ảnh hưởng của liều lượng đạm đến năng suất chất khô ở các giai đoạn sinh trưởng và năng suất hạt của một số giống lúa lai và lúa thuần Affection of Nitrogen fertilizer level on dry matt
Trang 1ảnh hưởng của liều lượng đạm đến năng suất chất khô ở các giai
đoạn sinh trưởng và năng suất hạt của một số giống lúa lai và lúa
thuần Affection of Nitrogen fertilizer level on dry matter production at different growth stage and
grain yield of several F 1 hybrid and inbred rice cultivars
Phạm Văn Cường 1 , Phạm Thị Khuyên 1 và Phạm Văn Diệu 2
SUMMARY
In the Autumn season of 2004, two F1 hybrid rice (Bac uu 903 and Viet lai 20), and one inbred variety (CR203) were planted under different nitrogen fertilizer levels (0, 60, 120 and 180 kg per ha) and the same level of P2O5 (90kg per ha) and K2O (90 kg per ha) to compare between hybrid and inbred rice about leaf area index (LAI) and crop growth rate (CGR) at 2, 4 and 6 week after transplanting, flowering and dough-ripen stage, and grain yield and yield components at harvesting stage The experimental results showed that at all growth stages, LAI and CGR in both F1 hybrid cultivars increased much higher than that in the inbred cultivar as increasing N levels, especially at 4 weeks after transplanting Both grain yield and the number of spikelets per panicle in all rice cultivars increased as higher N condition However, the increase was much higher in the F1 hybrids than that in inbred variety, especially under high N condition It was found that in all rice cultivars, grain yield was positively correlated with both LAI under all N levels at all growth stage, whereas the correlation between grain yield and CGR was only significant at the early growth stage (2 -4 week after transplanting) A significant and positive correlation was found between grain yield and the number of panicles per hill and between grain yield and the number of spikelets per panicle
Keyword : CGR, Dry matter production, hybrid rice, grain yield, LAI, nitrogen fertilizer
1 ĐặT VấN Đề
Đạm là yếu tố rất quan trọng ảnh hưởng đến sinh trưởng và năng suất của cây lúa (Wada và
cs, 1969; 1989; Vũ Hữu Yêm, 1995) Các giống lúa có thời gian sinh trưởng khác nhau thì khả năng
sử dụng N khác nhau (Yoshida, 1981; Trần Thúc Sơn và Đặng Văn Hiến, 1995) Trong các giống lúa thì lúa lai có khả năng hút đạm mạnh hơn so với lúa thuần ở giai đoạn đầu của quá trình sinh trưởng do có ưu thế lai (ƯTL) về bộ rễ và khả năng hút đạm (Kobayashi và cs, 1995; Yang và cs, 1999) Ngoài ra, hiệu suất sử dụng N đối với quang hợp cũng như năng suất chất khô và năng suất hạt của lúa lai cao hơn hẳn so với lúa thuần (Murayam và cs, 1987; Yang và cs, 1999; Phạm Văn Cường và cs, 2003) Ưu thế lai về năng suất của lúa lai F1 so với lúa thuần được xác định là do ưu thế lai về khối lượng chất khô tích luỹ được cung cấp bởi chỉ số diện tích lá cao hơn, đặc biệt là ở giai đoạn đầu của quá trình sinh trưởng (Govinda và Siddiq, 1986; Yang và cs, 1999; Phạm Văn Cường và cs, 2004b) Vì vậy, đề tài tiến hành nhằm xác định ảnh hưởng của liều lượng phân đạm
đến chỉ số diện tích lá và khối lượng chất khô tích luỹ của lúa lai và lúa thuần ở từng giai đoạn sinh trưởng và mối liên hệ của chúng đối với năng suất hạt
2 VậT LIệU Và PHƯƠNG PHáP NGHIÊN CứU
Vật liệu nghiên cứu gồm hai giống lúa lai là (Việt lai 20, Bắc ưu903) và 1 giống lúa thuần là CR203 Thí nghiệm được tiến hành trong vụ mùa năm 2004, tại Khoa Nông học, Trường Đại học Nông nghiệp I, Hà Nội Thí nghiệm gồm 4 mức phân đạm là 0, 60, 120 và 180 kgN/ha, trên nền phân lân và kali đồng nhất là 90 kg P2O5 và 60 kg K20/ha, được bố trí theo khối ngẫu nhiên hoàn toàn với 3 lần nhắc lại và diện tích mỗi ô là 15m2 (Gomez và Gomez, 1984) Tại các giai đoạn sau
Trang 2cấy 2, 4 và 6 tuần, giai đoạn trỗ và chín sáp (sau trỗ 15 ngày), mỗi ô thí nghiệm lấy 5 khóm theo
đường chéo để đo đếm các chỉ tiêu về diện tích lá (cm2) bằng máy ANA-GA-5 (Nhật Bản); Chỉ số diện tích lá (Leaf area index- LAI) = Tổng diện tích các lá (m2)/ Diện tích đất lấy mẫu (m2); Khối lượng chất khô trên toàn cây (Dry matter accumulation- DM) đo diện tích lá sau đó đem sấy mẫu ở nhiệt độ 80oc trong 48 h; Tốc độ tích luỹ chất khô (Crop growth rate- CGR) = (P2 – P1)/t x số khóm/m2(g/m2/ngày), trong đó P2, P1 là khối lượng khô của cây tại thời điểm lấy mẫu và t là thời lượng giữa hai thời điểm
Lấy 5 khóm trên 1 ô tiến hành đo đếm các chỉ tiêu về năng suất như: số bông/khóm, số
hạt/bông và số hạt chắc/bông Tính khối lượng 1000 hạt bằng cách lấy mỗi ô 2 mẫu, mỗi mẫu đếm
500 hạt Tính năng suất lý thuyết (NSLT), năng suất hạt thực thu ở độ ẩm 14%
Các số liệu thu được phân tích thống kê theo phương pháp ANOVA bằng chương trình IRRISTAT Ver 4.0 và SAS, 1995
3 KếT QủA Và THảO LUậN
3.1 ảnh hưởng của liều đạm đến chỉ số diện tích lá (LAI) của các giống lúa
LAI của cả 3 giống tăng dần trong quá trình sinh trưởng và đạt trị số tối đa vào giai đoạn trỗ 50% (bảng 1) ở giai đoạn trỗ, khi tăng lượng đạm từ 0 đến 120kg N/ha thì LAI của các giống lúa
đều tăng ở mức ý nghĩa, ở mức 120N, LAI của các giống CR203, Việt lai 20 (VL20) và Bắc ưu 903 (BU 903) lần lượt là 5,8; 4,5 và 6,1 Kết quả này phù hợp với nghiên cứu trước đây (Sarker và cs, 2002; Bùi Đình Dinh và Nguyễn Văn Bộ, 1995) Khi tăng lượng đạm bón, LAI ở giống Bắc ưu 903 tăng mạnh hơn ở giống CR203, điều này chứng tỏ khả năng chịu phân của lúa lai tốt hơn lúa thuần (Murayama và cs, 1987; Phạm Văn Cường và cs, 2003) Khi tăng lượng đạm bón từ 120 lên 180kg N/ha, LAI của giống CR203 và Việt lai 20 tăng ở mức ý nghĩa, trong khi đó ở giống Bắc ưu 903 lại giảm Điều này xảy ra là do giống Bắc ưu 903 bị bệnh bạc lá gây hại nặng ở giai đoạn này Giai
đoạn sau trỗ 2 tuần, LAI ở tất cả các giống đều giảm ở mức ý nghĩa ở các giống lúa lai, LAI giảm nhiều hơn so với ở lúa thuần Điều này chứng tỏ tại giai đoạn sau trỗ khả năng chuyển vàng đồng nghĩa với việc vận chuyển hydrat carbon của lá ở lúa lai mạnh hơn lúa thuần (Song và cs, 1990; Phạm Văn Cường và cs, 2003)
3.2 ảnh hưởng của các mức đạm đến tốc độ tích luỹ chất khô(CGR) của các giống lúa
Khi tăng mức đạm bón từ 60 kg 180kg N/ha, tốc độ tích luỹ chất khô (CGR) của 2 giống lúa lai tăng vượt trội so với giống lúa thuần (bảng 2) ở giai đoạn 2 và 4 tuần sau cấy, CGR của giống CR203 không tăng ở mức ý nghĩa, trong khi đó ở điều này xảy ra ở giống lúa lai VL20 (12,6 – 14,2)
và BU903 (13,1 – 14,3) Kết quả này hoàn toàn phù hợp với các nghiên cứu trước (Bùi Đình Dinh và Nguyễn Văn Bộ, 1995; Yang và cs, 2002; Phạm Văn Cường và cs, 2003) Đặc biệt là ở giai đoạn trỗ 50% và sau trỗ 2 tuần, CGR của CR203 thấp hơn của VL20 Điều này có thể giải thích là do lúa lai
có khả năng duy trì bộ lá tốt hơn lúa thuần Trong cùng một mức đạm, CGR của lúa lai cao hơn lúa thuần ở mức có ý nghĩa, ở mức 180N trong giai đoạn sau cấy 2 – 4 tuần, CGR của VL20, BU903 và
CR 203 lần lượt là 14,2, 14,3 và 12,6 Kết quả này phù hợp với những công trình trước đây (Song và
cs, 1990; Phạm Văn Cường và cs, 2004b)
3.3 ảnh hưởng của các mức đạm đến năng suất và các yếu tố cấu thành năng suất của các giống lúa
Trong cùng một mức đạm, giống lúa thuần (CR203) có số bông/m2 cao hơn so với lúa lai (VL20 và BU903), ở mức 120N, CR203 có 311 bông/m2, VL20 có 260 bông/m2 và BU 903 có 288 bông/m2 (bảng 3) Như vậy ưu thế lai về năng suất hạt phụ thuộc vào số hạt/bông, điều này phù hợp
Trang 3Bảng 1 Chỉ số diện tích lá của các giống thí nghiệm ở các mức đạm qua
các giai đoạn sinh trưởng (m 2
lá/m 2
đất)
Giống
TSC
MP (kgN/ha)
2 tuần
1,2l
2,7deghi
1,5i
3,4de
1,9bcdeg
3,9c
CR
1,9bcdeg
4,5a
1,5i
2,2k
1,8bcdegh
3,2deg
VL
2,5a
4,4ab
1,4ik
2,9degh
2,0bcde
3,4de
2,1bcd
3,5d
BU
2,3b
3,5d
Ghi chú : TSC- Tuần sau cấy; CR- CR203; VL - Việt lai 20; BU-Bắc ưu 903 ; MP- mức phân
Những số trong cùng 1 cột có cùng chữ ( a
) thì không khác nhau ở mức xác suất 95% theo Duncan
Bảng 2 Tốc độ tích luỹ chất khô của các giống thí nghiệm ở các mức đạm
qua các giai đoạn sinh trưởng (g/m 2
đất/ngày)
Giống
TSC
MP (kgN/ha)
50%
Trỗ 50%
2TST
24,5degh
22,0i
4,3klmn
25,8de
27,1g
9,2deg
CR
28,3ab
26,1gh
5,2klm
25,4deg
10,1de
26,1d
11,4klm
11,4c
28,1abc
12,2kl
17,7b
VL
29,1a
13,2k
19,6a
30,0d
6,4k
21,1l
37,8bc
8,8deghi
22,9deghik
40,7a
8,9degh
BU
23,2deghi
40,0b
5,6kl
Ghi chú : TSC- Tuần sau cấy; CR- CR203; VL - Việt lai 20; BU-Bắc ưu 903; MP- mức phân
Những số trong cùng 1 cột có cùng chữ ( a
) thì không khác nhau ở mức xác suất 95% theo Duncan
với tác giả Song và cs (1990); Phạm Văn Cường và cs (2004a), nhưng khác với kết quả nghiên cứu của Kobayashi (1995) cho rằng lúa lai vượt trội so với lúa thuần cả về số bông/khóm và số hạt/bông Khi tăng lượng đạm bón, chỉ số này tăng mạnh ở các giống lúa lai hơn so với ở lúa thuần (bảng 3),
điều này cho thấy nhu cầu đạm với đẻ nhánh của lúa lai cao hơn lúa thuần ở mức đạm thấp (60 kgN/ha) năng suất của lúa thuần (CR203) và 2 giống lúa lai (VL20; BU93) không khác nhau ở mức
có ý nghĩa Khi tăng mức đạm lên 120 và 180 kgN/ha thì năng suất của VL20, BU903 cao hơn ở mức ý nghĩa so với CR203 Sở dĩ có sự khác biệt này là do sự vượt trội của các giống lúa lai về cả về diện tích lá, khả năng hấp thụ đạm và cường độ quang hợp (Phạm Văn Cường và cs, 2003) CR203
là giống lúa thuần, khả năng thâm canh không cao nên khi tăng năng mức đạm bón năng suất hạt tăng không đáng kể Trong khi đó BU903 là giống lúa lai có khả năng thâm canh cao, khi tăng mức
đạm bón làm tăng năng suất hạt Giống Việt lai 20 cũng là giống lúa lai nhưng do thời gian sinh trưởng ngắn nên ở mức đạm 180N năng suất hạt không tăng ở mức ý nghĩa so với năng suất ở mức
120 N Kết quả này cho thấy lúa lai có ưu thế lai về năng suất (Yoshida, 1981; Yamaguchi và Yoshida, 1985; Phạm Văn Cường và cs, 2003, 2004 a)
Trang 4Bảng 3 Các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất của các giống thí nghiệm ở các mức đạm
Giống
chỉ tiêu
MP
(kgN/ha)
Số
Số hạt/bông
Tỉ lệ hạt chắc(%)
M1000 (g)
NSLT (tạ/ha)
NSTT (tạ/ha)
CR
130,2ghi
130,9gh
140,9cde
VL
143,9cd
158,5ab
BU
Ghi chú : CR- CR203; VL - Việt lai 20; BU-Bắc ưu 903 ; MP- mức phânNhững số trong cùng 1 cột có cùng chữ ( a
) thì không khác nhau ở mức xác suất 95% theo Duncan M 1000 - khối lượng 1000 hạt ; NSLT - năng suất lý thuyết; NSTT - năng suất thực thu
3.4 Mối quan hệ giữa năng suất hạt và các yếu tố liên quan ở các thời kỳ sinh trưởng
ở tất cả các mức đạm, năng suất hạt có tương quan với LAI ở tất cả các giống lúa trong các giai đoạn sau cấy 2, 4 và 6 tuần và giai đoạn trỗ, đặc biệt ở giai đoạn 2-4 tuần sau cấy, tuy nhiên tương quan này không ý nghĩa ở giai đoạn chín sáp (đồ thị 1) Điều này cho thấy khi tăng lượng đạm bón, ưu thế lai về LAI của lúa lai chủ yếu ở trong giai đoạn đầu (Murayama và cs, 1987; Phạm Văn Cường và cs, 2004 b), đây là nguyên nhân làm tăng năng suất lúa lai Tốc độ tích luỹ chất khô (CGR) và năng suất hạt có tương quan thuận ở mức có ý nghĩa trong các giai đoạn đầu của quá trình sinh trưởng (2-4 tuần sau cấy), tuy nhiên tương quan này không có ý nghĩa ở giai đoạn sau (đồ thị 2) Kết quả này là do đồng thời LAI, quang hợp và khả năng tích luỹ hydratcarbon của lúa lai cao hơn lúa thuần, đặc biệt là ở nền đạm cao (Kumura và cs, 1995; Song và cs, 1990; Kobayashi và cs, 1995; Phạm Văn Cường và cs, 2003)
Trang 5y = 4 3 ,0 6 x + 4 0 ,9 7
r = 0 , 5 0 8 *
0
2 0
4 0
6 0
8 0
C R ; r = - 0 , 0 3
V L ; r = - 0 , 4 4
B U ; r = 0 , 9 5 * * *
B
y = 1 3 ,7 5 x + 2 8 ,6 2
r = 0 , 7 7 * *
0
2 0
4 0
6 0
8 0
L A I ( m 2
l á / m 2
đ ấ t )
C R ; r = 0 , 9 6 * * *
V L ; r = 0 , 9 7 * * *
B U ; r = 0 , 9 2 * * *
C
y = 5 , 6 7 x + 3 0 , 8 5
r = 0 ,8 6 * *
0
2 0
4 0
6 0
8 0
C R ; r = 0 , 9 9 * * *
B U ; r = 0 , 8 1 *
D
y = 1 , 1 3 x + 5 0 , 7 7
r = 0 , 1 5
0
2 0
4 0
6 0
8 0
C R ; r = 0 , 9 9 * * *
V L ; r = 0 9 4 * * *
B U ; r = 0 , 8 5 * *
L A I ( m 2 l á / m 2 đ ấ t )
Đồ thị 1 Tương quan giữa chỉ số diện tích lá (LAI) với năng suất thực thu (NSTT) ở các giống lúa CR203 (trắng), Việt lai 20 (đen) và Bắc ưu 903 (xám) với các mức phân 0N (vuông), 60 N(tròn), 120N (thoi) và 180N (tam giác), tại các giai đoạn sau cấy 2 tuần (A), đẻ nhánh hữu hiệu (B), trỗ (C) và chín sáp (D)
*, ** và ***: tương ứng ý nghĩa ở mức xác suất 95; 99 và 99,9%.
A
y = 2,64x + 22,58
r =
**
20
40
60
80
C R ;r= 0,94***
B U ;r= 0,90***
B
y = 0,05x + 52,93
r =
20
40
60
80
C R ; r= 0,73**
V L ;r= 0,93***
B U ;r= 0,99***
C
y = 0,31x + 46,55
r = -0.07
20 40 60 80
C R ;r= 0,67*
V L ;r= 0,74**
B U ;r= -0.11***
D
y = -0,04x +
r =
-20 40 60 80
C G R (g/m 2 đất/ngày)
C R ;r= -0.186
V L ;r= 0,79**
B U ;r= 0.98***
C G R (g/m 2 đất/ngày)
Đồ thị 2 Tương quan giữa tốc độ tích luỹ chất khô (CGR) với năng suất thực thu (NSTT) ở các giống lúa CR203 (trắng), Việt lai 20 (đen) và Bắc ưu 903 (xám) với các mức phân 0N (vuông), 60 N(tròn), 120N (thoi) và 180N (tam giác), tại các giai đoạn sau cấy 2 tuần (A), đẻ nhánh hữu hiệu (B), trỗ (C) và chín sáp (D)
*, ** và ***: tương ứng ý nghĩa ở mức xác suất 95; 99 và 99,9%
Trang 6y = 0,35x + 5,87
r = 0,81**
20 40 60 80
CR;r= 0,99***
VL;r= 0,94***
BU;r= 0,96***
Số hạt/bông
y = 0,15 x + 12,49
r = 0,68*
20
40
60
80
Số bông/m2
CR;r= 0,99***
BU;r= 0,98***
y = -0,55x + 102,69
r = 0,30
20 40 60 80
Tỷ lệ hạt chắc (%)
CR;r= 0,94***
VL;r= 0,92***
BU;r= -0,98***
CR;r= 0,89***
VL;r= -0,68*
BU;r= -0,23
y = -0,18x + 58,60
r = 0,01
40
60
80
20
Khối lượng 1000hạt (g)
ở tất cả các mức N, năng suất hạt có tương quan với số bông/m2 ở mức có ý nghĩa trong tất cả các giống (đồ thị 3) Như vậy khi tăng lượng đạm bón, khả năng đẻ nhánh hữu hiệu ở lúa lai tăng mạnh hơn so với ở lúa thuần (Sarker và cs, 2002; Phạm Văn Cường và cs, 2004b) Năng suất hạt của các giống tỷ lệ thuận với số hạt/bông nhưng không tương quan với tỷ lệ hạt chắc hay khối lượng
1000 hạt (đồ thị 3) Điều này có thể do tăng lượng đạm bón ở giai đoạn đầu của quá trình sinh trưởng đã làm tăng số hoa phân hoá ở lúa lai cao hơn so với lúa thuần (Saitoh và cs, 2000; Nagata và
cs, 2001) Tuy nhiên tương quan giữa năng suất và số hạt trên bông (r= 0,81) chặt hơn tương quan giữa năng suất hạt với số bông/m2 (r = 0,68), như vậy, khi tăng lượng đạm bón thì việc tăng số hạt/ bông ở lúa lai cao hơn so với lúa thuần và đã đóng vai trò quan trọng hơn trong việc tăng năng suất lúa Kết quả này phù hợp với các công trình nghiên cứu trước (Govinda và Siddiq, 1986; Virmani, 1994; Kobayashi và cs, 1995)
2
Đồ thị 3 Tương quan giữa các yếu tố cấu thành năng suất với năng suất thực thu (NSTT) ở các giống lúa CR203 (trắng), Việt lai 20 (đen) và Bắc ưu 903 (xám) với các mức phân 0N (vuông), 60 N(tròn), 120N (thoi)
và 180N (tam giác), tại các giai đoạn sau cấy 2 tuần (A), đẻ nhánh hữu hiệu (B), trỗ (C) và chín sáp (D)
*, ** và ***: tương ứng ý nghĩa ở mức xác suất 95; 99 và 99,9%
ở mức có ý nghĩa trong tất cả các giống (đồ thị 3) Như vậy khi tăng lượng đạm bón, khả năng đẻ nhánh hữu hiệu ở lúa lai tăng mạnh hơn so với ở lúa thuần (Sarker và cs, 2002; Phạm Văn Cường và cs, 2004b) Năng suất hạt của các giống tỷ lệ thuận với số hạt/bông nhưng không tương quan với tỷ lệ hạt chắc hay khối lượng
1000 hạt (đồ thị 3) Điều này có thể do tăng lượng đạm bón ở giai đoạn đầu của quá trình sinh trưởng đã làm tăng số hoa phân hoá ở lúa lai cao hơn so với lúa thuần (Saitoh và cs, 2000; Nagata và
cs, 2001) Tuy nhiên tương quan giữa năng suất và số hạt trên bông (r= 0,81) chặt hơn tương quan giữa năng suất hạt với số bông/m2 (r = 0,68), như vậy, khi tăng lượng đạm bón thì việc tăng số hạt/ bông ở lúa lai cao hơn so với lúa thuần và đã đóng vai trò quan trọng hơn trong việc tăng năng suất lúa Kết quả này phù hợp với các công trình nghiên cứu trước (Govinda và Siddiq, 1986; Virmani, 1994; Kobayashi và cs, 1995)
4 KếT LUậN
Khi tăng lượng phân đạm bón, LAI , DM và CGR của lúa lai tăng vượt trội so với giống lúa thuần, đặc biệt ở giai đoạn sau cấy 4 tuần
Khi tăng lượng phân đạm bón, LAI , DM và CGR của lúa lai tăng vượt trội so với giống lúa thuần, đặc biệt ở giai đoạn sau cấy 4 tuần
Khi tăng lượng đạm bón, năng suất của các giống lúa đều tăng, tuy nhiên năng suất của lúa lai tăng nhiều hơn năng suất của lúa thuần
Khi tăng lượng đạm bón, năng suất của các giống lúa đều tăng, tuy nhiên năng suất của lúa lai tăng nhiều hơn năng suất của lúa thuần
Năng suất hạt của các giống lúa thí nghiệm ở các mức phân bón có tương quan thuận ở mức
có ý nghĩa với LAI và CGR ở giai đoạn đầu của quá trình sinh trưởng, và số bông/m2 và số hạt/bông
Năng suất hạt của các giống lúa thí nghiệm ở các mức phân bón có tương quan thuận ở mức
có ý nghĩa với LAI và CGR ở giai đoạn đầu của quá trình sinh trưởng, và số bông/m2 và số hạt/bông
Tài liệu tham khảo
Pham Van Cuong., Murayama, S and Kawamitsu, Y (2003) “Heterosis for photosynthesis, dry matter production and grain yield in F1 hybrid rice (Oryza sativa L.) from thermo-sensitive genic male sterile line cultivated at different soil nitrogen levels” Environ Control in Biol 41
(4) : page 335-345
Pham Van Cuong., Murayama, S and Kawamitsu, Y (2003) “Heterosis for photosynthesis, dry matter production and grain yield in F1 hybrid rice (Oryza sativa L.) from thermo-sensitive genic male sterile line cultivated at different soil nitrogen levels” Environ Control in Biol 41
(4) : page 335-345
Trang 7Pham Van Cuong., Murayama, S., Ishimine, Y., Kawamitsu, Y., Motomura, K and Tsuzuki, E (2004a) “Sterility of TGMS line, heterosis for grain yield and related characters in F1 hybrid
rice (Oryza sativa L.)” Plant Prod Sci 1 (4) : 22-29
Pham Van Cuong, Murayama, S; Kawamitsu, Y., Motomura, K, and Miyagi, S (2004b) “Heterosis for Photosynthetic and Morphological characters in F1 hybrid rice (Oryza sativa L.) from a
thermo-sensitive genic male sterile line at different growth stages” Japanese Journal of Tropical Agriculture 48 (3) : 137-148
Bùi Đình Dinh, Nguyễn Văn Bộ (1995) “Phân bón cho lúa lai (TG) trên một số loại đất trồng lúa ở Việt Nam” Viện Thổ nh−ỡng-Nông hóa, Tr 5-8
Gomez, K.A and Gomez, A.A (1984) “Statistical Procedure for Agricultural Research” Second Edition John Wiley & Sons, New York 1-680
Govinda, R.K and Siddiq, E.A (1986) “Hybrid vigour in rice with reference to morphophysiological components of yield and root density” SABRAO J 18 : 1-7
Kobayashi, M., Kubota, F., Hirao, K and Agata, W (1995) “Characteristic of photosynthesis and matter partitioning
in leading hybrid rice, Oryza sativa L., Bred in China” J Fac Agr., Kyushu Univ 39 (3-4) 175-182
Kumura, S (1995) “Physiology of high yielding rice plants from the viewpoint of dry matter production and its partitioning” In T Mastuo, K, K.Kumazawa, R, R Ishii, K.Ishihara and
H.Hirata eds Science of the Rice Plant Vol 2 Physiology Food and Agriculture Policyb
Research Center, Tokyo 704-736
Murayama, S., Miyazato, K and Nose, A (1987) “Studies on matter production of F1 hybrid in rice
I Heterosis in the single leaf photosynthetic rate” Jpn J Crop Sci 56 : 198-203
Nagata, K., Yoshinaga, S., Takanashi, J and Terao, T (2001) “Effect of dry matter production, translocation of nonstructural carbohydrates and nitrogen application on grain filling in rice
cultivar Takanari, a cultivar bearing a large number of spikelets” Plant Prod Sci 4 : 173-183
Sarker, M.A.Z., Murayama, S., Ishimine, Y and Tsuzuki, E (2002) “Effect of nitrogen fertilization
on photosynthetic characters and dry matter production in F1 hybrids of rice (Oryza sativa L.)”
Plant Prod Sci 5 : 131-138
Saitoh, K., Doi,T and Kuroda, T (2000) “Effects of nitrogen fertilization on dark respiration and
growth efficiency of field grow rice plants” Plant Pro Sci 3: 238-242
Song, X., Agata, W and Kawamitsu, Y (1990) “Studies on dry matter and grain production of F1 hybrid
rice in China II Characteristics of grain production” Jananes Journal of Crop Sci 59 : 29-33
Trần Thúc Sơn và Đặng Văn Hiến (1995) Xác định l−ợng phân bón thích hợp bón cho lúa trên đất phù sa Sông Hồng để có năng suất cao và hiệu quả kinh tế NXB Nông nghiệp, 1995
Virmani, S.S (1994) “Heterosis and Hybrid Rice Breeding” Springer-Verlag, Berlin 1-189
Yamauchi, M and Yoshida, S (1985) “Heterosis in net photosynthetic rate, leaf area, tillering, and
some physiological characters of 35 F1 rice hybrids” J Expt Bot 36 : 274-280
Yang, X., Zhang, W and Ni, W (1999) “Characteristics of nitrogen nutrition in hybrid rice In Hybrid Rice” IRRI, Los Banos 5-8
Yoshida, S (1981) “Fundamentals of rice crop science” Intl Rice Res Inst 269
Yuan, L.P (1987) “Strategy conception of hybrid rice breeding” Hybrid Rice 1 : 1-3
Wada, G (1969) “The effects of nitrogenous nutrition on the yield –determining process of rice plants” Bull Natl Inst Agric Sci 16 : 27-167
Vũ Hữu Yêm (1995) Phân bón và cách bón phân NXB Nông nghiệp, Tr 14-20