Các loại vi sinh vật - Các VSV hiếu khí: Bacillus mycoides – là loại trực khuẩn có kích thước rấtlớn; Bacillus mensentericus và Bacillus megatherium – có khả năng tạo ra protease rấtmạ
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM TP.HCM KHOA MÔI TRƯỜNG VÀ TÀI NGUYÊN
ĐỀ TÀI:
ỨNG DỤNG CỦA VI SINH VẬT TRONG SẢN XUẤT XĂNG
Trang 2II Tổng quan về xăng sinh học
1 Khái niệm và lịch sử của xăng sinh học
2 Các loại xăng sinh học thông dụng hiện nay
3 Nguồn nguyên liệu chế biến xăng sinh học
4 Ưu nhược điểm của xăng sinh học
III Các phương pháp chế biến xăng sinh học
IV Việt Nam và xăng sinh học
V Tổng kết
VI Tài liệu tham khảo
Trang 3- Khi mà Hà Nội, TPHCM và nhiều đô thị ngập trong khói xăng thải ra từ hàngchục triệu ô tô, xe máy thì xăng sinh học xuất hiện với ưu điểm, tiện ích vượt trội so với các loại xăng thường Chính những yếu tố tiện ích đó đã thu hút được sự quan tâmcủa người tiêu dùng và toàn xã hội
I Sơ lược về vi sinh vật
2.2 Hấp thu nhiều, chuyển hóa nhanh
- Tuy vi sinh vật có kích thước rất nhỏ bé nhưng chúng lại có năng lực hấp thu
và chuyển hoá vượt xa các sinh vật khác Chẳng hạn 1 vi khuẩn lắctic (Lactobacillus)
Trang 4trong 1 giờ có thể phân giải được một lượng đường lactose lớn hơn 100 - 10 000 lần
so với khối lượng của chúng, tốc độ tổng hợp protein của nấm men cao gấp 1000 lần
so với đậu tương và gấp 100 000 lần so với trâu bò
Hình 2: Lactobacillus qua kính hiển vi điện tử
2.3 Khả năng sinh sản nhanh
- So với các sinh vật khác thì vi sinh vật có tốc độ sinh trưởng và sinh sôi nảy
nở cực kỳ lớn VD: Trong nồi lên men với các điều kiện nuôi cấy thích hợp từ 1 tế bào
có thể tạo ra sau 24 giờ khoảng 100 000 000 - 1 000 000 000 tế bào
- Đây là đặc điểm quan trọng được con người lợi dụng để sản xuất nhiều sảnphẩm hữu ích như rượu, bia, tương chao, mỳ chính, các chất kháng sinh
2.4 Năng lực thích ứng mạnh và dễ phát sinh biến dị
- Năng lực thích ứng của vi sinh vật vượt rất xa so với động vật và thực vật.Trong quá trình tiến hoá lâu dài vi sinh vật đã tạo cho mình những cơ chế điều hoàtrao đổi chất để thích ứng được với những điều kiện sống rất bất lợi Người ta nhậnthấy số lượng enzim thích ứng chiếm tới 10% lượng chứa protein trong tế bào vi sinhvật
- Phần lớn vi sinh vật có thể giữ nguyên sức sống ở nhiệt độ của nitơ lỏng (-196 oC), thậm chí ở nhiệt độ của hydro lỏng (- 253oC) Một số vi sinh vật có thể sinh trưởng ở nhiệt độ 250oC, lạnh đến 0-5oC, mặn với nồng độ 32% NaCl (muối ăn), ngọt đến nồng độ mật ong, pH thấp đến 0,5 (vi khuẩn Thiobacillus thioxydans) hoặc cao đến 10,7 (vi khuẩn Thiobacillus denitrificans), áp suất cao đến trên 1103 atm
- Ở nơi sâu nhất trong đại dương (11034 m) nơi có áp lực tới 1103,4 atm vẫnthấy có vi sinh vật sinh sống Nhiều vi sinh vật thích nghi với điều kiện sống hoàntoàn thiếu oxy (vi sinh vật kị khí bắt buộc - Obligate anaerobes)
- Vi sinh vật đa số là đơn bào, đơn bội, sinh sản nhanh, số lượng nhiều, tiếp xúctrực tiếp với môi trường sống do đó rất dễ dàng phát sinh biến dị Tần số biến dịthường ở mức 10-5-10-10 Chỉ sau một thời gian ngắn đã có thể tạo ra một số lượng rấtlớn các cá thể biến dị ở các thế hệ sau Những biến dị có ích sẽ đưa lại hiệu quả rất lớntrong sản xuất
2.5 Phân bố rộng, chủng loại nhiều
- Vi sinh vật phân bố ở khắp mọi nơi trên trái đất Chúng có mặt trên cơ thểngười, động vật, thực vật, trong đất, trong nước, trong không khí, trên mọi đồ dùng,vật liệu, từ biển khơi đến núi cao, từ nước ngọt, nước ngầm cho đến nước biển
Trang 5- Vi sinh vật tham gia tích cực vào việc thực hiện các vòng tuần hoàn sinh - địa
- hoá học (biogeochemical cycles) như vòng tuần hoàn Cacbon, vòng tuần hoàn Nitơ,vòng tuần hoàn Photpho, vòng tuần hoàn Lưu huỳnh,
- Trong đường ruột của người thường có không dưới 100 - 400 loài sinh vậtkhác nhau, chúng chiếm tới 1/3 khối lượng khô của phân Chiếm số lượng cao nhấttrong đường ruột của người là vi khuẩn Bacteroides fragilis, chúng đạt tới số lượng
1010 - 1011/g phân (gấp 100 - 1000 lần số lượng vi khuẩn Escherichia coli)
- Ở độ sâu 10.000 m của Đông Thái Bình Dương, nơi hoàn toàn tối tăm, lạnhlẽo thậm chí nơi có áp suất rất cao người ta vẫn phát hiện thấy có khoảng 1 triệu - 10
tỉ vi khuẩn/ml (chủ yếu là vi khuẩn lưu huỳnh)
- Hầu như không có hợp chất cacbon nào (trừ kim cương, đá graphít ) màkhông là thức ăn của những nhóm vi sinh vật nào đó (kể cả dầu mỏ, khí thiên nhiên,formol ) Vi sinh vật có rất phong phú các kiểu dinh dưỡng khác nhau
2.6 Là sinh vật xuất hiện đầu tiên trên trái đất
- Trái đất hình thành cách đây 4,6 tỷ năm nhưng cho đến nay mới chỉ tìm thấydấu vết của sự sống từ cách đây 3,5 tỷ năm Đó là các vi sinh vật hoá thạch còn để lạivết tích trong các tầng đá cổ Vi sinh vật hoá thạch cổ xưa nhất đã được phát hiện lànhững dạng rất giống với Vi khuẩn lam ngày nay Chúng có dạng đa bào đơn giản, nốithành sợi dài đến vài chục mm với đường kính khoảng 1-2 mm và có thành tế bào khádày
- Dựa vào đặc điểm cấu tạo tế bào, người ta chia ra làm 3 nhóm lớn:
+ Nhóm chưa có cấu tạo tế bào bao gồm các loại virus
+ Nhóm có cấu tạo tế bào nhưng chưa có cấu trúc nhân rõ ràng (cấu trúc nhân nguyên thủy) gọi là nhóm Procaryotes, bao gồm vi khuẩn, xạ khuẩn và tảo lam
+Nhóm có cấu tạo tế bào, có cấu trúc nhân phức tạp gọi là Eukaryotes bao gồmnấm men, nấm sợi (gọi chung là vi nấm) một số động vật nguyên sinh và tảo đơn bào
3 Vai trò của vi sinh vật:
- Trong tự nhiên:
Tích cực:
+ Vi sinh vật là mắt xích quan trọng trong các chu trình chuyển hóa vật chất
và năng lượng trong tự nhiên
+ Tham gia vào việc gìn giữ tính bền vững của hệ sinh thái và bảo vệ môitrường
Tiêu cực:
+ Gây bệnh cho người, động – thực vật
+ Là nguyên nhân gây hư hỏng thực phẩm
- Trong nghiên cứu di truyền: Là đối tượng lí tưởng trong công nghệ di
truyền, công nghệ sinh học…
- Bảo vệ môi trường: Vi sinh vật tham gia tích cực vào quá trình phân giải các
phế thải nông nghiệp, phế thải công nghiệp, rác sinh hoạt …
Trang 6năng phân giải các hợp chất khó tan chứa P, K, S và tạo ra các vòng tuần hoàn trong
tự nhiên Vi sinh vật còn tham gia vào quá trình hình thành chất mùn
- Vi sinh vật có vai trò quan trọng trong năng lượng (sinh khối hoá thạch như dầu hoả, khí đốt, than đá) Trong các nguồn năng lượng mà con người hy vọng sẽ khaithác mạnh mẽ trong tương lai có năng lượng thu từ sinh khối Sinh khối là khối lượng chất sống của sinh vật
- Vi sinh vật là lực lượng sản xuất trực tiếp của ngành công nghiệp lên men bởichúng có thể sản sinh ra rất nhiều sản phẩm trao đổi chất khác nhau (các loại axit, enzim, rượu, các chất kháng sinh, các axit amin, các vitamin )
- Trong công nghiệp tuyển khoáng, nhiều chủng vi sinh vật đã được sử dụng đểhoà tan các kim loại quý từ các quặng nghèo hoặc từ các bãi chứa xỉ quặng
- Vi sinh vật có hại thường gây bệnh cho người, cho gia súc, gia cầm, tôm cá vàcây trồng Chúng làm hư hao hoặc biến chất lương thực, thực phẩm, vật liệu, hànghoá Chúng sản sinh các độc tố trong đó có những độc tố hết sức nguy hiễm Chỉ riêng
sự tấn công của virut HIV cũng đủ gây ra ở 50 triệu người nhiễm HIV Cuối thế kỷ
XX khoảng 30 triệu người nhiễm
Các loại vi sinh vật
- Các VSV hiếu khí: Bacillus mycoides – là loại trực khuẩn có kích thước rấtlớn; Bacillus mensentericus và Bacillus megatherium – có khả năng tạo ra protease rấtmạnh, khi phân giải tạo nhiều H2S; Bacillus subtilis – có khả năng phân giải proteinrất mạnh, phân bố rộng trong tự nhiên; Bacillus cereus – tạo ra bào tử, có khả năngphát triển ở nhiệt độ cao; Psedudomonas fluorescens – trực khuẩn tạo bào tử, có khảnăng di động nhờ chùm tiêm mao, có khả năng tạo sắc tố màu lục…
- Các VSV yếm khí: Clostridium putrifidicum – có khả năng tạo bào tử, bào tửnày rất bền nhiệt; Clostridium sporogenses – có khả năng chuyển động vào tạo bàotử…
- Các VSV tùy nghi: Proteus vulgaris – là loại trực khuẩn có kích thước rấtnhỏ, chúng có tiêm mao nên có khả năng vận chuyển, có khả năng sinh tổng hợpproteas cao; Bacillus coli – không có khả năng tạo bào tử, không có năng phân giảiprotein nguyên thể mà chỉ có khả năng phân giải các peptit ngắn hoặc các sản phẩmtrung gian của quá trình phân giải protein…
II Tổng quan về xăng sinh học
1.Khái niệm và lịch sử của xăng sinh học
trong khí quyển Nhiên liệu sinh học có thể ở thể rắn như củi, than củi (than đá thuộc loại cổ sinh, không tái tạo); thể lỏng (như xăng-sinh học, diesel-sinh học); hay thể khí như khí methane-sinh học (sản xuất từ lò ủ chất phế thải) Nhiên liệu ở thể lỏng được
ưa chuộng hơn vì có độ tinh khiết cao, chứa nhiều năng lượng, dễ dàng chuyên chở,
dễ tồn trữ và bơm vào bình nhiên liệu của xe Xăng sinh học đề cập trong bài này gồm
Trang 7xăng-ethanol (E) và diesel-sinh học (ở Việt nam gọi là B), tương ứng với xăng cổ sinhbiến chế từ dầu mỏ là xăng (gasoline) và diesel.
- Khuynh hướng sản xuất xăng sinh học đang trên đà phát triển, vì nhiều lý do:
giá xăng cổ sinh ngày càng mắc;
trữ lượng dầu hoả ở các mỏ dầu có giới hạn và sẽ kiệt quệ trong tương lai (khoảng năm 2100);
nhiều quốc gia muốn tuỳ thuộc ít vào việc nhập cảng nhiên liệu cổ sinh trong khi quốc gia họ có khả năng sản xuất nhiên liệu thay thế, và
bị áp lực chính trị phải giảm lượng khí CO2 sa thải để phù hợp với Thoả hiệp Kyoto (1997) quy định Nhưng sản xuất và sử dụng xăng sinh học có phải là một biện pháp hữu hiệu để cứu vãn tai hoạ khí hậu toàn cầu không?
Lịch sử
- Nhiên liệu sinh học ở thể rắn (gỗ, củi, than củi, phế thải thực và động vật, v.v.) đã được loài người sử dụng từ khi khám phá ra lửa Khi phát minh ra động cơ hơi nước (steam engine) và máy phát điện, nhiên liệu sinh học thể rắn (gỗ) được sử dụng một thời để phát triển kỹ nghệ ở thế kỷ 18 và 19, và gây nhiều ô nhiễm Ở Việt Nam, xe lưả chạy bằng việc đốt gỗ cho tới khoảng 1956 mới được thay thế bằng động cơ diesel Ngày nay có khoảng 2 tỷ dân đốt nhiên liệu sinh học ở thể rắn như gỗ, củi, trấu, mạt cưa, rơm rạ, lá khô, v.v Mặc dầu chứa carbon tái tạo, nhưng cho nhiều khói, tro bụi, bù hóng nên làm ô nhiễm môi trường
- Động cơ nổ đầu tiên trên thế giới do Nikolaus August Otto (người Đức) thiết kế sử dụng nhiên liệu sinh học thể lỏng là rượu cồn – ethanol, Rudolf Diesel (người Đức) phát minh động cơ Diesel thiết kế chạy bằng dầu đậu phộng (groundnut oil), và HenryFord (Mỹ) thiết kế xe hơi chạy bằng dầu thực vật (từ 1903 đến 1926) chế biến từ dầu
chứa trong hạt và thân cây cần sa (hemp - Cannabis sativa).
- Từ khi khám phá ra nhiên liệu cổ sinh (than đá, dầu hoả, khí đốt) thì ngành kỹ nghệ
sử dụng nhiên liệu cổ sinh, vì có hiệu quả kinh tế hơn Tuy nhiên mỗi khi có chiến tranh, bị địch phong toả khó chuyển vận dầu, hay thế giới có khủng hoảng chính trị, kinh tế, và để không tuỳ thuộc vào dầu hoả nhập cảng (từ Trung Đông), khuynh huớng sử dụng xăng sinh học lại bộc phát trong những thời kỳ này Chẳng hạn, Đức
và Anh Quốc sản xuất xăng sinh học từ khoai tây và lúa mì trong thời kỳ Đệ nhị Thế Chiến Khủng hoảng xăng dầu năm 1972 do khối OPEC gây ra, làm một số quốc gia
có chủ trương tự túc nhiên liệu bằng cách sản xuất xăng sinh học từ tiềm năng nông nghiệp đồ sộ của mình Brazil tiêu biểu cho chính sách này
- Kể từ 2000, các quốc gia trên thế giới lần lượt thật sự tuân thủ Thoả hiệp Rio de Janeiro (1992), rồi Kyoto (1997), tìm kỹ thuật hạn chế phát thải khí nhà kính (CO2, methane, N2O, v.v.) của nhiên liệu cổ sinh, thay thế bằng năng lượng xanh (green energy như năng lượng mặt trời, gió, thuỷ điện, v.v.), nên nhiên liệu sinh học đang trên đà bộc phát
2 Các loại xăng sinh học thông dụng hiện nay
Xăng-Ethanol (E) thông dụng nhất hiện nay trên thế giới vì dễ dàng biến chế từ
đường (mía, củ cải đường, sorgho-đường) và tinh bột ( ngũ cốc, khoai tây, khoai mì)
- Ethanol (C2H5OH) 99.9% có thể chạy động cơ xe hơi chạy bằng xăng Khi cháy, mộtphân tử ethanol sinh một nhiệt lượng 1409 kJ Tuy nhiên, Ethanol chứa 33% năng
Trang 8lượng ít hơn xăng cổ sinh, nên cần nhiều ethanol hơn để xe chạy cùng một đoạn đường Vì vậy, xe phải có bình chứa nhiên liệu lớn hơn Thông thường, máy xe hơi chạy hiệu nghiệm với E15 (xăng pha 15% ethanol) Xăng chứa ethanol chứa nhiều octane hơn xăng thường nên động cơ mau nóng hơn, máy cũng mau hao mòn hơn, nhất là các vòng đệm cao su Bất lợi của Ethanol là hút ẩm nên xăng-ethanol có chứa nhiều nước, làm máy khó “đề”, làm rỉ sét kim loại, hư mòn chất nhựa (plastic), nên đòi hỏi phải thay đổi vật liệu làm động cơ, phải bảo trì xe thường xuyên Bồn chứa ethanol cũng phải làm từ kim loại đặc biệt, việc chuyên chở cũng khó khăn hơn xăng thường (bồn đặc biệt, đắt hơn, khoảng £120,000/xe bồn xăng ở Anh – USD 200,000), nên cuối cùng tổn phí cao (tại Anh, tổn phí sản xuất khoảng 35 pence/lít – 60
cents/lít) Nói tóm lại, nếu tính từ lúc canh tác cây, phân bón, thuốc sát trùng, tưới nước, thu hoạch, lên men, chưng cất cho tới khi sử dụng, biến cải xe hơi, v.v thì chạy
xe bằng xăng-ethanol tốn kém hơn chạy bằng xăng thường
- Ngày nay mọi hiệu xe hơi đều có thể chạy xăng-ethanol E10 (xăng thường pha 10% ethanol), tuy nhiên để bảo đảm máy móc, khuyến cáo nên dùng xăng-ethanol E5 (Xăng pha 5% ethanol) Một vài loại động cơ xe hơi cải biến sử dụng xăng-ethanol E85 như ở Brazil Cách đây một năm (2007), các trạm bán xăng thuộc một hệ thống siêu thị lớn ở Anh đã lầm lẫn bơm xăng-ethanol E85 vào các trạm bán xăng thông thường, làm cháy hỏng máy mấy ngàn chiếc xe hơi và phải bồi thường cho khách hàng
- Xăng pha với ethanol thải ít khí nhà kính hơn xăng thường Chẳng hạng E85 phát thải 1 ppm khí NO2 trong khi xăng cổ sinh thải 9 ppm Nguy cơ bị ung thư ít hơn khi hít phải khí thải của xăng cổ sinh
Butanol (C4H10O) cho nhiều năng lượng hơn ethanol và có thể đổ thẳng vào bình xăng
xe mà không cần biến chế gì thêm Chế biến từ dầu mỏ, hay từ lên men nguyên liệu
sinh khối do vi khuẩn Clostridium acetobutylicum.
Methanol (CH3OH), còn gọi methyl-alcohol được điều chế từ khí methane (CH4) củakhí đốt của mỏ dầu Methanol cũng được biến chế từ chất hữu cơ động thực vật qua phương pháp đun trong bình kín (không có oxy và hơi nước) ở nhiệt độ cao
(pyrolysis)
Diesel sinh học :
- Theo phòng thí nghiệm Năng Lượng Tái Tạo Hoa Kỳ (U.S National Renewable Energy), đốt diesel-sinh học thải 50% carbon monoxide (CO) và 78% carbon dioxide (CO2) ít hơn diesel Cũng không có sa thải Sulphur SO2 Diesel-sinh học có những đặc tính vật lý tương tự diesel, thành phần hoá học chánh là acít béo - Fatty acid methyl (hay ethyl) ester Diesel-sinh học chứa ít năng lượng hơn, nhiệt độ bắt cháy là 150°C, trong khi diesel là 70°C
- Dầu thực vật khi hun nóng thì trở nên lỏng, nhờn hơn, nên có thể chạy máy diesel Dầu thực vật trích từ các thực vật chứa nhiều dầu như hột cải dầu (Oil seed rape), dừa dầu (oil palm), dừa (coconut), đậu nành (soyabean), đậu phộng (groundnut), bông vải (cotton), hạt cao su (rubber), hướng dương (sunflower), cây và hột cần sa (hemp,
Cannabis sativa), v.v Tảo và trái dầu lai (Jatropha curcas) là những nguồn dầu thực
vật quan trọng mới ngày nay
Trang 9- Thông thường, để cho động cơ an toàn, diesel-sinh học được pha với diesel Tuy nhiên, các loại dầu ăn tinh khiết bán trên thị trường, hay đã sử dụng, đều có thể thay thế diesel để chạy động cơ diesel loại củ (chỉ cần thay thế bộ phận bơm injection) Hiện nay nhiều loại xe hơi hiện đại có động cơ chạy được với dầu ăn nguyên chất, haydiesel-sinh học 100% Chẳng hạn, động cơ xe hơi MAN B &W Diesel, Wartsila và Deutz AG có thể chạy từ dầu ăn nguyên chất Dầu đã sử dụng (từ trong các tiệm Fast Food) chỉ cần lọc cặn và loại phần nước (do thức ăn chiên xâm nhập) thì chạy được xehơi Xe Đức Volkswagen cũng chạy được với diesel-sinh học 100% Tuy nhiên, các hãng làm xe hơi khuyến cáo là nên pha 15% diesel-sinh học với 85% diesel để xe ít bị hao mòn Các nước Âu Châu hiện nay bán diesel pha 5% diesel-sinh học ở mọi trạm xăng
- Ở Hoa Kỳ, hơn 80% xe vận tải và xe bus đều chạy bằng diesel-sinh học, và càng ngày sử dụng diesel-sinh học càng gia tăng, 25 triệu gallons năm 2004, 78 triệu
gallons năm 2005, và khoảng 1 tỷ gallons vào 2007 Xe chở hàng và xe bus ở Âu châuđều chạy bằng diesel-sinh học
3 Nguồn nguyên liệu chế biến xăng sinh học
- Tất cả thực vật lục hoá đều có thể biến chế thành xăng sinh học
Cây nông phẩm chứa đường gồm mía, củ cải đường; nông phẩm chứa tinh bột
gồm hạt ngũ cốc như lúa mì, lúa, bắp, sorgho, v.v.; củ như khoai tây, khoai mì, khoai
lang
Mía có hiệu quả kinh tế nhất vì cho năng suất thân (khoảng 170-200 t/ha ở Brazil,
80-100 t/ha ở Úc, Việt Nam khoảng 35-50 t/ha), biến chế ethanol thẳng từ nước ép, bã mía dùng làm năng lượng chạy máy ép và chưng cất ethanol Mía sản xuất trung bình 15,500 lít ethanol/ha/năm, và cứ 1 tấn chất khô mía sản xuất được 438 lít ethanol Brazil sản xuất ethanol chính từ mía
Nông phẩm chứa dầu như đậu nành (sản xuất 379 kg dầu/ha/năm, hay 450 lít dầu/
ha/năm), đậu phộng (sản xuất 887 kg dầu/ha/năm), hột-cải-dầu (hột chứa 55% dầu; sản xuất 999 kg dầu/ ha/năm, hay 1,188 lít/ha/năm), hạt bắp (140 lít dầu/ha/năm), v.v
Cây kỹ nghệ cho dầu như dừa dầu (oil palm, sản xuất 7,061 kg dầu/ha/năm), dừa
(coconut, sản xuất 2,260 kg dầu/ha/năm), cây dầu lai (Jatropha curcas, sản xuất 1,588
kg dầu/ha/năm), thầu dầu (castor bean, sản xuất 1,188 kg dầu/ha/năm), hướng dương (sunflower, sản xuất 801 kg dầu/ha/năm, hay 954 l/ha/năm), safflower (556 l/ha/năm),v.v
Thực vật hoang dại: tảo (algae) nước ngọt, tảo biển, lục bình (Eichornia
crassipes), cỏ Vetiver, cỏ voi (elephant grass, Pennisetum purpureum, sản xuất 13,700
lít ethanol/ha/năm), lác (Cyperus), cỏ tranh (Imperata cylindrica), v.v.
Phó sản thực vật từ sản xuất cây nông phẩm và cây kỹ nghệ: rơm rạ, bã mía, thân,
gỗ, mạt cưa, trấu, hột cao su (sản xuất 217 kg dầu/ha/năm), hạt bông vải (sản xuất 273
kg dầu/ha/năm
Giấy phế thải: 1 tấn giấy cũ sản xuất khoảng 416 lít ethanol.
Rác thành phố: 1 tấn rác sản xuất khoảng 227 lít ethanol.
Uế thải chuồng trại gia súc: phân chuồng (tạo methane-sinh học rồi chế
methanol)
4 Ưu nhược điểm của xăng sinh học
Trang 10- Loại nhiên liệu này có thể xuất hiện trong một phạm vi nhất định, nhưng vẫn không khắc phục được tình trạng “đói nhiên liệu” đang gia tăng hiện nay trên thế giới.
* NLSH có thể giải quyết các vấn đề biến đổi khí hậu:
- Các cây trồng nông nghiệp và các nguyên liệu sinh khối khác được coi là các nguyênliệu góp phần làm trung hòa cácbon bởi chu kỳ sống thực tế của nó, thực vật thu cácbon điôxit thông qua quá trình quang hợp.Tuy nhiên, các nguyên liệu đầu vào sử dụng trong quá trình sản xuất NLSH được coi là nguyên liệu tái tạo và có khả năng làm giảm phát thải khí nhà kính (GHG)
- Tuy nhiên, cho dù các nhiên liệu đầu vào tự chúng có khả năng trung hòa cácbon, thìquá trình chuyển đổi các vật liệu thô thành NLSH có thể gây phát thải cácbon vào khí quyển Vì vậy, NLSH phải góp phần vào giảm phát thải các bon, chúng phải được chứng minh giảm thải thực sự GHG trong tất cả chu trình sản xuất và sử dụng NLSH
* NLSH có thể tăng cường an ninh năng lượng quốc gia:
- Sự phụ thuộc vào dầu nhập khẩu có thể không những làm suy kiệt dự trữ ngoại tệ của quốc gia, mà còn tạo ra sự mất ổn định về an ninh năng lượng của quốc gia đó Từkhi NLSH được sản xuất từ các nguồn nguyên liệu bản địa của nhiều nước châu Á, loại nhiên liệu này có vai trò là nhiên liệu thay thế cho các nhiên liệu hóa thạch có thể giảm sự phụ thuộc nhập khẩu dầu và tăng cường an ninh năng lượng quốc gia
- Tuy nhiên, điều quan tâm là một số nước đang bị lôi cuốn bởi nhiều hứa hẹn về an ninh năng lượng hơn và họ tiếp tục bỏ chi phí để đảm bảo an ninh của các nhu cầu khác nữa như an ninh lương thực, an ninh về nguồn cung cấp nước và không quan tâmtới việc bảo vệ các nguồn tài nguyên thiên nhiên như rừng tự nhiên và sự đa dạng sinhhọc của chúng
* NLSH có thể hình thành sự tham gia của các xí nghiệp nhỏ và vừa(SMEs):
- Khác với nhiên liệu dầu và khí, thậm chí là than cần phải xây dựng cơ sở hạ tầng lớn
để khai thác và xử lý, với sự tham gia của các tập đoàn lớn và các công ty đa quốc gia,việc sản xuất NLSH sẽ không đòi hỏi đầu tư và xây dựng các nhà máy xử lý tổng hợp lớn Vì vậy, đầu tư và quy trình sản xuất NLSH có thể nằm trong phạm vi SMEs có thể chấp nhận được Dựa vào nguyên liệu đầu vào và khả năng đầu ra, công suất của các nhà máy sản xuất NLSH có thể thiết kế phù hợp với yêu cầu đặc thù Các hoạt động sản xuất NLSH dựa vào các nguyên liệu nông nghiệp hoặc các hệ thống modul
Trang 11có thể được thực hiện để sản xuất NLSH phục vụ cho tiêu thụ cục bộ của các thiết bị
có động cơ tại các trang trại Đầu tư cho NLSH có thể mở ra các cơ hội tham gia của các công ty trong nước
* NLSH có thể đóng góp vào phát triển kinh tế- xã hội của các cộng đồng địa
phương và các ngành kinh tế đang phát triển:
- Vai trò của ngành nông nghiệp trang trại trong dây chuyền sản xuất NLSH sẽ mở ra
cơ hội cho các cộng đồng địa phương kết hợp hoạt động và thu được các lợi ích nhất định để có thể tạo ra phát triển kinh tế-xã hội Việc trồng rừng, kích thích và thu hoạchnhiên liệu đầu vào như cây mía, ngô, sắn và dầu cọ đòi hỏi phải tăng lực lượng lao động và các công việc thủ công Việc mở rộng sản xuất nông nghiệp do tăng nhu cầu các nguyên liệu thô cho sản xuất NLSH có thể tạo ra việc làm mới và thu nhập nhiều hơn cho nông dân Tạo cơ hội việc làm trong sản xuất NLSH là rất lớn Ví dụ sản xuấtNLSH từ cây Jatropha Curcas (cây dầu mè) làm nhiên liệu đầu vào được trồng như loại cây trồng chyên dụng để sản xuất diezel sinh học, một diện tích cây mè 10000 ha
có thể thu được 30 triệu lít dầu diezel sinh học/năm có thể tạo ra 4000 việc làm trực tiếp
- Xét về góc độ tạo việc làm trực tiếp của các thành viên trong hộ gia đình, cho thấy tác động của ngành công nghiệp này đối với cộng đồng địa phương là rất to lớn
- Việc tạo ra việc làm mới và các doanh nghiệp có thể tạo ra các hoạt động khác đem lại các lợi ích kinh tế-xã hội khác nữa cho cộng đồng Nhiều hoạt động kinh tế xuất hiện sẽ tạo ra lợi nhuận cho các chủ doanh nghiệp tại địa phương Cơ sở hạ tầng hoàn chỉnh có thể tạo ra đường xá mới hoặc được nâng cấp, tạo điều kiện thuận lợi cho việcvận chuyển các nhiên liệu đầu vào phục vụ cho sản xuất Kỹ năng làm việc của nhiều công nhân làm việc trong các dự án được nâng cao, tăng năng lực của các thành viên trong cộng đồng Hơn nữa, lợi ích kinh tế mà các cộng đồng được hưởng có thể lan tỏa và tạo ra các lợi ích xã hội khác nữa, như các dịch vụ chăm sóc sức khỏe, giáo dục, phúc lợi xã hội và các dịch vụ công cộng…
- Bằng việc quản lý phù hợp, an toàn và linh hoạt trong các điều kiện văn hóa, nhân khẩu học và nhân chủng học tại địa phương, sản xuất NLSH có khả năng tạo ra phát triển kinh tế-xã hội tốt hơn đối với cộng đồng và đặc biệt là đóng góp vào công cuộc giảm đói nghèo
Nhược điểm:
- Mặc dù xăng sinh học thải ít khí nhà kính hơn xăng cổ sinh, tường trình của Viện Nghiên Cứu EMPA Thuỵ Sĩ cũng cho biết là có 12 loại xăng sinh học có ảnh hưởng xấu trầm trọng vào môi sinh thế giới hơn xăng cổ sinh, trong số đó là ethanol biến chế
từ bắp của Hoa Kỳ, từ mía của Brazil, diesel sinh học từ đậu nành của Brazil và từ dừadầu của Mã Lai và Indonesia
- Nhà khoa học được giải thưởng Nobel là Paul Crutzen cho biết lượng khí N2O thải
từ đốt xăng sinh học chế từ dầu cải, dừa dầu và bắp góp phần vào gia tăng nhiệt toàn cầu còn mãnh liệt hơn đốt nhiên liệu cổ sinh, bởi vì xăng sinh học thật sự thải vào