Khả năng chống bệnh đạo ôn Pyricularia oryzae Bắc Việt Nam và đặc điểm nông sinh học một số dòng lúa chứa gen chống bệnh Resistance to blast disease of northern Vietnam and some agrono
Trang 1Khả năng chống bệnh đạo ôn ( Pyricularia oryzae) Bắc Việt Nam
và đặc điểm nông sinh học một số dòng lúa chứa gen chống bệnh
Resistance to blast disease of northern Vietnam and some agronomic
characteristics of rice lines containing different resistant genes
Summary Resistance and some important agronomic characteristics of 24 rice lines containing the different resistant genes to blast disease were investigated by artifically innoculation using 4 isolates from Yenbai and Hanam provinces of Northern Vietnam Eight lines
containing Pi- k s , Pi-k, Pi-z, Piz-5, Pi 1, Pi 3 and Pi 5(t) genes were identified with high resistance to all 4 used isolates Other genes, Pi-i, Pi-k p , Pi-z t , Pi-ta, Pi-t, Pi sh, Pi 7(t), Pi
9 (t) and Pi 19(t) could resist to the three isolates Isolate 45 showed strong virulence to
the rice lines with low resistant/succeptable ratio(14R/10S) Rice line, manely, IRBLz-Fu containing Pi-z gene showed strong resistance to the blast disease, good agronomic characteristics and high yield of 6.0 tons/ha
Keywords : Blast disease, resistant gene, isolate, virulence
Bệnh đạo ôn do nấm Pyricularia
oryzae gây ra, là một trong những bệnh hại
quan trọng ở các nước trồng lúa trên thế
giới (Ou,1985) Trong những năm gần đây
bệnh phát sinh mạnh và phá hại nghiêm
trọng ở nhiều nơi của miền Bắc nước ta Để
phòng trừ bệnh này có rất nhiều biện pháp
khác nhau như: canh tác, hoá học và chọn
tạo giống chống bệnh, trong đó việc phát
triển và tạo ra giống chống bệnh được coi là
có hiệu quả kinh tế nhất, không gây ô
nhiễm môi trường và tạo ra nông sản sạch
Một trong những đặc điểm cơ bản của nấm
bệnh đạo ôn là tồn tại rất nhiều chủng khác
nhau, trên thế giới đã phát hiện có 256
chủng (Veeraraghavan, 1975) Mỗi vùng
sinh thái, tồn tại một số chủng nhất định và
có mức độ gây hại khác nhau Tương ứng
với các chủng, có những gen chống khác
nhau, hiện đã tìm thấy có tới 30 locus gen
chống bệnh (Zheng et al, 1995) Mỗi gen
chống được một hoặc một số chủng nhất
định Có gen chống rất mạnh đối với chủng
này nhưng lại bị nhiễm rất năng đối với
chủng khác Để chọn tạo giống chống bệnh
thành công, trước hết phải có nguồn gen chống, sau đó phải xác định được gen chống được chủng đang tồn tại ở vùng mà giống đó sẽ phổ biến rồi đưa gen đó vào giống mới Trong khuôn khổ Dự án JICA giữa Chính phủ Nhật Bản-Việt Nam và Trường Đại học Nông nghiệp I, chúng tôi đã nhận được một tập đoàn gồm 24 dòng giống lúa, chứa các gen chống bệnh đạo ôn khác nhau Để sử dụng nguồn gen này trong công tác chọn tạo giống chống bệnh đạo ôn ở Việt Nam, chúng tôi đã tiến hành thu thập, phân lập chủng, rồi lây nhiễm nhân tạo để xác
định gen nào chống được các chủng của Việt Nam, đồng thời khảo sát đặc điểm nông sinh học của các dòng giống
nghiên cứu
2.1 Vật liệu nghiên cứu
Vật liệu tham gia thí nghiệm gồm 24 dòng giống lúa chứa các gen chống bệnh khác nhau do Viện lúa quốc tế IRRI cung cấp, giống đối chứng nhiễm bệnh là Nếp 352 (bảng 1) 4 chủng phân lập (isolate) nấm bệnh đạo ôn sử dụng trong lây nhiễm nhân
Trang 2tạo, được nuôi cấy và phân lập theo phương
pháp đơn bào tử từ 4 giống lúa nhiễm bệnh
trồng ở 2 tỉnh Hà Nam và Yên bái ở tỉnh
Hà Nam gồm 3 chủng: isolate 45 từ giống
Q5; isolate 48 từ giống nếp thơm và isolate
50 từ giống C70; ở tỉnh Yên Bái có chủng isolate YB phân lập từ lúa lai 2 dòng Bồi tạp
Sơn thanh
Bảng 1 Danh sách các dòng tham gia thí nghiệm
2.2 Phương pháp nghiên cứu
Cách phân lập nấm bệnh : Mẫu lá bệnh
được cắt thành mẩu rộng 1,0 x 0,5 cm , rửa
sạch bụi bẩn bằng nước cất vô trùng, rồi
khử trùng đầu tiên bằng cách ngâm trong
cồn 700 khoảng 15-30 giây sau đó ngâm
trong dung dịch HgCl2 0,1% trong 2 - 3
giây, rửa sạch 3 lần bằng nước cất vô trùng
rồi đặt mẫu vào đĩa petri giữ ẩm để nấm
mọc tự nhiên Sau khi nấm mọc trên lá
bệnh và hình thành bào tử, tiến hành phân
lập Dùng que cấy vô trùng quệt lên bề mặt
mô bệnh sau đó quệt nhẹ sang môi trường
WA (gồm nước cất và agar) rồi đưa lên kính
hiển vi quan sát, dùng kim lấy bào tử, lấy
chính xác một bào tử hình thoi hoặc hình
nụ sen, chuyển sang môi trường nuôi cấy
mới là môi trường KD chứa cám gạo để
nuôi cấy Sau đó đặt vào tủ định ôn có
nhiệt độ 280C, chu kỳ chiếu sáng/tối là 8/14
giờ, khoảng 22 ngày sau, tuỳ theo khả năng
phát triển của các isolate khác nhau mà
chúng ta có thể đem rửa lấy sợi nấm và cấy
chuyển sang buồng sinh bào tử Cách pha
môi trường WA như sau: Lấy 20 gam agar
cho vào một lít nước cất vô trùng, đun sôi
để hoà tan rồi bỏ vào nồi hấp khử trùng, hấp
ở nhiệt độ 1210C trong thời gian 20 phút, đổ
ra đĩa petri, mỗi đĩa 2 ml, để nguội trước khi dùng Môi trường KD: Thành phần gồm:
đường saccaroza 20g, khoai tây 200g, bột hạt đậu tương 10g, lá lúa tươi phơi khô 200g, cám gạo 20g và 20 g agar trong 1 lít môi trường Cách pha chế : Cho cám gạo vào 200 ml nước, đun sôi 30 phút, đem lọc qua 4 lớp vải màn lấy phần nước lọc Dùng 800ml nước còn lại cho lượng khoai tây,
đậu tương và lá lúa đã cắt nhỏ, đem đun sôi
30 phút, sau đó lọc lấy nước vào bình tam giác trong có chứa dịch chiết cám gạo Đổ lượng agar vào dung dịch đã nguội trong bình, khuấy đều bằng máy khuấy rồi đun sôi để hoà tan agar Kết thúc tất cả các công
đoạn cho toàn bộ môi trường vào nồi hấp khử trùng ở nhiệt độ 1210C trong 20 phút
2.3 Phương pháp lây nhiễm nhân tạo
ở thí nghiệm này chúng tôi sử dụng phương pháp phun dịch bào tử vào khay mạ sau gieo 20-22 ngày thường có từ 3 - 4 lá thật Rửa
đĩa petri nuôi nấm để lấy bào tử bằng nước
Trang 3cất vô trùng, bổ sung thêm vài giọt Tween
20 để tăng khả năng bám dính các bào tử
lên lá mạ, sau đó lấy một giọt dung dịch
bào tử đưa lên lamen, quan sát dưới kính
hiển vi (pha loãng nếu cần thiết) để sao cho
có khoảng 50 bào tử trên một quang trường
kính hiển vi, tương đương với 105 bào tử
trên 1ml dung dịch Sử dụng bình phun có
áp lực khoảng 3 atm/cm2 để phun cho mạ
Đặt các khay mạ trong tủ lây nhiễm ở nhà
lưới, phủ bao tải ẩm hoặc phun giữ ẩm
thường xuyên trong khoảng 16-24 h và giữ
nhiệt độ khoảng 24-260C trong 6 ngày
Thang điểm đánh giá theo Kato (1993): Cấp
0 không có vết bệnh, kháng cao (HR); cấp 1
vết bệnh là một chấm nhỏ bằng đầu kim,
kháng (R); cấp 2 vết bệnh to hơn màu nâu
nhạt đến nâu tối, kháng (R), cấp 3 vết bệnh
to hơn và có màu xám ở giữa, nhiễm (S); cấp
4 vết bệnh đặc trưng hình thoi, nhiễm nặng
(HS) Cấp kháng từ cấp 0 (kháng cao, HR)
đến cấp 2 (kháng, R); cấp nhiễm từ 3
(nhiễm, S), cấp 4 (nhiễm nặng, HS)
Nghiên cứu các chỉ tiêu nông sinh học
ngoài đồng theo phương pháp khảo sát tập
đoàn và đánh giá giống theo thang điểm của
IRRI năm 1996
3.1 Đánh giá khả năng chống bệnh đạo
ôn
Để phục vụ cho công tác chọn giống
chống bệnh thì việc đầu tiên là xác định
được khả năng chống lại các chủng bệnh
của các gen chống để biết gen nào chống
được chủng nào, và chống được bao nhiêu
chủng Từ đó có kế hoạch sử dụng trong
các chương trình chọn tạo giống Để đánh
giá tính chống bệnh của từng gen khác
nhau chúng tôi đã tiến hành lây nhiễm
nhân tạo dùng 4 Isolate thu thập trên các
giống nhiễm ở các địa phương khác nhau
Kết quả lây nhiễm và đánh giá được trình
bầy bảng 2 Trong số 24 dòng đánh giá thì
có 8 dòng chống được tất cả 4 isolate , đó
là các dòng số 4 chứa gen (Pi- k s ), số 5
chứa gen ( Pi- k s ), số 6 chứa gen ( Pi- k), số
9 chứa gen (Pi- z), số 10 chứa gen (Piz-5),
số 18 chứa gen (Pi 1), số 19 chứa gen (Pi 3), số 20 chứa gen (Pi 5(t)) Trong khi đó
giống đối chứng Nếp 352 bị nhiễm nặng bởi tất cả 4 isolate Có 10 dòng chống được
3 isolate lây nhiễm đó là các dòng số 3, 7,
11, 12, 15, 16, 17, 21, 22 và 24 Có 3 dòng giống chống được 2 isolate lây nhiễm đó là các dòng số 23, 14, 8 và có 2 dòng chỉ chống được 1 isolate lây nhiễm Như vậy các gen khác nhau thì khả năng chống các chủng bệnh đạo ôn cũng khác nhau Trong
số 20 gen nghiên cứu cho thấy mặc dù chứa gen chống khác nhau nhưng các dòng giống
đều có khả năng chống ít nhất là một chủng Trong số 4 isolate sử dụng để lây nhiễm thì thấy isolate có độc tính mạnh nhất là isolate 45 có tỷ lệ chống trên nhiễm
là 14R/10S, tiếp đến là isolate 50 (18R/6S), isolate 48 và isolate YB (22R/2S) Như vậy muốn tạo được giống chống bệnh đạo ôn ở miền Bắc Việt Nam thì nên sử dụng những gen chống lại hầu hết các chủng lây nhiễm
như: Dòng số 4 chứa gen (Pi k-s), số 5 chứa gen (Pi k-s), số 6 chứa gen ( Pi k), số 9 chứa gen (Pi z), số 10 chứa gen (Piz-5), số 18 chứa gen (Pi 1), số 19 chứa gen (Pi 3) và dòng số 20 chứa gen (Pi 5(t))
Tuy nhiên do đặc điểm của nấm đạo
ôn là tồn tại rất nhiều nòi sinh lý khác nhau trong cùng một vùng sinh thái nên việc điều tra phân lập, xác định số lượng chủng một cách chính xác là việc làm hết sức cần thiết Trong nghiên cứu này mới chỉ sử dụng 4 chủng phân lập khác nhau
để lây nhiễm, chắc chắn chưa thể đại diện cho các vùng sinh thái Bắc Việt nam, do vậy việc kết luận những gen chống đa nòi mới chỉ là bước đầu, cần phải nghiên cứu với qui mô và hệ thống hơn Qua thực tế lây nhiễm nhân tạo cho thấy điều kiện ngoại cảnh có ảnh hưởng quyết định đến quá trình phát bệnh đó là độ ẩm phải cao
>85%, nhiệt độ thích hợp từ 20 - 24 C và cường độ ánh sáng thấp
Trang 43.2 Đặc điểm nông sinh học chính và
năng suất
Thời gian sinh trưởng các dòng biến
động từ 118 -141 ngày đều thuộc nhóm có
thời gian sinh trưởng ngắn đến trung bình
Chiều cao cây của các dòng biến động từ 75,5 cm đến 129,9 cm Theo phân loại của IRRI thì đa số các dòng đều thuộc nhóm cây lùn đến nửa lùn, chỉ riêng có dòng số 12 có chiều cao 129,9 cm là thuộc nhóm cao cây
Bảng 2 Phản ứng chống bệnh của các dòng-giống đối với các isolate
Isolate48 Isolate50 IsolateYB Isolate45 Isolate
Stt
Cấp bệnh
Phản ứng
Cấp bệnh
Phản ứng
Cấp bệnh
Phản ứng
Cấp bệnh
Phản ứng
10 2 R 1 R 2 R 2 R
12 2 R 1 R 3 S 2 R
15 3 S 2 R 2 R 2 R
21 2 R 0 HR 2 R 3 S
23 3 S 4 HS 2 R 3 S
Trang 5Bảng 3 Một số đặc điểm nông sinh học và năng suất các dòng giống
Năng suất thực thu STT
Thời gian
sinh
trưởng
(ngày)
Chiều cao cây (cm)
Nhánh tối đa /khóm
Bông hữu hiệu /khóm
Số hạt chắc trên bông
Khối lượng
1000 hạt (g) G/cây Tạ/ha
1 125 82,3 9,8 8,3 85,6 22,0 12,0 54,00
2 127 83,9 7,7 5,7 84,4 17,8 7,3 32,85
3 126 78,8 8,1 6,2 79,6 24,8 10,0 45,00
4 121 106,7 7,0 4,0 78,9 26,2 7,0 31,50
5 124 102,7 9,7 8,2 97,2 20,0 14,0 63,00
6 130 98,6 8,5 6,5 80,7 25,4 12,0 54,00
7 128 109,3 6,4 3,4 105,8 26,4 8,0 36,00
8 129 112,5 10,4 8,9 58,0 26,4 11,5 51,75
9 141 108,0 8,0 6,0 119,3 24,0 15,5 69,75
10 128 115,6 9,0 7,0 108,3 21,0 12,0 54,00
11 123 102,2 9,0 7,0 73,3 25,0 11,0 49,50
12 121 129,9 11,1 9,6 73,5 24,0 13,0 58,50
13 125 94,9 9,2 7,2 72,9 20,4 6,0 27,00
14 127 95,9 8,8 6,8 61,5 27,4 10,0 45,00
15 131 116,8 9,0 7,0 83,3 24,2 12,0 54,00
16 120 113,5 10,0 8,0 83,3 21,0 10,0 45,00
17 118 75,5 7,8 5,8 74,3 27,2 10,5 47,25
18 125 106,7 9,3 7,3 87,8 22,6 12,8 57,60
19 128 113,3 8,8 6,8 72,4 24,6 10,5 47,25
20 132 91,7 7,0 5,0 89,1 21,8 8,5 38,25
21 133 92,2 7,6 5,6 60,4 24,0 7,0 31,50
22 124 124,7 8,0 6,0 93,6 19,5 8,5 38,25
23 120 117,7 7,0 5,0 147,6 20,0 12,1 54,63
24 128 93,1 9,0 7,0 106,0 19,7 12,0 54,00 N352 145 111,6 8,0 6,0 123,0 22,0 14,5 65,25
Trang 6Tổng số nhánh của các dòng biến động
từ 6,4 nhánh cả 24 dòng giống lúa (dòng số
7) đến 11,2 nhánh (dòng số 12), giống đối
chứng có 8,0 nhánh Theo IRRI, thì đều có
khả năng đẻ nhánh thuộc diện thấp đến
trung bình, đây là đặc điểm tốt cần khai
thác Số bông hữu hiệu trên khóm là một chỉ
tiêu chính góp phần làm tăng năng suất của
một giống
Kết quả cho thấy dòng đạt số bông hữu
hiệu cao nhất là số 12 (9,6 bông/K) và thấp
nhất là dòng số 7 (3,4 bông/K) Mục tiêu
của trồng lúa là thu hoạch hạt vì vậy năng
suất và các yếu tố cấu thành năng suất luôn
là chỉ tiêu quan trọng trong công tác chọn
tạo giống và đánh giá một giống tốt hay xấu
Năng suất thực thu của các dòng biến động
từ 7,0g/cây (dòng số 4 và 21) đến 15,5g/cây
(dòng số 9), đối chứng đạt 14,5g/cây Về
năng suất thực thu thì chỉ duy nhất có dòng
số 9 (IRBLz-Fu) cho năng suất thực thu cá
thể cao hơn đối chứng, các dòng còn lại đều
thấp hơn Hai dòng số 9(IRBLz-Fu) và số 5
(IRBLks-S) có năng suất thực thu cao đạt
trên 6,0 tấn/ha có thể chấp nhận đưa trồng ra
thực tế sản xuất vì chúng còn có khả năng
chống bệnh đạo ôn tốt
4 Kết luận
- Bằng phương pháp lây nhiễm nhân tạo
sử dụng 4 chủng phân lập nấm bệnh đạo ôn
đã phát hiện thấy có 8 dòng giống chứa các
gen Pi- k s , Pi-k, Pi-z, Piz-5, Pi 1, Pi 3 và Pi 5(t) biểu hiện khả năng chống rất mạnh với
cả 4 chủng phân lập
- Dòng lúa IRBLz-Fu chứa gen Pi-z cho
năng suất khá cao (69,75 tạ/ha) vừa có khả năng chống bệnh đạo ôn tốt, có thể đưa đi khảo nghiệm giống quốc gia
Tài liệu tham khảo
Kato (1993) Plant diseases 77 P: 1211 - 1216
Kangle Zheng, Ning Huang, John Bennett, and
Gurdev S Khush, (1995) PCR-based
marker assisted selection in rice breeding
IRRI international Rice Research Institute P.O.Box 933, Manila 1099, Phillippines
Ou, S, H, (1985) Rice diseases, 2 nd ed,
Commonwealth Agric, Bureaux, Central Sales, Farnham Royal, Slough, UK P.380
Tiêu chuẩn đánh giá giống lúa IRRI năm, (1996) Tài liệu dịch tiếng Việt
Veeraraghavan J., (1975) A new method of
classification and nonmenclature of physiologic races of Pyricularia oryzae