1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

(Systemic Acquired Resistance(Resistance) – một hướng đi mới trong phòng trị bệnh cháy lá lúa ? pot

3 692 1
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 3
Dung lượng 176,53 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tuy nhiên, biện pháp này vẫn còn hạn chế nhiều, một mặt do ựặc ựiểm phát triển của nấm bệnh, mặt khác nông dân sử dụng thuốc hoá học khi mầm bệnh vượt quá mức phòng trị, ô nhiễm môi trườ

Trang 1

Thoâng tin khoa hoỉc Số 15 11

(Systemic Acquired Resistance) (Systemic Acquired Resistance) ỜỜỜỜ moảt hỏôùng ựi môùi trong phoụng trò

beảnh chaùy laù luùa ? beảnh chaùy laù luùa ?

Nguyễn Phú Dũng

I MỞ đẦU

Bệnh cháy lá lúa (Pyricularia oryzae) là một trong

những bệnh hại phổ biến và nguy hiểm gây thiệt hại

năng suất cho lúa ở đồng Bằng Sông Cửu Long

(đBSCL) (Phạm Minh Sang và ctv.1996) Theo số liệu

của Cục Bảo Vệ Thực Vật phắa Nam cho biết vào năm

1990, miền Bắc bị nhiễm cháy lá 632.000 ha, còn ở

miền Nam thì hầu như tỉnh nào cũng có bệnh xuất hiện

và gây thiệt hại, nặng nhất là tỉnh Long An với 33.000

ha, An giang với 88.981 ha trong ựó vụ đông Xuân 2001

là 76.765 ha (Chi cục bảo vệ thực vật An Giang 2001)

Bệnh gây hại nặng ở vụ đông Xuân và nhẹ hơn ở vụ

Hè Thu, nhưng lúc nào bệnh cũng xuất hiện do trong vài

thập niên gần ựây nông dân sử dụng giống lúa cao sản,

thâm canh tăng vụ nên cây lúa hiện diện quanh năm tạo

ựiều kiện cho bệnh lưu tồn và phát triển như huyện

Chợ Mới, An Giang với 3 vụ/năm

để phòng trị bệnh này, cho ựến nay biện pháp hoá

học vẫn là phổ biến Tuy nhiên, biện pháp này vẫn còn

hạn chế nhiều, một mặt do ựặc ựiểm phát triển của

nấm bệnh, mặt khác nông dân sử dụng thuốc hoá học

khi mầm bệnh vượt quá mức phòng trị, ô nhiễm môi

trường sốngẦ Biện pháp sử dụng giống có tắnh kháng

trên diện tắch rộng sẽ gây áp lực chọn lọc của sâu bệnh,

ựiều này dễ phát sinh ra nòi sinh học mới phá vỡ tắnh

kháng của cây trồng (Kiyosawa S, 1989; Way và Heong,

1994; Noda và ctv, 1998), thực tế thì ựã phát hiện nhiều

nòi gây bệnh cháy lá lúa ở đBSCL (Dư et al, 1998; định

et al, 1999) Việc sử dụng chất kắch kháng lưu dẫn

(System Acquired Resistance, SAR), giúp cây có phản

ứng tự bảo vệ khi ựược chủng trước vi sinh vật và sau

ựó lây nhiễm với cùng hoặc khác chủng vi sinh vật gây

bệnh ựã ựược nghiên cứu nhiều và cho kết quả khả

quan (Sticher et al, 1997) SAR ở cây trồng ựược kắch

thắch bởi các yếu tố ngoại sinh ựã ựược nhiều nhà khoa

học chứng minh, ựặc biệt ở lúa thì các yếu tố vô hay hữu sinh ựược sử dụng ựể kắch kháng SAR chống lại bệnh cháy lá như các hoá chất tổng hợp ựược sử dụng

ựể kắch kháng gồm Salicyclic Acid (SA), Acetyl Salicylic Acid (ASA), Di-Potassium Phosphate (K2HP04), CuCl2, Sodium Salicylate Ầ cũng ựược ghi nhận (Manandhar et

al 1998, Kloepper et al 1992) Theo các nghiên cứu trong nhà lưới của Lê Thanh Phong, Trịnh Ngọc Thuý, Diệp đông Tùng và Phạm Văn Kim (1999) cũng cho thấy các hoá chất K2HP04, Na2Si03, Acid Benzoid, CuCl2 Ầ có hiệu quả kắch kháng bệnh cháy lá lúa Vì vậy việc tìm ra biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả phòng trừ bệnh cũng như bảo vệ môi trường là ựiều cần thiết, trong ựó kắch kháng có thể ựược xem như là biện pháp có triển vọng

II Nội Dung 2.1 định nghĩa SAR là kắch thắch tắnh kháng bệnh lưu dẫn (ở thực vật), thường ựược gọi là Ộkắch khángỢ

Vậy kắch kháng là gì? Nghĩa là khi chúng ta dùng một tác nhân (vi sinh vật hay hoá chất không phải là thuốc bảo vệ thực vật) tác ựộng lên lá, chồi non hoặc lên hạt, giúp cho cây có khả năng kháng với một bệnh mà chúng

ta xem xét Tuy nhiên cây ựược kắch kháng trở nên kháng bệnh chỉ ở một mức ựộ nào ựó

2.2 Cơ chế

Ở một số giống cây trồng có mang tắnh kháng bệnh, khi bị mầm bệnh tấn công, cây sẽ có phản ứng ựể chống lại sự xâm nhiễm của mầm bệnh, nhờ ựó cây thoát khoải bệnh hoặc chỉ bệnh nhẹ

Cơ nguyên kháng bệnh này do nhiều cơ chế khác nhau, trong ựó có thể do cây tiết ra các chất chống lại

sự xâm nhiễm của mầm bệnh hoặc do phản ứng tự chết của mô cây, do ựó cây không bị mầm bệnh gây hại (Phạm Văn Kim, 2000)

Ở cây trồng có các gen ựiều khiển tế bào tiết ra các chất giúp mô cây kháng lại với một bệnh nào ựó Trong ựiều kiện bình thường, các gen này bị một gen ức chế bên cạnh ức chế Do bị ức chế nên các gen này không hoạt ựộng ựược Ta gọi ựó là các gen kháng bệnh ẩn Khi ta sử dụng các tác nhân gây kắch kháng lên lá cây, kắch thắch các thụ thể có ở bề mặt lá Các thụ thể này tạo ra tắn hiệu và truyền ựến nhân tế bào và tác ựộng vào các gen ựiều tiết Gen ựiều tiết bị tác ựộng nên không hoạt ựộng và không còn gen ức chế các gen kháng bệnh ẩn, nhờ ựó tế bào cây có thể tiết ra các chất kháng bệnh

Trang 2

Thoâng tin khoa hoỉc Số 15 12

2.3 Tác nhân gây kắch kháng

2.3.1 Tác nhân hữu sinh

Vi khuẩn và nấm là hai tác nhân thường ựược dùng

trong nghiên cứu gây sự kắch kháng chống lại bệnh trên

cây trồng Các vi sinh vật này không có tác ựộng ựối

kháng với mầm bệnh thì mới ựược xem là tác nhân gây

kắch kháng

2.3.2 Tác nhân vô sinh

Sử dụng các hoá chất không phải là thuốc bảo vệ

thực vật làm tác nhân gây kắch kháng Các hoá chất này

không có tác ựộng trực tiếp lên mầm bệnh, mà chỉ gây

kắch thắch tắnh kháng bệnh của cây

2.4 Các kết quả ứng dụng kắch kháng trong và

ngoài nước

2.4.1 Kết quả nghiên cứu trên thế giới

đã có nhiều công trình nghiên cứu khoa học về việc

sử dụng hoá chất ựể kắch thắch tắnh kháng ở cây trồng

ựể chống lại sự xâm

nhiễm của nấm hoặc vi

khuẩn như:

* Yamada và ctv (1990),

ựã sử dụng Methanol trắch

từ hạt lúa mì và lúa mạch

mạnh

* Phun Silincon dạng

bột mịn (Si02) cho thấy

kắch kháng SAR do gia

tăng hoạt ựộng của phân

hoá tố ựối với Chitin

(Schneider and Ulrich, 1994)

* Salicyclic acid (SA) trong cây lúa và cây thuốc lá

ựược tổng hợp từ Cinnamic acid qua Benzoic acid Khi

tiêm chủng vi khuẩn không gây bệnh Pseudomonas

syrinae D20 hoặc chủng nấm gây bệnh Magnaporthe

grisea trong cây thì thấy có tương quan ựến tắnh kháng

bệnh (Silverman và ctv, 1995)

* SA cũng kắch thắch tắnh kháng bệnh trên dưa leo

chống lại nấm Colletotrichum và trên lúa mạch chống lại

bệnh phấn trắng (Erysiphe graminis f sp hordei) theo

Manandhar (1998) Cũng theo tác giả này thì K2HP04 gây

ra tắnh kháng bệnh trên cây dưa leo, nho và bắp

* Xử lý Nickel nitrate trên callus ở cây lúa có tác dụng

là tăng hoạt ựộng của Phenylalanine amonialyase và

Peroxidase, sẽ kắch kháng ựối với bệnh cháy bìa lá lúa

do Xanthomonas campestris pv oryzae (Rajoppan và ctv,

1995)

* Theo Asai và Nakai (1998), thì việc xử lý hạt và

phun trên lá lúa bằng chất Ethyleneimine và

Ethylmethanosulfonate sẽ kắch thắch tắnh kháng chống lại

bệnh cháy bìa lá lúa do Xanthomonas campestris pv

oryzae

Riêng về bệnh cháy lá lúa do nấm Pyricularia oryzae,

thì cũng có rất nhiều công trình nghiên cứu khoa học

theo hướng sử dụng hoá chất ựể kắch thắch tắnh kháng nhằm chống lại bệnh này như:

* Song và ctv (1994), cho rằng sử dụng hai acid béo 11(s), 12(s), 13(s)- trihydroxy-(9z,15z)-octadecadienoic

octadecadienoic acid, phun qua lá trước hay sau khi nhiễm bệnh giúp tăng tắnh kháng bệnh của lúa ựối với bệnh cháy lá lúa và giúp giảm bệnh hơn 50%

* Phun SA 0,01mM lên lá mạ, thì SA kắch thắch làm cho hai chất Phenylalanine amonialyase (PAL) và Peroxidase (POD) hoạt ựộng trong cây tăng lên, khi ựó hàm lượng lignin cũng tăng lên và tắch luỹ ựộc tố Monilactone, là một chất kháng sinh thực vật giúp kìm hãm sự nẩy mầm của bào tử nấm Magnaporthe grisea theo Cai và ctv (1996)

* Theo Manandhar (1998), xử lý cây lúa với chất Ferric chioride, K2HP04, Probenazole và SA thì các chất này có khả năng làm cho cây lúa tiết ra chất kháng sinh

thực vật gây kắch kháng chống lại nấm Magnaporthe grisea

* Xử lý cây lúa chất PAL

Cinnamyl-alcoho-dehydrogenase, thấy cây lúa

có tắnh kháng với nấm Magnaporthe grisea theo Thieron và ctv (1995)

* Manandhar và ctv (1998), nói rằng Yoshida (1992) ựã sử dụng chất 2,6-dichloro-iso-niconitinamid là tác nhân làm tăng hoạt ựộng của Jasmonic acid trong cây lúa nhằm kìm hãm sự phát triển của bệnh cháy lá lúa và cho rằng chất này là chất

có khả năng kắch kháng chống lại bệnh do nấm Magnaporthe grisea

* SA, Acetyl Salicylic Acid (ASA), Di-Potassium Phosphate (K2HP04), CuCl2, Sodium Salicylate Ầ cũng ựược ghi nhận có khả năng kắch kháng bệnh cháy lá lúa (Manandhar et al 1998, Kloepper et al 1992)

2.4.2 Kết quả nghiên cứu trong nước Cho ựến nay cũng ựã có nhiều công trình nghiên cứu

về bệnh cháy lá lúa ựược thực hiện trong nước, ựặc biệt ở đại Học Cần Thơ và Viện Lúa Ô Môn như:

* Sử dụng hoá chất như Ethrel 800ppm, Saccharine 0,05mM, Bion 200ppm, Natrium silicate 4mM và CuCl2

0,05mM cho hiệu quả kắch kháng bệnh cháy lá lúa kéo dài ựến 18 ngày sau khi phun trên lá lúa Ngoài ra, các hoá chất Chitosan glucosamine, Napthalene acetic acid 30ppm, KH2P04 5mM, Aspirin (Acetylsalicylic acid) 0,4mM,

SA 0,4mM, Ascorbic acid 1mM và Benzoic acid cũng gây kắch kháng bệnh nhưng không kéo dài ựược lâu (Lê Thanh Phong, Trịnh Ngọc Thuý, Diệp đông Tùng, Võ Bình Minh và Phạm Văn Kim, 1999)

Trang 3

Thoâng tin khoa hoỉc Số 15 13

* SA, ASA, K2HP04 và Chitosan ựược xử lý 1 và 2

giờ trước khi chủng bệnh với P.oryzae trên 2 giống OM

269 và OM 1723, cho thấy có ảnh hưởng ựến tắnh kháng

lưu dẫn (Phạm Văn Dư và ctv, 2000)

* Hạt lúa ựược xử lý với Na2B407 thì có khả năng làm

giảm diện tắch bệnh trên lá từ 19-27% trong thắ nghiệm

nhà lưới và 7% bệnh trên bông ở thắ nghiệm ựồng ruộng

(Phạm Văn Dư và ctv, 2001)

* Tắnh kháng bệnh ựạo ôn ở cây lúa ựược ghi nhận

khi xử lý hạt với K2HP04 20-23mM thì không gây hại ựến

tỷ lệ nẩy mầm, chiều dài rễ và phát triển chồi và K2HP04

15mM phun trên lá ở giống lúa CMK 39(Khao Dawk Mali)

vào các ngày 10, 35 và 65 ngày sau khi sạ thì có thể làm

tăng tắnh kháng qua việc giảm số vết bệnh ựang phát

triển, tổng vết bệnh trên lá và tỷ lệ ựạo ôn cổ bông

(Phạm Văn Dư và ctv, 2000)

* Sử dụng Acibenzolar-S-methyl kắch kháng bệnh

cháy lá lúa khi xử lý hạt, thì có thể kéo dài tắnh kháng

ựến 30 ngày sau khi sạ (Diệp đông Tùng, 2000)

* Xử lý hạt lúa bằng cách ngâm với CuCl2 0,05mM,

cây lúa thì có khả năng kắch kháng bệnh cháy lá lúa từ

9-24 ngày sau khi sạ và khi phun trên lá vào 20 ngày sau

khi sạ thì làm giảm ựến nhỏ hơn 50% tỉ lệ bệnh trên lá

lúa và có thể kéo dài ựến 43 ngày sau khi sạ (Trịnh Ngọc

Thuý, 1999)

2.4.3 Các thử nghiệm trên ựồng ruộng

Sử dụng K2HP04 ựể k ắch kháng và cho kết quả giảm

ựược bệnh trên lá ựến 54% và giảm thối cổ gié 60%

K2HP04 15mM và phun vào 10, 35 và 65 ngày sau khi sạ

ựối với giống lúa CMK 39 Ngoài ra xử lý hạt lúa với

CuCl2 0.05mM trong 24 giờ trước khi ủ giúp cây lúa nẩy

mầm sớm và mạnh hơn, cây mạ mọc mạnh và giúp

giảm bệnh cháy lá ựến 60%, ở giai ựoạn 30 ngày tuổi và

kéo dài hiệu lực ựến hơn 30 ngày

Mặt khác thắ nghiệm Natritetraborac 0.2 - 0.35mM xử

lý hạt trước ngâm ủ và phun với nồng ựộ 0.05 Ờ

0.35mM sẽ giúp giảm bệnh và tăng năng suất từ 10 ựến

12% trong thắ nghiệm ở trại thực nghiệm của Viện

Nghiên Cứu Lúa đBSCL Một số hoá chất khác cũng có

hiệu quả kắch kháng lưu dẫn như: benzoic acid,

saccharin, Oxalic acidẦ

Hiện nay, việc triển khai ứng dụng kết quả nghiên

cứu kắch kháng ựã ựược thực hiện ở một vài ựịa

phương nhằm ựánh giá hiệu quả kắch kháng ựắch thực

trên ựồng ruộng ở diện rộng như Nông Trường cờ đỏ,

Thốt Nốt, xã An Bình (Cần Thơ), Thạnh Trị (Sóc Trăng),

Bạc Liêu, Cai Lậy (Tiền Giang)Ầ Qua ựó từng bước

hoàn thiện dần kỹ thuật và khả năng ứng dụng ựể xem

Ộkắch khángỢ như là biện pháp phòng trị sinh học ựối với

bệnh cháy lá lúa

III KẾT LUẬN

Với nhiều công trình nghiên cứu hiệu quả kắch kháng

cho thấy ựây là biện pháp có triển vọng giúp giảm bớt

một lần phun thuốc ựặc trị bệnh cháy lá lúa trong giai

ựoạn ựầu của cây lúa Xử lý hạt với chất kắch kháng

vừa rẻ tiển, ắt tốn công nhưng có tác dụng kắch thắch hạt

lúa nẩy mầm, cây mạ mọc khoẻ và mạnh hơn Ngoài ra,

chất kắch kháng không là thuốc bảo vệ thực vật và

ựược sử dụng với nồng ựộ loãng nên không gây ô

nhiễm cho môi trường Có thể nói Ộkắch khángỢ là một

hướng ựi mới trong phòng trị sinh học ựối với bệnh cháy

lá lúa ở nước ta 

Ngày đăng: 02/04/2014, 18:20

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm