1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Cường độ quang hợp của lá và quả cà phê trong giai đoạn phát triển của quả tại Buôn Ma Thuột docx

4 517 2
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Cường độ quang hợp của lá và quả cà phê trong giai đoạn phát triển của quả tại Buôn Ma Thuột
Tác giả Nguyễn Văn Thái, Hoàng Minh Tấn
Trường học Viện Khoa Học Kỹ Thuật Nông Lâm Nghiệp Tây Nguyên
Chuyên ngành Nông học
Thể loại Bài báo
Năm xuất bản 2004
Thành phố Buôn Ma Thuột
Định dạng
Số trang 4
Dung lượng 145,92 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nhóm giống chín sớm có cường độ quang hợp của lá đạt cao nhất vào tháng 5, nhóm giống chín trung bình và chín muộn đạt cao nhất vào tháng 7.. Vào tháng 7, quả cà phê chè của nhóm chín sớ

Trang 1

Tạp chí KHKT Nông nghiệp, Tập 2 số 1/2004

Cường độ Quang hợp của lá và quả cà phê trong giai đoạn

phát triển của quả tại Buôn Ma Thuột Photosyntetic intensity of coffee leaves and fruits during the fruit development

in Buon Ma Thuot

Nguyễn Văn Thái 1 , Hoàng Minh Tấn 2

Summary The photosynthetic intensity of leaves and fruits of Robusta and Arabica coffee during the fruit development stages was determined The leaf photosynthetic intensiy of Robustat coffee was higher than that of Arabica Leaf photosynthetic intensity varied with the developmental stages of fruits and maturity groups and attained a maximum value at maximum fruit size For both Robusta and Arabica coffee, the fruit photosynthetic intensity increased with fruit volume and weight Highest fruit photosynthetic intensity was found when fruits attained maximum dimension and dry weight (March-May for Arabica and May-July for Robusta)

Keywords : Coffee Arabica and Robusta, photosynthetic intensity

1 Đặt vấn đề 1

Đối với cây trồng nói chung và cây cà

phê nói riêng, hoạt động quang hợp quyết

định đến năng suất, đồng thời phản ánh hiệu

quả các biện pháp kỹ thuật canh tác Kết

quả nghiên cứu về quang hợp của cây cà

phê chưa nhiều, nhất là cà phê được trồng ở

Việt Nam

Cannell (1987) cho rằng cường độ

quang hợp tối đa của lá cà phê ngoài nắng

thấp, khoảng 7àmol CO2/m2 lá/giây, thấp

hơn nhiều so với nhiều cây trồng khác Kết

quả nghiên cứu của Boyer (1968) ở Cote

d'Ivoire cho thấy đồ thị quang hợp của lá cà

phê trong một ngày có hai cực đại: vào lúc

8-9 giờ sáng và 1430-1530 chiều Tại Việt

Nam, khi nghiên cứu hệ sinh thái cà phê

Đắc Lắc, Phạm Quang Anh và cs(1985)

cũng đưa ra những kết luận tương tự Tuy

nhiên số liệu mà Phạm Quang Anh đưa ra

rất thấp, từ 1,5-2,0mg CO2/dm2 lá/giờ

(tương đương 1,0-1,3 àmol CO2/m2 lá/giây)

Phan Văn Tân (2001) cho rằng cường độ

quang hợp của lá đạt cực đại trong điều kiện

Tây Nguyên thường vào tháng 7 - 8 Quang

1

NCS Khoa Nông học

2

Bộ môn Sinh lý Thực vật khoa Nông học

hợp của quả đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành hiệu suất đồng hoá thuần và năng suất cà phê vối

2 Đối tượng, Nội dung và phương

pháp nghiên cứu

Xác định cường độ quang hợp lá, quả

của các nhóm giống cà phê chè (Coffea

arabica Liné), cà phê vối (Coffea canephora Pierre) theo từng giai đoạn phát

triển của quả

Đối tượng nghiên cứu là những vườn cà phê kinh doanh được trồng tại Viện Khoa học

Kỹ thuật Nông Lâm nghiệp Tây Nguyên Cường độ quang hợp được xác định theo phương pháp của S.P Long và J E Hallgren (1993) Thời điểm đo từ 8-10 giờ sáng và 14-1530 chiều vào những ngày trời nắng và quang mây tuần đầu của các tháng

3 Kết quả nghiên cứu và thảo

luận 3.1 Cường độ quang hợp của cà phê chè

(Coffea arabica Liné)

Cường độ quang hợp của lá và quả ở các nhóm giống cà phê chè được đo trên vườn tập đoàn cà phê chè, trồng năm 1995, tại Viện Khoa học Kỹ thuật Nông Lâm nghiệp Tây Nguyên Kết quả được ghi nhận tại bảng 1 và bảng 2

Trang 2

Bảng 1 Cường độ quang hợp thực của lá theo giai đoạn phát triển qủa ở các nhóm

giống cà phê chè (àmol CO 2 /m 2 /giây)

Chín sớm

Chín trung bình

Chín muộn

8,16 ± 0,44 8,59 ± 0,63 8,34 ± 0,88

9,52 ± 0,57 8,83 ± 0,66 9,14 ± 1,06

8,81 ± 0,37 a 9,22 ± 0,30 ab 9,76 ± 1,18 b

X trung bình

LSD 0,05

8,36

NS

9,16

NS

9,26 0,58

Ghi chú: NS-không tin cậy; Các ký hiệu a, b… giống nhau thì không sai khác

Bảng 2 Cường độ quang hợp thực của quả cà phê chè (àmol CO2/100g quả/giây)

Chín sớm

Chín trung bình

Chín muộn

0,45 ± 0,07 0,41 ± 0,06 0,42 ± 0,08

2,70 ± 0,37 2,91 ± 0,29 2,63 ± 0,22

2,69 ± 0,24 a 2,94 ± 0,28 ab 3,39 ± 0,41 b 3,19 ± 0,32 Trung bình

LSD0,05

0,42

NS

2,75

NS

3,01 0,51

3,19

NS

Trong thời gian cây cà phê mang quả,

cường độ quang hợp của lá ở các nhóm

giống cà phê chè có xu hướng tăng dần từ

tháng 3 đến tháng 7 Nhóm giống chín sớm

có cường độ quang hợp của lá đạt cao nhất

vào tháng 5, nhóm giống chín trung bình và

chín muộn đạt cao nhất vào tháng 7 Sự sai

khác này có liên quan đến hiện tượng "hiệu

ứng bồn chứa" diễn ra trên cây cà phê mà

Cannell (1987) và một số tác giả đã đề cập

Sự chênh lệch về cường độ quang hợp

của lá giữa các nhóm vào tháng 3 và tháng

5 không có ý nghĩa thống kê Vào tháng 7,

quả cà phê chè của nhóm chín sớm có kích

thước tối đa, khả năng huy động chất khô

vào hạt đã ổn định nên cường độ quang hợp

của lá giảm so với tháng 5 Trong khi đó,

quả của nhóm chín trung bình và chín muộn

tuy kích thước hạt đã đạt tối đa song sự tích

luỹ chất khô ở hạt vẫn diễn ra mạnh nên

cường độ quang hợp trong tháng 7 cao hơn

tháng 5 và cao hơn so với nhóm chín sớm

Sự sai khác này có ý nghĩa thống kê (với

mức α=0,05)

Theo Cannell (1987) và Huxley (1967)

thì quả cà phê đang thời kỳ tăng trưởng

cũng trực tiếp hoạt động quang hợp, nhưng

các tác giả chưa đưa ra số liệu cụ thể về cường độ quang hợp của quả Theo dõi diễn biến cường độ quang hợp của quả cà phê chè ở các giai đoạn khác nhau được ghi nhận tại bảng 2

Vào tháng 3 (tức sau khi hoa nở 2 tháng), quả cà phê chè đang ở thời kỳ ngủ nghỉ, quả có kích thước nhỏ nên cường độ quang hợp của quả thấp (0,42 àmol

CO2/100g quả/giây) và sự sai khác giữa các nhóm không có ý nghĩa thống kê Đến tháng 5, lúc này quả cà phê chè tăng mạnh

về kích thước và khối lượng tươi dẫn đến diện tích bề mặt quả lớn, do vậy cường độ quang hợp của quả tăng mạnh (2,63 àmol

CO2/100g quả/giây ở nhóm chín muộn và 2,91 àmol CO2/100g quả/giây ở nhóm chín trung bình)

Cường độ quang hợp của quả ở nhóm chín sớm và chín trung bình trong tháng 7 không tăng hơn so với tháng 5 Sự sai khác giữa hai nhóm là không đáng kể Riêng đối với nhóm chín muộn, cường độ quang hợp trong tháng 7 cao hơn trong tháng 5 và cao hơn có ý nghĩa thống kê so với nhóm chín sớm và nhóm chín trung bình Trong tháng

9, quả của nhóm chín sớm và chín trung

Trang 3

bình đang chín nên chúng tôi không lấy

mẫu, còn nhóm chín muộn có cường độ

quang hợp của quả ở tháng 9 thấp hơn tháng

7 (3,19 àmol CO2/100g quả/giây so với 3,39

àmol CO2/100g quả/giây)

3.2 Cường độ quang hợp của cà phê vối

(Coffea canephora Pierre)

Kết quả theo dõi diễn biến cường độ

quang hợp của lá và quả cà phê vối được

ghi nhận ở bảng 3 và bảng 4

Số liệu ở bảng 3 cho thấy: So với cà phê

chè, lá cà phê vối có cường độ quang hợp

cao hơn, biến động từ 9,2 àmol CO2/m2

lá/giây đến 12,53 àmol CO2/m2 lá/giây

Cường độ quang hợp của lá ở cả 3 nhóm

đều tăng dần từ tháng 4 theo quá trình phát

triển của quả và đạt cực đại vào tháng 7 ở

nhóm chín sớm (11,25 (àmol CO2/m2/giây)

và chín trung bình (11,18 (àmol

CO2/m2/giây), sau đó giảm ít vào tháng 9

Riêng nhóm chín muộn, cường độ quang

hợp của lá tăng mạnh vào tháng 7 và đạt cực

đại ở tháng 9 (12,53 (àmol CO2/m2/giây)

Cường độ quang hợp của lá giữa các nhóm không khác biệt vào tháng 4 và tháng 5 Vào tháng 7, nhóm chín muộn có cường

độ quang hợp cao hơn có ý nghĩa so với nhóm chín sớm và chín trung bình Đến tháng 9 thì cường độ quang hợp của lá ở cả 3 nhóm có sự khác biệt có ý nghĩa (với mức α=0,05)

Thời gian mang quả của cây cà phê vối kéo dài 9-11 tháng Cường độ quang hợp của quả theo thời gian mang quả có khác nhau, tăng dần từ tháng 4 và đạt cao nhất vào tháng 7 (3,01 àmol CO2/100 gam quả/giây) sau đó giảm ít đối với nhóm chín sớm Cường độ quang hợp của quả cà phê vối ở nhóm chín trung bình và chín muộn cũng tăng cao vào đầu mùa mưa, ứng với giai đoạn quả tăng nhanh về thể tích và đạt cực đại vào đầu tháng 9, khi quả tích lũy chất khô vào hạt và sự khác biệt về cường độ quang hợp của quả giữa các nhóm giống ở giai đoạn này rất đáng

kể (Bảng 4)

Bảng 3 Cường độ quang hợp thực của lá theo giai đoạn phát triển của quả ở các nhóm giống cà phê vối (àmol CO2/m2/giây)

Chín sớm

Chín trung bình

Chín muộn

10,20 ± 0,94 9,82 ± 0,50 10,05 ± 0,52

10,32 ± 0,62 10,41 ± 1,02 10,98 ± 1,43

11,25 ± 1,55 a 11,18 ± 1,24 a 12,29 ± 1,55 b

10,25 ± 0,55 a 11,16 ± 0,74 b 12,53 ± 1,76 c Trung bình

LSD 0,05

10,03

NS

10,57

NS

11,57 0,80

11,31 0,67

Ghi chú : NS-không tin cậy; Các ký hiệu a, b… giống nhau thì không sai khác

Bảng 4 Cường độ quang hợp thực của quả cà phê vối (àmol CO2/100g quả/giây)

Chín sớm

Chín trung bình

Chín muộn

0,65 ± 0,08 0,55 ± 0,09 0,58 ± 0,12

1,99 ± 0,32 1,73 ± 0,28 1,81 ± 0,10

3,01 ± 0,22 3,27 ± 0,23 3,22 ± 0,25

2,94 ± 0,53 a 3,73 ± 0,13 b 3,82 ± 0,31 b

X trungbình

LSD0,05

0,60

NS

1,84

NS

3,17

NS

3,50 0,52

Ghi chú : NS-không tin cậy; Các ký hiệu a, b… giống nhau thì không sai khác

Trang 4

4 Kết luận

Cường độ quang hợp của lá ở các nhóm

giống cà phê chè, cũng như cà phê vối được

trồng tại Buôn Ma Thuột có liên quan chặt

chẽ với quá trình phát triển của quả và đạt

cực đại khi quả ở giai đoạn tăng kích thước,

tích luỹ chất khô

Cường độ quang hợp của lá cà phê chè

thấp hơn so với lá cà phê vối

Quả của các nhóm giống cà phê chè và

cà phê vối có cường độ quang hợp tăng

nhanh khi quả ở giai đoạn tăng thể tích,

khối lượng (tháng 4-5) và đạt cao nhất khi

quả có kích thước tối đa, tích luỹ mạnh chất

khô vào hạt (tháng5-7 đối với cà phê chè;

tháng 7-9 đối với cà phê vối)

Tài liệu tham khảo

Phạm Quang Anh, (1985) "Hệ sinh thái cà phê

Đắc Lắc", tập I Báo cáo chương trình

nghiên cứu tổng hợp hệ sinh thái cà phê

Hà Nội

Phan Văn Tân, (2001) "Nghiên cứu một số chỉ tiêu quang hợp và mối tương quan của chúng với năng suất cà phê vối (Coffea cannephora Pierre var Robusta) tại Đắc

Lắc" Luận án tiến sĩ sinh học Hà Nội Boyer J.,(1968) Influence de Iombrage

artificiel sur la croissance végétative, la floraison et la fruitification des caféiers Robusta Café, cacao thé (4) pp.302-320

Cannell M.G.R., (1987) Physiology of the

coffee crop Coffee: bontany, biochemistry

and production off bean and beverage by Clifford M.N and Wilson K.C edited, Croom Helm publ New York pp88-129 Huxley P.A., (1967) "The effects of artificial shading on some growth characteristics of Arabica and Robusta coffee seedlings I: The effects of shading on dry weight, leaf

area and derived growth data" Jour

Applied ecology (4) pp.291-308

Ngày đăng: 02/04/2014, 20:20

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.  Cường độ quang hợp thực của quả cà phê chè (àmol CO 2 /100g quả/giây) - Cường độ quang hợp của lá và quả cà phê trong giai đoạn phát triển của quả tại Buôn Ma Thuột docx
Bảng 2. Cường độ quang hợp thực của quả cà phê chè (àmol CO 2 /100g quả/giây) (Trang 2)
Bảng 1. Cường độ quang hợp thực của lá theo giai đoạn phát triển qủa ở  các nhóm - Cường độ quang hợp của lá và quả cà phê trong giai đoạn phát triển của quả tại Buôn Ma Thuột docx
Bảng 1. Cường độ quang hợp thực của lá theo giai đoạn phát triển qủa ở các nhóm (Trang 2)
Bảng 3.  Cường độ quang hợp thực của lá theo giai đoạn phát triển của quả  ở các nhóm  giống cà phê vối (àmol CO 2 /m 2 /gi©y) - Cường độ quang hợp của lá và quả cà phê trong giai đoạn phát triển của quả tại Buôn Ma Thuột docx
Bảng 3. Cường độ quang hợp thực của lá theo giai đoạn phát triển của quả ở các nhóm giống cà phê vối (àmol CO 2 /m 2 /gi©y) (Trang 3)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w