp các em tham gia vào hoạt
động một cách rõ ràng
Có nhiều yếu tố ảnh hưởng tới kĩ năng nói Trước tiên phải kể đến hoạtđộng của bộ máy phát âm Nếu bộ máy máy phát âm có khuyết tật thì sẽ ảnhhưởng đến kĩ năng nói (nói ngọng, nói lắp bắp…) Thái độ đúng đắn của ngườigiáo viên là sự hướng dẫn tận tình, đặc biệt là sự động viên tinh thần, thươngyêu, giúp đỡ bạn của các em trong lớp Mặt khác, vốn sống, vốn hiểu biết sâurộng của người nói, khả năng ứng đối nhanh nhạy, thông minh, cách chọn đề tàinói sao cho mới mẻ, đúng sở trường của bản thân và trúng yêu cầu của ngườinghe Đó là yếu tố ảnh hưởng đến sự thành bại của bài nói hoặc câu trả lời
Ở học sinh lớp 1, ngôn ngữ chưa phát triển, vốn từ của các em còn hạnchế, chưa biết cách dùng từ, kỹ năng nói của mỗi em khác và chưa hoàn thiện,hầu hết các em còn rụt rè, e ngại Luyện nói sẽ giúp các em mạnh dạn, tự tin hơntrong giao tiếp Các em biết sử dụng từ, phát huy trí tưởng tượng về ngôn ngữ theomột chủ đề, hoàn cảnh giao tiếp Mặt khác, dạy nói cho học sinh lớp 1 phải gắn cảvới việc dạy đọc, dạy viết, dạy nghe
Do vậy, khi dạy học sinh luyện nói theo chủ đề, giáo viên phải có nhiềusáng tạo, nhạy bén, linh hoạt trong quá trình lên lớp
2.2 Cơ sở thực tiễn
Trang 11Trong trường Tiểu học kỹ năng luyện nói là một trong bốn kỹ năng quantrọng cần rèn luyện cho học sinh Trong quá trình giảng dạy, nhiều năm qua tôinhận thấy: Kỹ năng nói của học sinh Tiểu học nói chung và kỹ năng nói của họcsinh lớp 1 nói riêng nhìn chung còn nhiều hạn chế Các em chưa phát huy tínhsáng tạo, cơ hội bộc lộ vốn ngôn ngữ, kỹ năng dùng từ, các em chưa phát huyđược khả năng nói Các em nói chưa được tự nhiên còn hay rụt rè, phát âm chưađúng, không tự nhiên khi nói trước lớp Các em chưa diễn đạt tròn câu Chính vìthế để nâng cao chất lượng phân môn học vần nói chung và phần luyện nói nóiriêng đó là một vấn đề cần quan tâm Làm tốt được việc này là góp phần nângcao kỹ năng nói cho học sinh, làm giàu vốn ngôn ngữ và trang bị cho học sinh
kỹ năng nói, giao tiếp tự nhiên hơn Đồng thời kỹ năng nói còn trang bị cho họcsinh cách giao tiếp thể hiện được lời nói lịch sự, tế nhị của mối quan hệ giữa bạn
bè trong trường, gia đình, xã hội
Học sinh lớp 1 còn nhỏ nên các em chưa tự tin, ngại giao tiếp với mọi
người xung quanh và đặc biệt là nói trước đông người Mặt khác, tâm sinh lí của
học sinh lớp 1 chưa phát triển hoàn thiện nên các em chưa chú ý lắng nghe một
cách tích cực khi giáo viên nêu yêu cầu đến lúc trình bày thường câu trả lời
không đúng mục đích hoặc chưa hết ý Các em còn ỷ lại chưa chịu khó tìm tòi
câu trả lời hay cho riêng mình Hơn nữa phần lớn bố mẹ các em ít có thời gian
để hướng dẫn con mình học bài, hay lắng nghe con mình nói và không chú
Trang 12trọng tới việc hướng dẫn các em cách nói đúng hoặc sửa lời nói cho các em và
luôn cho rằng: “ Lời nói của trẻ con không cần để ý.”
Chính vì vậy nhiều em không biết nói ra ý kiến của mình như thế nào? Hoặc nói không đủ câu, không đủ ý và nói trống không…
Tuy nhiên với học sinh lớp 1 cũng có những điểm thuận lợi sau:
Trước khi vào lớp 1 ngay từ đầu học sinh cũng đã được làm quen với tiếng mẹ
để từ trong cuộc sống hàng ngày Đó là một phương tiện rất cần thiết trong cuộcsống giúp các em có thể giao tiếp với mọi người xung quanh Khi vào lớp mộtvới việc học môn Tiếng Việt có tổ chức, phương pháp khoa học từ đó sẽ giúpcác em được củng cố thêm hiểu biết các kỹ năng sử dụng của tiếng mẹ đẻ củamình, từ đó giúp các em học tốt các môn học khác và giao tiếp tốt hơn Giảngdạy luyện nói cho học sinh lớp 1 giúp các em có được những ngôn từ, ngôn bản
để phục vụ học tập và giao tiếp Do vậy nếu giáo viên vận dụng các phươngpháp, hình thức tổ chức dạy học phù hợp với nội dung luyện nói sẽ giúp họcsinh tích cực, chủ động, sáng tạo cho các em học sinh Từ đó nâng cao hiệu quảdạy học, tăng cường sử dụng ngôn ngữ nói của học sinh
Tôi luôn có những suy nghĩ: Làm thế nào để giúp các con khắc phục đượcnhững khó khăn đó để các con tự tin giao tiếp, học tập và phát triển hoàn thiệnnhân cách ?
Là một người giáo viên phụ trách lớp 1 cũng đã vận dụng nhiều phương
pháp truyền thống từ trước mà giáo viên vẫn áp dụng vào giảng dạy giúp cho
luyện nói học sinh được nâng cao như: Phương pháp vấn – đáp giữa giáo viên và
học sinh; khai thác những tranh có sẵn trong sách giáo khoa cho học sinh luyện
Trang 13nói, giáo viên cho học sinh luyện đọc trong các giờ Tập đọc với những hình thức
tổ chức đơn thuần như cá nhân, nhóm và luyện đọc đồng thanh cả lớp hay như
cho học sinh trình bày một vấn đề giáo viên đưa ra
Với những phương pháp trên mà giáo viên đã thực hiện giúp cho các em
luyện nói tốt hơn Tuy nhiên kết quả không khả quan: Học sinh rụt rè, không
mạnh dạn giao tiếp, nói và trả lời câu hỏi còn rất nhỏ Với phương pháp cũ không phát huy được phẩm chất năng lực cho học sinh lớp 1
3 Thực trạng của vấn đề
Ngay từ đầu năm học với học sinh lớp 1 tôi nhận thấy: Đa số học sinh chưa thực sự thấy được sự cần thiết của hoạt động luyện nói Nhiều học sinh không có hứng thú trong giờ học, giờ học thiếu sự sôi nổi, sinh động, việc xây dựng bài chỉ tập trung vào một số học sinh, dẫn đến hiện tượng trong giờ
có em làm việc riêng, thờ ơ với kiến thức của bài, không chú ý học trong học tập, nói năng còn chưa rõ ràng, ngại nói trước đám đông
Học sinh lớp 1 còn nhỏ và đầy bỡ ngỡ, ngôn ngữ và vốn từ hạn chế;Trong các giờ “Học vần” hoặc “Tập đọc” giáo viên thường chú trọng rèn họcsinh đọc đúng, to, lưu loát, viết đúng đẹp… còn phần luyện nói chưa dành thờigian nhiều Do vậy kết quả khảo sát về các mức độ luyện nói của học sinh ngay từ thời gian đầu năm học 2021 - 2022 chưa cao
đề, đủ câu
Trang 14SL % SL % SL % SL %
Qua bảng khảo sát trên cho thấy kết quả khảo sát về mức độ đọc của họcsinh thời gian đầu năm: Học sinh nói đủ câu, đúng chủ đề và biết phát triển lờinói không có em nào đạt; Học sinh nói đúng chủ đề, đủ câu đạt kết quả rất thấp
có 8 học sinh chiếm 21,6 %; Học sinh nói đúng chủ đề nhưng chưa đủ câu cònchiếm tỷ lệ % cao nhất so với 3 mức độ còn lại: 16 em; đạt 43,2 %; Học sinh nóikhông đúng chủ đề, đủ câu còn tồn tại 13 em học sinh; đạt: 35,2 %
Trước thực trạng trên, tôi luôn trăn trở và cố gắng tìm ra giải pháp hay vàthự tiễn để giúp các em khắc phục được những khó khăn đó để các con tự tingiao tiếp, học tập và phát triển hoàn thiện nhân cách
4.1 Giáo viên chuẩn bị hành trang chu đáo cho tiết học
Muốn học sinh luyện nói tốt, tích cực tham gia vào hoạt động luyện nói,giáo viên phải có sự chuẩn bị chu đáo
Trước hết, giáo viên phải chuẩn bị kĩ hệ thống câu hỏi, đoạn video Câu hỏi cótính chất gợi mở, có lựa chọn để giúp cả lớp có được những ý chính của chủ đề cầnđược nói Sau đó câu hỏi được nâng dần cao hơn, khái quát hơn qua hình ảnh vàvideo bài hát:
Ví dụ 1: Ở Bài mở đầu: Em là học sinh với hoạt động 2: Học sinh tự giới
thiệu bản thân (Tiếng Việt -Tập 1, trang 4-5 - NXB Đại học sư phạm TP Hồ Chí
Minh) ngoài chuẩn bị tranh như trong SGK phóng to với, tôi chuẩn bị video bàihát: “Lớp Một của em
Trang 15(Nhạc Bùi Anh Tú; Thơ Nguyễn Trọng Hoàn).
Sau khi xem quan sát tranh video và nghe xong, học sinh rất hào hứng nói
về ngày đầu tiên đến trường của em và cảm xúc của mình với ngày đầu tiên đếnlớp Học sinh thảo luận cặp đôi sau đó trình bày với những câu hỏi sau:
+ Tranh vẽ gì?
+ Trong tranh bạn thấy có ai và có những gì?
+ Những người trong tranh đang làm gì?
+ Bài hát nói về điều gì?
- Một số câu hỏi khác khái quát hơn để các nhóm cùng thảo luận, diễn đạt
ý hoàn chỉnh, thành một đoạn văn:
+ Em hãy nêu cảm xúc của em trong ngày đầu tiên đến trường?
+ Em có thích đến trường không? Vì sao?
+ Em cần phải thực hiện điều gì khi đến lớp? Vì sao?
Việc sắp xếp các câu hỏi có hệ thống như vậy đã cuốn hút các em trongquá trình luyện nói, các em luyện nói hào hứng hơn
Trong chương trình, phần gợi ý sách giáo khoa (SGK) qua hình vẽ rất ít,
có khi chỉ có một hoặc hai câu gợi ý, hình ảnh không diễn tả hết nội dung bài,
bởi vậy nếu người giáo viên chỉ làm theo SGK, sách giáo viên (SGV) không mở
rộng thêm thì học sinh khó có thể nói được Giáo viên chuẩn bị và đưa ra hệ
thống câu hỏi ngoài những gợi ý ở SGV, để giúp các em tập trung những hiểu
biết vốn có trong cuộc sống để nói về chủ đề công việc qua việc trả lời các câu
hỏi của giáo viên
Trang 16Vì vậy, giáo viên phải đầu tư trong bài soạn, chuẩn bị tốt hệ thống câu hỏigợi mở, có thể chẻ nhỏ các gợi ý đối với các đối tượng học sinh yếu mới có thểphát huy vốn sống, kiến thức thực tế của trẻ trong tiết học Từ đó học sinh tíchcực tham gia luyện nói, học sinh phát triển được ngôn từ, phát triển được lời nóiphong phú và dần hình thành cho học sinh sự hoạt ngôn trong giao tiếp.
Ví dụ: Phần đọc hiểu: Bài: “Mưu chú thỏ” (Tiếng Việt 1- NXB Đại học sư
phạm TP Hồ Chí Minh -Tập 2,
trang 45-(SGK chỉ có 1câu hỏi: Vì sao hổ tự lao đầu xuồng giếng? mà SGV
không có câu hỏi gợi ý gì thêm)
Giáo viên có thể đưa ra câu hỏi yêu cầu học sinh trả lời:
+ Hổ đã đưa ra luật lệ gì?
+ Đến lượt thỏ, nó cảm thấy như thế nào?
+ Thỏ nghĩ ra kế gì?
+ Theo em có con hổ nào dưới giếng không?
+ Vì sao hổ tự lao đầu xuống giếng?
+ Em thấy thỏ là con vật như thế nào?
Tùy theo đối tượng học sinh, giáo viên có thể cho học sinh nói theo khảnăng của mình: một đoạn, hai câu, một câu Hoạt động nói bao giờ cũng bắtnguồn từ nhu cầu giao tiếp nhất định Học sinh sẽ không thể nói được hoặc nóikhông được hiệu quả khi trình bày bài nói của mình trong điều kiện mơ hồ,gượng ép
Do vậy, giáo viên giáo viên cần nắm chắc mục tiêu chính của chủ đề, câu hỏi,nội dung muốn nói đến giúp học sinh xác định được những việc cần làm để thựchiện tốt Đó là: Nói về đề tài gì? Nói cho ai nghe? Nói để làm gì? Chỉ khi nào tìm
Trang 17được câu trả lời chính xác cho những câu hỏi này thì các em mới thực hiện bài luyệnnói của mình có hiệu quả.
Với học sinh lớp 1, nội dung để rèn kĩ năng nói thường là các trả lời các câuhỏi về các chủ đề, nội dung bài học gần gũi với các em Đặc biệt ở mỗi bài Học vần,Tập đọc sẽ có những nội dung hoặc tranh ảnh giúp các em có cơ hội luyện nói tươngứng nên giáo viên hướng dẫn học sinh nói đúng chủ đề, nội dung bằng cách: Nêucâu hỏi hướng đến nội dung tranh, nội dung bài học Giáo viên cũng có thể tận dụngtranh vẽ, hình ảnh… cho học sinh quan sát để giới thiệu bài học Có thể coi tranh làmột tình huống thể hiện của chủ đề luyện nói Khi học những chủ đề quen thuộc
như; chủ đề: “Trường học”, chủ đề: “Gia đình em”… giáo viên có thể khuyến khích
học sinh sưu tầm thêm tranh ảnh mang đến lớp để quan sát, thảo luận cùng nhau qua
đó có thể cùng nhau luyện nói
Chính hình ảnh các em chuẩn bị có khi là sở thích của các em, các em hiểu rõ
về nội dung bức tranh và nội dung liên quan bài học hơn Bởi vậy sẽ tạo cho trẻ niềmvui, hứng thú khi các em được nói, kể về chúng với bạn bè của mình Điều đó cũnggóp phần giúp nội dung luyện nói của giáo viên đạt hiệu quả
4.2 Tạo tâm thế hứng thú, hoàn cảnh giao tiếp tốt cho học sinh
* Tạo tâm thế hứng thú, sẵn sàng học tập cho học sinh
Như chúng ta đã biết chất lượng dạy và học không thể nâng cao nếu chỉ đổi
mới phương pháp giảng dạy mà không chú ý đến việc đổi mới phương pháp học
của học sinh bởi dạy và học là hai hoạt động có mối liên quan khăng khít với
nhau Vì vậy điều quan trọng là giáo viên phải dạy cho học sinh
cách học Muốn các em tự giác học thì trước hết ta phải tạo hứng thú học tậpcho học sinh Với hoạt động nói cũng vậy, chỉ khi các em thích được nói, cóhứng thú nói thì hoạt động nói lúc đó mới có kết quả cao
Trang 18Để gây hứng thú nói cho học sinh ngay từ buổi đầu tiên không ai khác ngoàigiáo viên chủ nhiệm là phải mang lại cho các em sự thân thiện, gần gũi, niềm vuitươi thoải mái… Buổi đầu tiên bước chân đến trường chứa đựng trong trẻ bao băn
khoăn, lo lắng: Trường học ở đâu? Như thế nào? Lớp học ra sao? Cô giáo mình là
ai? Cô như thế nào? Các bạn ra sao? Tất cả đều mới mẻ, lạ lẫm trong con mắt
các em Vì vậy, trong buổi học ấy, giáo viên không nên đưa ra những quy định nàyhay yêu cầu kia… khiến các em lo lắng, sợ hãi
Ngay từ buổi đầu nhận lớp tôi làm quen với học sinh, cho các em làmquen với nhau bằng cách tự giới thiệu tên mình với cả lớp, cho các em cùngbàn hỏi nhau về tên, tuổi của bạn rồi giới thiệu về mình cho cả lớp nghe dưới
những câu hỏi gợi ý của cô: “Em tên là gì?”, “Em lên mấy tuổi ?”, “Nhà em ở
đâu?”…
Với những em thích hát tôi khuyến khích, động viên các em lên hát một bài hayđọc một bài thơ mà các em thích Vài em đầu có thể nói nhỏ, rụt rè nhưng nhìn cử chỉthân thiện, gần gũi, nét mặt tươi vui và giọng nói nhẹ nhàng của cô với những tiếng vỗtay khích lệ của bạn bè dần dần các em sẽ mạnh dạn hơn, muốn được thể hiện mìnhtrước cô và các bạn
Ngoài ra, việc kể cho các em nghe một câu chuyện phù hợp với các em(Cô bé quàng khăn đỏ, Ong mật và ong bầu…) bằng cách kể hấp dẫn của tôicũng góp phần không nhỏ trong việc gây hứng thú cho học sinh trong việc nghe
và kể lại câu chuyện
Sau buổi học ấy, bao băn khoăn, lo lắng của các em học sinh đều được giải
tỏa Các em bỗng hiểu ra: “Đi học thật là thích” vì có cô giáo hiền kể chuyện rất
hay, được làm quen, chơi đùa với nhiều bạn mới… Từ đó các em háo hức mong chờ
buổi học sau lại được đến trường để khoe với bạn, kể với cô bao điều mới lạ
Trang 19Không chỉ có buổi học đầu tiên ấy, cũng không phải chỉ trong giờ học đầu tiên ấy, cũng không phải chỉ trong giờ học Tiếng Việt mà tôi còn luôn duytrì bồi dưỡng hứng thú cho các em ở tất cả các giờ học Đó là việc làm thườngxuyên liên tục Có thể chỉ là một lời động viên khích lệ, một lời khen đúng lúccũng làm cho các em hứng thú với giờ học và làm tốt hơn với yêu cầu của cô.
Hứng thú không tự nhiên mà có được, khi có hứng thú mà không được duy trì
nó sẽ mất đi nhanh chóng Vì vậy tôi luôn quan tâm bồi dưỡng hứng thú cho họcsinh Theo tôi, mỗi giáo viên là một người thầy, một người mẹ, một người bạn đểgiảng dạy, quan tâm, thông cảm, động viên khích lệ các em cũng là một cách để tạohứng thú nói cho học sinh
Để có được kĩ năng nói tốt, người nói cần có sự chuẩn bị tốt, tức là cầnxác định được những việc cần làm để thực hiện lời nói có hiệu quả Đối với họcsinh lớp 1, sự chuẩn bị trước tiên cho kĩ năng nói tốt là tạo hứng thú cho họcsinh Giáo viên cần tạo cho học sinh một tâm thế hào hứng để bước vào giờ học.Bởi lẽ, việc thể hiện lời nói thường khó Mặt khác, các em thường e ngại, rụt rè,
sự chú ý không cao
Vì vậy, giáo viên cần tạo không khí học tập nhẹ nhàng, tự nhiên, khơi dâytrí tò mò của các em và duy trì tốt trong giờ học
Ví dụ: Khi học bài Kể chuyện "Ong mật và ong bầu” (Tiếng Việt 1 - NXB
Đại học sư phạm TP Hồ Chí Minh - Tập 2, trang 12) tôi gợi mở cho các em:
“Hôm nay cô cùng các em sẽ nghe một câu chuyện có nội dung hết sức hấp dẫncác con muốn biết đó là câu chuyện nào không?”
Tôi cho học sinh nghe và hát bài “Chị ong nâu và em bé”
Sau học sinh xem xong tôi hỏi học sinh:
+ Bài hát các em vừa hát nói về con gì?
+ Chị ong nâu có điểm gì đáng yêu?
+ Đức tính đó có tốt không?
Học sinh có câu trả lời ngay sau đó:
Trang 20+ Bài hát nói về chị ong nâu
+ Chị ong nâu chăm chỉ làm mật,…
Sau phần trả lời của học sinh, tôi nói: “Trong thế giới tự nhiên có rất
nhiều loài ong khác nhau, mỗi loại ong đều có một nhiệm vụ riêng Vậy mỗi loại
ong đó có nhiệm vụ gì? Cô và các em cùng tìm hiểu qua câu chuyện: Ong mật
và ong bầu
Qua cách làm trên, tôi thấy học sinh rất hứng thú, muốn tìm hiểu về nộidung mà cô vừa đưa ra, lớp học sôi nổi hẳn lên sau thời gian học đọc, học viếtcăng thẳng, kích thích học sinh tham gia trả lời, trình bày ý kiến của bản thân,cũng từ đó đã khơi dậy được trí tò mò của các em
* Tạo hoàn cảnh giao tiếp tốt cho học sinh:
Hoàn cảnh giao tiếp để học sinh luyện nói trong giờ Tiếng Việt chính làđiều kiện lớp học trong thời điểm luyện nói Điều kiện này bao gồm: không khílớp học, tư thế của giáo viên, trật tự của lớp học và những hoạt động khác cóảnh hưởng trực tiếp tới việc luyện nói của học sinh
Giáo viên cần giáo dục học sinh trong lớp biết cách lắng nghe và có thái
độ đúng đắn khi nghe bạn nói Giáo viên phải là người động viên, khích lệ kịpthời để học sinh phấn khởi trong khi nói
Ví dụ: Bài 65: Hoạt động đọc bài: Tiết Tập viết (Tiếng Việt- NXB Đại
học sư phạm TP Hồ Chí Minh -tập 1-trang 119)
Sau hướng dẫn học sinh tìm hiểu nội dung bài, giáo viên có thể cho học sinhthảo luận nhóm đôi đóng vai bạn Hà và bạn Kiên thực hiện nói lời xin lỗi và đáp lạisau đó lên trình bày trước lớp
Trang 21+ Học sinh đóng vai bạn Kiên có thể nói: Tớ không cố ý! Tớ xin lỗi nhé! Hoặc Tớ lỡ tí mà! Cậu đừng giận nhé!, …
+ Học sinh đóng vai bạn Hà có thể nói: Tớ không sao đâu! Hoặc Mình
không sao!, ….
Sau khi học sinh nói trước lớp như vậy tôi thưởng cho cả lớp một tràng
pháo tay để chúc mừng vì các bạn đã biết nói lời xin lỗi cũng như đáp lại lời xinlỗi
Được cô khen, bản thân học sinh phấn khởi, tích cực hơn ở câu hỏi tiếptheo.Và thấy bạn được cô khen, nhiều học sinh khác cũng muốn thể hiện mình
Như chúng ta đã biết, không khí lớp học góp phần tạo lên thành công củatiết dạy Nếu không khí lớp học sôi nổi sẽ kích thích hứng thú học tập của họcsinh và giúp giáo viên phấn khởi, tự tin trong việc giảng bài Ngược lại, nếukhông khí lớp học trầm sẽ hạn chế khả năng luyện nói của học sinh
Chính vì vậy, trước khi vào mỗi tiết học tôi luôn ổn định lớp học, tạo không khílớp học sôi nổi Sự gần gũi, tôn trọng học sinh, cởi mở trong giao tiếp với họcsinh sẽ giúp các em tự tin hơn, dám nói những suy nghĩ của bản thân
4.3 Hướng dẫn học sinh nói đủ câu, đủ ý, khắc phục tình trạng rụt
rè, nhút nhát, bắt chước bạn khi nói.
Thực tế chứng minh rằng một số học sinh ở lớp 1 khi trả lời giáo viên, các
em thường nói trống không , nói không đủ câu Nguyên nhân có trẻ do thói quen
giao tiếp
hàng ngày, do vốn từ ít và khả năng ghi nhớ nội dung câu hỏi của
giáo viên chưa cao Để hạn chế tối đa tình trạng này trong giảng dạy khi học