TIỂU LUẬN MÔN KHOA HỌC CHÍNH SÁCH CÔNG ĐỀ TÀI “HỢP THỨC HÓA HÔN NHÂN ĐỒNG GIỚI Ở VIỆT NAM” MỞ ĐẦU 1.Tính cấp thiết của đề tài: Trong quan niệm nhiều người thì việc hai người đồng tính kết đôi với nhau là điều không bình thường, song nếu nhìn nhận rằng mọi người đều có quyền mưu cầu hạnh phúc, và là hạnh phúc chính đáng, xuất phát từ tình yêu chân thành thì sẽ không khó để trả lời cho câu hỏi hôn nhân đồng tính có hợp tình hợp lý hay không. Những người ủng hộ cộng đồng LGBT và hợp pháp hóa hôn nhân đồng giới tại Nhật Bản cho rằng: Nếu hôn nhân đồng giới được pháp luật thừa nhận, chúng ta sẽ xây dựng một xã hội mà thế hệ sau không còn phải sống trong nỗi sợ ấy nữa. Trong chiến dịch tên là Tôi đồng ý – I Do do trung tâm ICS, Viện nghiên cứu iSEE, nhóm 6+ và cộng đồng LGBT Việt Nam phát động từ ngày 13102013 nhằm kêu gọi mọi người ủng hộ hôn nhân đồng giới, Nhà văn Trang Hạ: Có nhiều cách để được hạnh phúc, cách đơn giản nhất là đi tới, yêu người mình yêu. Có nhiều cách để được hạnh phúc, vì hạnh phúc không nhất thiết phải được trình diễn theo cùng một kiểu. Có nhiều lý do để chúng ta trân trọng bản thân. Nên cũng có rất nhiều lý do để chúng ta cần trân trọng cả những người khác nữa. Nên đây là quan điểm của tôi: Tôi đồng ý. Thực tế, việc cho phép những người đồng tính kết hôn không gây xâm phạm gì đến lợi ích, quyền của người khác, mà chỉ mang lại hạnh phúc và sự bảo vệ cho những người đồng tính vốn là một phần bình thường, tự nhiên và không thể tách rời của xã hội. Hiện nay, cộng đồng LGBT chiếm số lượng không ít trong xã hội, càng ngày họ càng mong muốn được sống đúng với giới tính của mình, được xã hội nhìn nhận đúng đắn và đặc biệt là được công nhận hôn nhân. Vì vậy, tôi lựa chọn vấn đề “Hợp thức hóa hôn nhân đồng giới ở Việt Nam” làm đề tài tiểu luận, nhằm ủng hộ cộng đồng LGBT, làm rõ thực trạng hôn nhân đồng giới tại Việt Nam hiện nay và đưa ra một vài giải pháp góp sức để hôn nhân đồng giới sớm được hợp pháp hóa.
Trang 1TIỂU LUẬN MÔN: KHOA HỌC CHÍNH SÁCH CÔNG
ĐỀ TÀI: “HỢP THỨC HÓA HÔN NHÂN ĐỒNG GIỚI
Ở VIỆT NAM”
Trang 2MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 3
1.Tính cấp thiết của đề tài: 3
2 Mục đích nghiên cứu: 4
3 Mục tiêu nghiên cứu: 4
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu: 4
5 Phương pháp nghiên cứu: 5
6 Kết cấu của tiểu luận: 5
NỘI DUNG 6
I Vài nét về cộng đồng LGBT và thực trạng hôn nhân đồng giới: 6
1 Khái niệm : 6
2 Thực trạng hôn nhân đồng giới ở Việt Nam: 7
3 Thực trạng hôn nhân đồng giới tại một vài nước trên thế giới: 14
II Một vài giải pháp nhằm ủng hộ cộng đồng LGBT và hợp thức hóa hôn nhân đồng giới ở Việt Nam: 17
1 Những lý do cần ủng hộ hôn nhân đồng giới: 17
2 Giải pháp: 20
KẾT LUẬN 23
CÁC TÀI LIỆU THAM KHẢO: 25
Trang 3MỞ ĐẦU
1.Tính cấp thiết của đề tài:
Trong quan niệm nhiều người thì việc hai người đồng tính kết đôi với nhau
là điều không bình thường, song nếu nhìn nhận rằng mọi người đều có quyền mưucầu hạnh phúc, và là hạnh phúc chính đáng, xuất phát từ tình yêu chân thành thì sẽkhông khó để trả lời cho câu hỏi hôn nhân đồng tính có hợp tình hợp lý haykhông.
Những người ủng hộ cộng đồng LGBT và hợp pháp hóa hôn nhân đồnggiới tại Nhật Bản cho rằng: "Nếu hôn nhân đồng giới được pháp luật thừa nhận,chúng ta sẽ xây dựng một xã hội mà thế hệ sau không còn phải sống trong nỗi sợ
ấy nữa" Trong chiến dịch tên là "Tôi đồng ý – I Do" do trung tâm ICS, Việnnghiên cứu iSEE, nhóm 6+ và cộng đồng LGBT Việt Nam phát động từ ngày13/10/2013 nhằm kêu gọi mọi người ủng hộ hôn nhân đồng giới, Nhà văn TrangHạ: "Có nhiều cách để được hạnh phúc, cách đơn giản nhất là đi tới, yêu ngườimình yêu Có nhiều cách để được hạnh phúc, vì hạnh phúc không nhất thiết phảiđược trình diễn theo cùng một kiểu Có nhiều lý do để chúng ta trân trọng bản thân.Nên cũng có rất nhiều lý do để chúng ta cần trân trọng cả những người khác nữa.Nên đây là quan điểm của tôi: Tôi đồng ý!"
Thực tế, việc cho phép những người đồng tính kết hôn không gây xâmphạm gì đến lợi ích, quyền của người khác, mà chỉ mang lại hạnh phúc và sự bảo
vệ cho những người đồng tính vốn là một phần bình thường, tự nhiên và không thểtách rời của xã hội. Hiện nay, cộng đồng LGBT chiếm số lượng không ít trong xãhội, càng ngày họ càng mong muốn được sống đúng với giới tính của mình, được
xã hội nhìn nhận đúng đắn và đặc biệt là được công nhận hôn nhân. Vì vậy, tôi lựa
Trang 4chọn vấn đề “Hợp thức hóa hôn nhân đồng giới ở Việt Nam” làm đề tài tiểu luận,
nhằm ủng hộ cộng đồng LGBT, làm rõ thực trạng hôn nhân đồng giới tại Việt Namhiện nay và đưa ra một vài giải pháp góp sức để hôn nhân đồng giới sớm được hợppháp hóa
2 Mục đích nghiên cứu:
Trên cơ sở làm rõ thực trạng hôn nhân đồng giới tại Việt Nam hiện nay, vàđưa ra một vài giải pháp góp sức để hôn nhân đồng giới sớm được hợp pháp hóa ởViệt Nam
3 Mục tiêu nghiên cứu:
- Làm rõ các khái niệm: thế nào là người đồng tính, cộng đồng LGBT, hônnhân đồng giới…
- Làm rõ thực trạng hôn nhân đồng giới ở một vài nước phát triển và ViệtNam
- Đưa ra giải pháp
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Tiểu luận tập trung nghiên cứu cộng đồng LGBT,
cụ thể là thực trạng hôn nhân đồng giới
- Không gian nghiên cứu: Các nước phát triển và chủ yếu là tại Việt Nam
- Thời gian nghiên cứu: Tiểu luận nghiên cứu các tài liệu từ năm 2000 đếnnay
Trang 55 Phương pháp nghiên cứu:
Trên cơ sở phương pháp luận Macxít, tiểu luận sử dụng các phương phápnghiên cứu cơ bản sau: phân tích, tổng hợp, hệ thống, phương pháp chuyên gia,phương pháp lịch sử và logic Bên cạnh đó, phương pháp thống kê, dự báo cũngđược vận dụng nhằm góp phần bộ trợ cho công tác nghiên cứu và thực hiện tiểuluận
6 Kết cấu của tiểu luận:
Ngoài phần Mở đầu và Kết luận, nội dung của Tiểu luận được chia phần:
I Vài nét về cộng đồng LGBT và thực trạng hôn nhân đồng giới
II Một vài giải pháp nhằm ủng hộ cộng đồng LGBT và hợp thức hóahôn nhân đồng giới ở Việt Nam
Trang 6Đồng giới không phải là một loại bệnh như định kiến của nhiều người.Đây là xu hướng tình dục, xu hướng tình yêu, bị chi phối bởi tâm lý và cấu tạo sinh
lý của cơ thể con người mà họ không thể lựa chọn khác được Những người đồngtính cũng như những người bình thường khác về mặt thể chất, tinh thần, chỉ khác
về xu hướng tình dục
1.2 Khái niệm “Cộng đồng LGBT”:
Những người đồng tính là một bộ phận nằm trong cộng đồng LGBT: đồngtính nữ (lesbian), đồng tính nam (gay), song tính (thích của hai giới nam và nữ),chuyển giớ (Transgenderi - là người có sinh ra có cảm nhận về tâm hồn thể xác tráingược với giới tính sinh học của mình). Bắt đầu được sử dụng từ những năm 1990,tên viết tắt này bắt nguồn từ LGB, được dùng để thay thế thuật ngữ gay do sự bắt
Trang 7đầu của cộng đồng LGBT vào nửa cuối thập niên 80 Những nhà hoạt động xã hộitin rằng cụm từ cộng đồng gay không đại diện chính xác những người mà nó nóiđến
1.3 Khái niệm “ Hôn nhân đồng giới”:
Hôn nhân đồng giới hay hôn nhân đồng tính là hôn nhân giữa hai người cócùng giới tính sinh học Hôn nhân đồng giới có khi còn được gọi là "hôn nhân bìnhđẳng" hay "bình đẳng hôn nhân", thuật ngữ này thường được sử dụng phổ biến từnhững người ủng hộ
Hôn nhân đồng giới là hôn nhân giữa những người có cùng giới tính vềsinh học Đó có thể là cuộc sống chung giữa hai người là đồng tính nam hoặc đồngtính nữ với nhau Hôn nhân giữa những người này xuất phát từ tình yêu đồng giới
Họ tìm thấy ở những người cùng giới tính như mình sự yêu thương, sự đồng cảm,
ấm áp và mong muốn cùng nhau về chung một nhà
2 Thực trạng hôn nhân đồng giới ở Việt Nam:
Ở Việt Nam hiện chưa có một cuộc nghiên cứu chính thức nào về giới tính
mà đặc biệt là thống kê những người đồng tính nam và đồng tính nữ Theo mộtthống kê chưa chính thức từ tổ chức phi chính phủ CARE ước tính đến năm 2012thì Việt Nam có khoảng từ 50.000 – 125.000 người đồng tính
Hiện nay là năm 2020 thì những con số này đã tăng lên rất nhiều, một phần
là do xã hội đã cởi mở và ít kỳ thị hơn nên những người đồng tính công khai ngàycàng nhiều hơn Số lượng các cặp đôi công khai hôn nhân đồng tính của mình ngàycàng tăng Nước ta cũng đã có cái nhìn cởi mở hơn về cuộc sống hôn nhân giữa họbởi họ thực sự yêu thương, tôn trọng lẫn nhau, là những người có ích cho xã hội
Trang 82.1 Pháp luật Việt Nam về hôn nhân đồng giới:
Luật Việt Nam hiện nay không công nhận hôn nhân đồng giới Luật Hônnhân và Gia đình năm 2000 cấm kết hôn giữa những người đồng giới
Ông Nguyễn Minh Thuyết, Nguyên Phó Chủ nhiệm Ủy ban Văn hóa, giáodục, thanh niên, thiếu niên và nhi đồng của Quốc hội cũng khẳng định tại một hộithảo về cộng đồng đồng tính: “Công nhận quyền của nhóm người đồng tính, songtính, chuyển giới, xã hội không mất gì mà chỉ được - được cho cả nhóm dân cư này
và cho lợi ích chung của xã hội”. Viện nghiên cứu Thanh niên - Trung ương ĐoànThanh niên cộng sản Hồ Chí Minh cũng ủng hộ cho phép người đồng tính kếthôn. Bộ Y tế Việt Nam đề suất sửa đổi luật để công nhận hôn nhân đồng tính "vì
đó là quyền con người"
Phó Chủ tịch Quốc hội Uông Chu Lưu cho rằng: "Hiến pháp vừa sửa đãnêu nguyên tắc "nam, nữ có quyền kết hôn" tức là chưa thừa nhận hôn nhân đồnggiới Như vậy luật không thể vượt Hiến pháp Mà nếu 2 người đồng giới sinh sốngthì phải xác định họ không thể sinh con, nghĩa là mục đích lập gia đình không đạtđược nên cũng không thể gọi là hôn nhân Ngay các nước phát triển, nơi thừa nhậnhôn nhân đồng giới thì những quy định điểu chỉnh chi tiết trách nhiệm, quan hệ thìcũng chưa có hướng chính sách cụ thể"
Theo tờ Diễn Ngôn của Viện nghiên cứu Xã hội, kinh tế và môi trường(iESS), thực chất Hiến pháp sửa đổi 2013 không quy định "đóng cửa" với hôn nhânđồng giới
Hiến pháp 2013 không quy định “hôn nhân là giữa một nam và một nữ” mà
là “nam, nữ có quyền kết hôn.” Thay vì định nghĩa hôn nhân, Hiến pháp 2013 chỉquy định về quyền kết hôn Thực tế thì người đồng tính nam là nam giới, ngườiđồng tính nữ là nữ giới, đồng nghĩa với họ cũng có quyền kết hôn theo quy định
Trang 9hiện hành của Hiến pháp Quy định về "quyền kết hôn của nam, nữ” không ảnhhưởng hay ngăn cản quyền kết hôn của người đồng tính.
Nguyên tắc “một vợ một chồng” mà Hiến pháp 2013 nhắc tới với nội hàm
"đơn hôn", có nghĩa “không ai được kết hôn với người khác khi đang ở trong tìnhtrạng hôn nhân với một người”, nôm na là không được phép “hai vợ” hoặc “haichồng.” Nguyên tắc này cũng không có nghĩa rằng hôn nhân phải là giữa một nam
và một nữ."
Trước đây, theo quy định của Luật Hôn nhân gia đình năm 2000, kết hôngiữa những người cùng giới tính là một trong 05 trường hợp cấm kết hôn Vào thờiđiểm này, quan điểm, cách nhìn của các nhà làm luật cũng như mọi người khôngchấp nhận cuộc hôn nhân giữa những người cùng giới tính với nhau Do kết hôngiữa những người cùng giới tính là trường hợp bị cấm nên có thể bị xử phạt viphạm hành chính theo Nghị định 87/2001/NĐ-CP về xử phạt vi phạm hành chínhtrong lĩnh vực hôn nhân và gia đình với mức phạt tiền sẽ từ 100.000 đồng –500.000 đồng Tuy nhiên, những quy định này hiện nay đã hết hiệu lực
Tháng 7/ 2012, bộ trưởng Tư pháp, Hà Hùng Cường, tuyên bố là chính phủđang xem xét hợp thức hóa việc hôn nhân đồng giới, cho là "để bảo vệ tự do cánhân, hôn nhân đồng giới nên được cho phép." Vấn đề được dự định là sẽ tranhluận tại quốc hội vào mùa xuân năm 2013. Tuy nhiên vào tháng 2 năm 2013, bộ Tưpháp yêu cầu quốc hội hoãn bàn luận về việc này cho tới năm 2014
Vào tháng 6/2013, bộ Tư pháp đệ trình dự luật mà sẽ hủy bỏ việc cấm hônnhân đồng giới từ luật Hôn nhân và Gia đình và sẽ cho phép các cặp đồng giớichung sống với nhau. Quốc hội dự định sẽ bàn luận về việc này vào tháng 10 năm
2013. Vào ngày 24 tháng 9 năm 2013, chính phủ ra sắc lệnh hủy bỏ việc phạtnhững hôn nhân đồng giới Sắc lệnh này sẽ có hiệu lực vào ngày 11 tháng 11 năm
2013. Từ ngày 12 tháng 11 năm 2013, chính phủ sẽ không phạt những ai tổ chức
Trang 10đám cưới đồng tính.Trong trường hợp chính quyền địa phương xen vào can thiệp,những người liên hệ có thể dùng sắc lệnh này để bảo vệ quyền lợi cá nhân của họ.
Cùng với sự tiến bộ trong nhận thức của toàn xã hội về vấn đề kết hônđồng giới Hiện nay, nước ta đã có cái nhìn cởi mở hơn về những người đồng tínhcũng như hôn nhân giữa họ Điều này đã được thể hiện trong luật Hôn nhân và giađình năm 2014 hiện hành Theo đó, hiện nay pháp luật không quy định hôn nhânđồng giới thuộc vào các trường hợp bị cấm kết hôn. Luật Hôn nhân và Gia đìnhsửa đổi năm 2014, bỏ quy định "cấm kết hôn giữa những người cùng giới tính" từngày 1 tháng 1 năm 2015 Tuy nhiên, Luật 2014 vẫn quy định "không thừa nhậnhôn nhân giữa những người cùng giới tính" (khoản 2 Điều 8). Theo báo Tuổi Trẻ,những người đồng giới tính vẫn có thể chung sống, nhưng pháp luật sẽ không xử lýkhi giữa họ có tranh chấp xảy ra
Đây là một bước thay đổi lớn trong tư duy của những người làm công táclập pháp về người đồng tính Qua quy định này cho thấy pháp luật đã thay đổi cáchnhìn với hôn nhân đồng giới Pháp luật không nghiêm cấm một cách cứng nhắcnhư trước đây mà chỉ không thừa nhận hôn nhân giữa những người đồng giới Do
đó, các cặp đôi đồng tính vẫn có thể tổ chức đám cưới trên thực tế, vẫn được chungsống với nhau nếu có nhu cầu nhưng về mặt pháp lý thì sẽ không được pháp luậtthừa nhận là vợ chồng Cùng với đó, Nghị định 110/2013/NĐ-CP cũng không quyđịnh về việc xử phạt vi phạm hành chính đối với hành vi kết hôn giữa những ngườiđồng tính
Có thể thấy, dù hiện nay pháp luật chưa thừa nhận kết hôn đồng giới nhưng
sự thay đổi nêu trên vẫn được coi là tín hiệu vui đối với những cặp đôi có cùng giớitính, là kết quả của một quá trình vận động và thảo luận trong suốt một thời giandài
Trang 112.2 Quan điểm công chúng:
Theo kết quả điều tra quốc gia về "Quan điểm xã hội với hôn nhân cùnggiới" được Viện Xã hội học (Viện Hàn lâm Khoa học - Xã hội Việt Nam) và ViệnNghiên cứu xã hội, Kinh tế và Môi trường (iSEE) công bố ngày 26/3/2014 :
- 90% người dân Việt Nam biết về đồng tính và 62% biết về việc sốngchung như vợ chồng giữa hai người cùng giới tính
- 30% người dân có quen ai đó là người đồng tính (họ hàng, bạn bè, đồngnghiệp, hàng xóm )
- 33,7% số người được hỏi ủng hộ việc hợp pháp hóa hôn nhân cùng giới
Về việc công nhận quyền sống chung như vợ chồng giữa những người cùng giớitính, số người ủng hộ là 41,2% Hình thức sống chung cùng giới nên được hợppháp hóa theo dạng "kết hợp dân sự" hoặc "đăng ký sống chung như vợ chồng
- Khi được hỏi về một số quyền cụ thể được đề cập đến trong Luật Hônnhân – Gia đình mà các cặp đôi cùng giới nên được pháp luật bảo vệ, có 56%người dân cho rằng cặp đôi cùng giới nên có quyền cùng nhận con nuôi và nuôicon, 51% ủng hộ quyền sở hữu tài sản chung, 47% ủng hộ quyền thừa kế tài sản
- Đa số người dân cho rằng việc hợp pháp hóa hôn nhân cùng giới khôngảnh hưởng đến gia đình (72,7%) hay cá nhân họ (63,2%) Xét theo vùng miền,người miền Bắc và người miền Trung ủng hộ tích cực hơn (78% và 74%) so vớimiền Nam (68%)
- Những người trẻ từ 18-29 tuổi và những người có trình độ học vấn từ đạihọc, cao đẳng trở lên có tỷ lệ ủng hộ hôn nhân đồng giới cao hơn
- Những trường hợp có quen biết người đồng tính xác suất ủng hộ hợp pháphóa hôn nhân cùng giới lớn gấp đôi so với các trường hợp không quen biết Điềunày cho thấy việc xuất hiện công khai, sống thật của người đồng tính có tác độngtốt đến thái độ ủng hộ của xã hội
Trang 12- 90% cho rằng nếu hợp pháp hóa hôn nhân đồng tính thì sẽ có tác độngđến cộng đồng xã hội kể cả tích cực lẫn tiêu cực 20% cho rằng việc hợp pháp hóahôn nhân đồng tính sẽ có tác động tiêu cực đến gia đình họ trong khi 73% số ngườiđược hỏi cho rằng việc hợp pháp hóa hôn nhân cùng giới không ảnh hưởng đến giađình hay cá nhân họ.
Cuộc điều tra quốc gia lần đầu tiên được thực hiện tại 68 xã, phường thuộc
8 tỉnh, thành phố tại Việt Nam gồm: Hà Nội, Quảng Ninh, Nghệ An, Đà Nẵng,Đắk Lắk, TP.HCM, An Giang, Sóc Trăng với sự tham gia của 5.300 người dân
Có một chiến dịch tên là "Tôi đồng ý – I Do" do trung tâm ICS, Việnnghiên cứu iSEE, nhóm 6+ và cộng đồng LGBT Việt Nam phát động từ ngày13.10.13 nhằm kêu gọi mọi người ủng hộ hôn nhân đồng giới Trong số nhữngngười ủng hộ có nhà văn Nguyên Ngọc, với lý do: "luôn ủng hộ quyền bình đẳngcủa người thiểu số, trong đó có người đồng tính Cuộc sống cần có sự nhân ái vàlòng bao dung" PGS-TS Nguyễn Văn Tiệp, người nhiều năm nghiên cứu về vấn
đề đồng tính, nói rằng: "Luật nên cho phép người đồng tính kết hôn để đảm bảoquyền con người và quyền công dân của họ, không thể làm khác Không ai cóquyền tước đoạt ở họ những gì họ có Về mặt pháp lý thì người đồng tính lànhững con người và là công dân, họ đương nhiên được hưởng các quyền vốn cócủa con người và công dân một nước như những người bình thường khác Vì vậy,
họ được quyền kết hôn là việc bình thường Hiện nay, xã hội cởi mở hơn thì ngườiđồng tính có điều kiện bộc lộ mình, thể hiện những nhu cầu, khát vọng bìnhthường của một con người trong cuộc sống, được yêu và kết hôn, sống theo nhucầu, sở thích Những điều này là chính đáng"
Ông cũng nêu thực trạng hiện nay, kiến thức về giới, sự khác biệt giới, vấn
đề đồng tính không được giảng dạy trong trường phổ thông và thậm chí cả đại học,dẫn đến nhiều người Việt thiếu kiến thức về giới Do đó, việc truyền thông và giáo