1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Báo cáo " Mô phỏng lan truyền dầu trong sự cố tràn dầu trên vịnh Bắc Bộ bằng mô hình số trị " pot

12 814 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Mô phỏng lan truyền dầu trong sự cố tràn dầu trên vịnh Bắc Bộ bằng mô hình số trị
Tác giả Nguyễn Quốc Trinh, Nguyễn Minh Huấn, Phùng Đăng Hiếu, Dư Văn Toán
Trường học Đại học Quốc gia Hà Nội
Chuyên ngành Khoa học Tự nhiên và Công nghệ
Thể loại bài báo
Năm xuất bản 2013
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 12
Dung lượng 1,67 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Một mô hình tràn dầu được chúng tôi nghiên cứu và phát triển, trong mô hình này, dầu được phân chia làm hai lớp: lớp dầu trên mặt và lớp dầu dưới mặt.. Loại thứ nhất là mô phỏng hai chiề

Trang 1

168

Mô phỏng lan truyền dầu trong sự cố tràn dầu

trên vịnh Bắc Bộ bằng mô hình số trị Nguyễn Quốc Trinh1, Nguyễn Minh Huấn2,

*, Phùng Đăng Hiếu3, Dư Văn Toán3 1

Trung tâm Dự báo Khí tượng Thủy văn Trung ương, 4 Đặng Thái Thân, Hà Nội, Việt Nam

2Khoa Khí tượng Thủy văn và Hải dương học, Trường Đại học Khoa học Tự nhiên, ĐHQGHN,

334 Nguyễn Trãi, Hà Nội, Việt Nam

3

Viện Nghiên cứu Quản lý Biển và Hải đảo, 125 Trung Kính, Hà Nội, Việt Nam

Nhận ngày 01 tháng 4 năm 2013 Chấp nhận xuất bản ngày 29 tháng 4 năm 2013

Tóm tắt Tràn dầu là một trong những sự cố gây tác động môi trường nghiêm trọng nhất, dầu tràn

có thể gây ô nhiễm tại những khu vực rộng lớn, gây thiệt hại cả về kinh tế và môi trường Vì vậy, vấn đề nghiên cứu tính toán mô phỏng quá trình lan truyền dầu sau khi xảy ra các sự cố tràn dầu trên biển để đề ra các phương án ứng cứu thích hợp là rất cần thiết Một mô hình tràn dầu được chúng tôi nghiên cứu và phát triển, trong mô hình này, dầu được phân chia làm hai lớp: lớp dầu trên mặt và lớp dầu dưới mặt Quá trình trao đổi dầu giữa lớp mặt và lớp dưới mặt cũng như quá trình trao đổi dầu giữa lớp dưới mặt và đáy biển được mô phỏng chi tiết Mô hình tràn dầu đã được

áp dụng thử nghiệm để mô phỏng một số kịch bản lan truyền dầu trên vịnh Bắc Bộ

Từ khóa: tràn dầu, mô hình tràn dầu hai lớp, vịnh Bắc Bộ

1 Mở đầu

Tràn dầu luôn là một trong những sự cố gây

tác động môi trường nghiêm trọng nhất, dầu

tràn có thể gây ô nhiễm tại những khu vực rộng

lớn, gây thiệt hại cả về kinh tế và môi trường

Vì vậy, vấn đề nghiên cứu tính toán mô phỏng

quá trình lan truyền dầu sau khi xảy ra các sự

cố tràn dầu trên biển để đề ra các phương án

ứng cứu thích hợp là rất cần thiết

Lớp các bài toán mô phỏng quá trình tràn

dầu trên biển hiện nay có thể phân biệt làm hai

_

 Tác giả liên hệ ĐT: 84-913571080

E-mail: nmhuan61@gmail.com

loại Loại thứ nhất là mô phỏng hai chiều theo phương ngang với ưu điểm là thời gian tính toán ngắn và không yêu cầu năng lực tính toán lớn, tuy nhiên, mô hình dạng này không tính toán được quá trình nhũ tương hoá dầu với độ chính xác cao, quá trình hoà tan dầu vào trong nước và quá trình nổi của dầu đã hoà tan lên mặt nước, tức là quá trình trao đổi dầu giữa các lớp nước mặt và các lớp nước dưới mặt Loại thứ hai là mô phỏng ba chiều có thể mô phỏng tất cả các quá trình lan truyền dầu, đặc biệt là quá trình hoà tan, lắng đọng và trao đổi dầu giữa các lớp nước, các mô hình loại này yêu cầu cần phải có phân bố vận tốc dòng chảy 3

Trang 2

chiều do đó yêu cầu kỹ thuật lập trình phức tạp,

bộ nhớ máy tính lớn và thời gian tính toán dài

Để khắc phục một phần các yếu điểm của

hai loại mô hình nêu trên, chúng tôi nghiên cứu

và phát triển một mô hình mô phỏng quá trình

tràn dầu, trong mô hình này dầu được phân chia

làm hai lớp: lớp dầu trên mặt và lớp dầu dưới

mặt Lớp dầu dưới mặt được xem là có độ dày

10m Quá trình trao đổi dầu giữa lớp mặt và lớp

dưới mặt cũng như quá trình trao đổi dầu giữa

lớp dưới mặt và đáy biển được mô phỏng chi

tiết Ngoài ra, các quá trình khác ảnh hưởng tới

quá trình lan truyền dầu như gió, nhiệt độ và

dòng chảy cũng được tính đến thông qua kết

quả của các hệ thống mô hình khác

Mô hình tràn dầu đã được áp dụng để mô

phỏng một số kịch bản lan truyền dầu trên vịnh

Bắc Bộ do vịnh Bắc Bộ là khu vực có nhiều hệ

thống cảng biển của Việt Nam và Trung Quốc,

tuyến hàng hải chính ở giữa vịnh với các nhánh

rẽ về phía các cảng Bên cạnh đó, thời tiết ở

vịnh bị ảnh hưởng gió mùa mạnh, hiện tượng

sương mù thời kỳ giao mùa lớn và dày đặc làm

giảm tầm nhìn đáng kể, hiện tượng áp thấp

nhiệt đới và bão có tần suất cao [1] Do vậy,

khả năng nguy cơ tai nạn tàu biển và sự cố tràn

dầu là rất lớn Hơn nữa, ở vịnh Bắc Bộ có nhiều

khu vực bảo tồn sinh thái và đa dạng sinh học,

có nhiều khu du lịch, nghỉ mát và các bãi biển

đẹp, môi trường và các hoạt động sẽ bị ảnh

hưởng nếu xảy ra sự cố tràn dầu

2 Cơ sở lý thuyết của mô hình

2.1 Mô hình lan truyền dầu

2.1.1 Các phương trình bình lưu và

khuyếch tán dầu

Sự cố tràn dầu ở các vùng cửa sông và ven

bờ chủ yếu do tai nạn tàu thuyền Thông

thường, sau một khoảng thời gian nhất định, dầu tràn trở thành một lớp mỏng trên bề mặt biển, có độ dày khoảng một vài chục milimét hay nhỏ hơn Quá trình lan truyền và biến đổi của dầu tràn trên mặt nước bao gồm quá trình lan truyền do trọng lực, quá trình bốc hơi của dầu, quá trình pha trộn của dầu vào nước, quá trình phân tán, quá trình nhũ tương hóa và quá trình dầu bám đọng tại bờ và bãi biển

Để phân biệt lớp dầu tràn trên bề mặt và lớp dầu hòa tan trong nước, trong mô hình này dầu tràn được phân chia thành hai lớp, lớp dầu trên mặt và lớp dầu hòa tan Thông thường, lớp dầu hòa tan có nồng độ cao nhất gần mặt và giảm dần theo độ sâu

Với giả thiết là độ dày lớp dầu không đáng

kể so với độ sâu cột nước, phương trình tổng quát cho chuyển động và loang của dầu tràn trên mặt nước được viết dưới dạng phương trình bình lưu - khuyếch tán như sau:

 x , y D S C S C C C v

y

C K y x

C K x

C v y C u x t C

s d s e s s v b

s y s

x

s s s

s s





(1)

ở đây: x, y và t là biến không gian và thời gian; C s là mật độ dầu trên một đơn vị bề mặt

nước; C v là mật độ thể tích dầu dạng lơ lửng

trong lớp nước có dầu hòa tan; u s và v s là thành

phần vận tốc theo trục x và y; K x và K y là hệ số khuếch tán dầu theo các trục x và y;  là hệ số thể hiện xác suất để dầu hòa tan trong nước nổi

lên mặt nước; v b là tốc độ nổi của dầu trong lớp nước lơ lửng;  là hệ số mô tả tốc độ dầu tại bề

mặt được phân tán hoà tan trong cột nước; S d

S e là tốc độ phân huỷ và bốc hơi trên một đơn vị

diện tích của bề mặt dầu loang; D s là tốc độ lắng đọng và tái khuếch tán của dầu tại đường

bờ

Trang 3

Phương trình mô tả quá trình vận chuyển và

biến đổi của dầu lơ lửng trong lớp nước dưới

mặt có thể được viết như sau:

v v b s

v y v

x

v v

v

C C v

C

y

C HK y x

C HK

x

y

HvC x

HuC t

HC





ở đây: Cv là mật độ thể tích dầu trong lớp lơ

lửng ngay dưới mặt nước; u và v là các thành

phần dòng chảy trung bình theo độ sâu tương

ứng theo các trục x và y; βlà hệ số xác định tốc

độ lắng đọng của dầu xuống đáy biển Giá trị độ

sâu nước H được lấy bằng 10m khi độ sâu nước

thực tại vị trí xem xét lớn hơn 10m

2.1.2 Các quá trình vận chuyển dầu, vết

dầu loang và phân huỷ dầu

Ngoài trực tiếp hòa tan vào trong khối

nước, quá trình lan toả dầu dưới dạng vết dầu

loang bao phủ một diện tích lớn của bề mặt

nước và dầu có thể được di chuyển bởi gió,

sóng bề mặt và dòng chảy Các quá trình vật lý

và hoá học khá phức tạp xảy ra khi vết dầu di

chuyển được mô tả chi tiết dưới đây

a Quá trình bình lưu

Bình lưu là quá trình cơ học xảy ra do tổng

hợp các ảnh hưởng của dòng chảy bề mặt và lực

kéo của gió Vận tốc trôi của dầu tại bề mặt

được xem là tổng tác động của vận tốc gió và

dòng chảy trung bình như sau

u s v sw V w c V c

ở đây: V w là vận tốc gió tại độ cao 10m trên

mặt nước; V c là vận tốc dòng chảy trung bình;

w là hệ số trôi của gió, thường được chọn bằng

0,3; c là hệ số trôi của dòng chảy, thường được

chọn bằng 1,1 (Stolzenbach và cs, 1977) [2]

b Khuếch tán ngang

Hệ số khuếch tán rối ngang phụ thuộc vào điều kiện sóng, gió, dòng chảy và độ sâu nước Trong biển, hệ số khuếch tán rối ngang có thể lấy trong khoảng từ 0,15m2/s (gần bờ) tới 0,6m2/s (trong cửa sông hẹp với vận tốc dòng chảy khá đáng kể) (Fischer et al, 1979) [3]

c Sự loang dầu cơ học

Sự loang dầu cơ học là một trong các quá trình quan trọng trong di chuyển ban đầu của dầu loang Sự loang dầu cơ học được xác định

từ cân bằng giữa lực trọng trường, lực nhớt và sức căng mặt ngoài và có thể được chia thành 4 pha (Yapa, 1994) [4] Trong pha ban đầu, lực trọng trường và lực quán tính đóng vai trò chủ đạo Trong pha thứ 2, lực trọng trường và lực nhớt đóng vai trò làm loang dầu Trong pha thứ

3, sức căng mặt ngoài và lực nhớt đóng vai trò chủ đạo Cuối cùng, vết dầu loang đạt tới trạng thái cân bằng Phương trình mô tả chi tiết các pha như sau

Pha thứ nhất: trọng lực và lực quán tính đóng vai trò chủ đạo, bán kính [m] khu vực dầu loang R được tính như sau:

 20 25

14

Pha thứ hai: trọng lực và lực nhớt giữ vai trò chủ đạo

 2 1.5 0.50 167

/ 98

Pha thứ ba: sức căng mặt ngoài và lực nhớt giữ vai trò chủ đạo

 2 3  2 0 25

/ 6

Pha cuối, cân bằng  5 0.75 0 5

14159 3 /

10 V

Trang 4

với  = (ρw – ρo)/ρw là tỷ số mật độ tương đối;

ρw là mật độ của nước; ρo là mật độ của dầu; V

là thể tích dầu tràn, ν là hệ số nhớt động học

của nước; σ là sức căng mặt ngoài

d Sự đọng dầu trên bãi biển và bờ

Khi dầu loang tới bãi biển và bờ, nó sẽ đọng

lại trên bãi Sau khi đã lắng đọng trên bãi, dầu

sẽ được sóng, gió và dòng chảy đưa trở lại biển

Trên cơ sở công thức chu kỳ bán phân rã, thể

tích dầu còn lại trên bãi biển có thể được xác

định theo công thức sau:

V2 =V1 e-k(t2-t1) (8)

trong đó: V1 và V2 là thể tích của dầu trên

bãi biển trong thời gian t1 và t2 (tính bằng

ngày); k = (-ln(1/2))/ là hệ số suy giảm; với 

là chu kỳ bán phân rã Giá trị của hệ số suy

giảm k thay đổi từ 0.001 - 0.01 đối với đầm lầy

tới 0.99 đối với bờ biển đá trong điều kiện sóng

nhẹ

e Quá trình bốc hơi

Quá trình bốc hơi dầu là quá trình làm mất

dầu nhiều nhất Phần thể tích dầu bị bốc hơi

được xác định theo Mackey và cs (1980) [5]

như sau :

(9) 1

ln ln 1





o e o

P t CK P

C

F

với: E = K e t là số hạng lộ bay hơi, phụ thuộc

vào thời gian và các điều kiện môi trường;

o m

e K Av RTV

K  / (10)

K m = 0.0025Vw

0.78là hệ số trao đổi vật chất, m/s; A là diện tích vết dầu m2

; ν là thể tích phân

tử, m3/mol; R = 82.06 x 10-6

là hằng số khí, atm m3/(mol K); T là nhiệt độ tuyệt đối của dầu, có

thể lấy bằng nhiệt độ nước biển; V o là thể tích

dầu tràn ban đầu, m3

;

Áp suất hơi ban đầu P o tính bằng atm tại

nhiệt độ T e được tính như sau

ln Po = 10.6 (1 – To/Te) (11)

trong đó T o là nhiệt độ sôi ban đầu của dầu, tính

bằng độ Kelvin ; Đối với dầu thô

1435 1

9

4 3

2

0002604 0

03439 0

565 1 275

30 6 542

API

API

API

API

.

T o

(13) với API là chỉ số dầu, được tính theo khối lượng riêng của dầu theo công thức

Thể tích phân tử của dầu được tính từ trọng lượng phân tử của dầu, giá trị biến đổi trong khoảng từ 150.10-6

tới 600.10-6, tuỳ thuộc vào thành phần dầu Với dầu đốt, giá trị này nằm trong khoảng 200.10-6

m3/mol

f Các quá trình hòa tan và lắng đọng

Các quá trình hòa tan, bao gồm hòa tan của dầu trong nước do quá trình nhũ tương hóa và quá trình lắng đọng dầu được xác định theo các công thức thực nghiệm (Cohen và cs (1980)) [6]

g Ảnh hưởng của sóng tới quá trình hoà tan dầu

Sóng có ảnh hưởng rất mạnh tới quá trình lan truyền dầu Sóng tạo ra dòng chảy ven, cùng các dòng chảy có nguồn gốc khác vận chuyển dầu dưới dạng bình lưu Sóng vỡ, nhất là sóng bạc đầu ảnh hưởng rất mạnh tới quá trình nhũ tương hoá và hoà tan của dầu trong nước Sóng

vỡ ven bờ chỉ giới hạn trong một khoảng hẹp nên có thể bỏ qua ảnh hưởng của nó tới quá trình lan truyền dầu Việc mô phỏng sóng bạc đầu trên toàn miền tính khá phức tạp nên trong nghiên cứu này tạm thời chưa tính đến ảnh hưởng của sóng vỡ tới quá trình lan truyền dầu

2.2 Mô hình dòng chảy hai chiều

Trang 5

Mô hình mô phỏng dòng chảy hai chiều

được xây dựng dựa trên việc giải hệ phương

trình chuyển động 2 chiều lấy tích phân theo độ

sâu của dòng chảy (phương trình Sain -

Vernant) Trong mô hình này, có tính đến ảnh

hưởng của gió và thủy triều tới dòng chảy

Trong trường hợp này, hệ phương trình vi phân

cho cho dòng chảy như sau:

Phương trình liên tục:

0

t y

q x

Hệ phương trình chuyển động:

trong đó q x , q y tương ứng là lưu lượng dòng

chảy trên 1 đơn vị chiều rộng, tính từ đáy lên

đến mặt và vuông góc với x, y; η - dao động

mặt nước so với mực chuẩn (mực “0”); t - thời

gian; d - độ sâu; g - là gia tốc trọng trường; f –

tham số Coriolis; ν th – hệ số nhớt rối ngang; n -

độ nhám thuỷ lực; Uw , Vw - thành phần vận tốc

gió theo trục x và y; và Cz - hệ số ma sát gió

Theo số liệu thực nghiệm, hệ số ma sát gió

có thay đổi trong khoảng lớn từ 3.104

đến 5.10-3

và là hàm phụ thuộc vào tốc độ gió Garrat

(1977) [7] đã tổng hợp rất nhiều kết quả nghiên

cứu về hệ số ma sát gió trên các đại dương và

cho rằng đối với vận tốc gió nằm trong khoảng

từ 4m/s đến 21 m/s thì C10 có thể được xấp xỉ

bằng hàm mũ như sau:

46 0 3

10 0 51 10 Vw

hoặc theo dạng tuyến tính:

10  abVw  10

trong đó a = 0,75, b = 0,067 và Vw là vận tốc gió tại độ cao 10m so với mặt nước biển Theo các báo cáo của nhiều nhà khoa học khác thì giá trị của a và b nằm trong khoảng 0 < a < 1,18 và 0,016 < b < 0.100 (Krylov và nnk, 1986) [] Wu (1982) [8] cũng chỉ ra rằng công thức (19) với

a = 0,8 và b = 0,065 phù hợp với tất cả các số trong toàn bộ phạm vi vận tốc gió, thậm chí còn

sử dụng được cho cả gió trong bão

Trong thực tế, hệ số ma sát gió không chỉ phụ thuộc vào tốc độ gió mà còn phụ thuộc những điều kiện ổn định khí quyển gần bề mặt,

độ sâu nước v.v Tuy nhiên, trong những điều kiện nghiên cứu ở đây có thể cho rằng những ảnh hưởng này là không đáng kể và do vậy giá trị của hệ số ma sát gió tính theo biểu thức (19) với các hệ số do Wu (1982) [8] đề nghị đã được lựa chọn

Trên thực tế, hệ số nhớt rối ngang ν th có thể

được xác định theo độ sâu nước và vận tốc dòng chảy Tuy nhiên, sẽ bị mất thêm nhiều thời gian tính mà kết quả thay đổi không đáng

kể, nên trong khi thực hiện tính toán chúng tôi

lấy giá trị ν th = 0,1 m2/s Giá trị này nói chung nhỏ hơn giá trị hệ số nhớt rối ngang ở vùng gần

bờ, nhưng thích hợp cho việc sử dụng mô hình tích phân dòng chảy theo độ sâu

2.3 Mô hình khí tượng – HRM

Mô hình dự báo thời tiết HRM được phát triển tại Cục Khí tượng Đức DWD HRM là mô hình dự báo thời tiết khu vực, thủy tĩnh, mô phỏng được những quá trình diễn biến động lực

và vật lý khí quyển nằm trên thang quy mô vừa

α và β Hiện tại trên thế giới có khoảng hai (16)

(17)

Trang 6

mươi nước đang sử dụng mô hình này trong

nghiệp vụ Trong hợp tác khoa học giữa Đức và

Việt Nam, HRM được đưa vào chạy đầu tiên tại

Đại học Quốc gia Hà Nội (Kiều Thị Xin 2002)

và được chuyển giao chạy nghiệp vụ tại Trung

tâm Dự báo Khí tượng Thủy văn Trung ương

NCHMF từ năm 2002

Hệ phương trình HRM sử dụng được viết

trên hệ tọa độ kinh vĩ địa lý theo phương ngang

và hệ tọa độ lai theo phương đứng (λ,φ,η)

Các bộ số liệu gồm những phần sau:

- Bộ dữ liệu địa lý cho bất kì vùng nào trên

thế giới với kích thước có thể từ 30km đến 5km

- Bộ chương trình gme2hrm để nội suy số

liệu dự báo của mô hình toàn cầu GME của

DWD về lưới của HRM

- Bộ chương trình đọc mã GRIB1 các

trường dự báo của HRM và cung cấp giao diện

đồ họa GRADS và VIS5D

Mô hình HRM chạy dự báo cho ra kết quả

của áp suất bề mặt ps, nhiệt độ T, hơi nước qv,

lượng nước mây qc, lượng băng mây qi, các

thành phần gió ngang u,v và một vài thông số

bề mặt đất Ngoài ra mô hình còn cho ra các kết

quả chẩn đoán với các biến tốc độ thẳng đứng

ω, địa thế vị Φ, độ phủ mây clc, độ khuyếch tán

tkvm/h Các biến này có trong hệ phương trình

của mô hình

3 Điều kiện biên và điều kiện ban đầu

Tại các điểm trên biên ngoài khơi, giá trị

mực nước được dựa trên hằng số điều hòa trên

biên của 08 sóng chính O1, K1,M2, S2, P1, Q1,

K2 và N2 Tại các biên trên mặt là trường gió

sản phẩm gió từ mô hình HRM Gradient của

nồng độ dầu được cho bằng 0 tại các biên hở

ngoài khơi Điều kiện biên trượt được áp dụng

cho tất cả biên cứng Điều kiện ban đầu là độ

dày của lớp dầu tại điểm tràn dầu được tính theo số lượng dầu thoát ra khỏi tàu ngay sau khi

có sự cố

4 Sơ đồ sai phân và lời giải số trị

Hệ phương trình được rời rạc hoá bằng một

sơ đồ sai phân hữu hạn tiến theo hướng từ ngoài khơi vào bờ và ẩn theo hướng song song với bờ trên một lưới hình chữ nhật với mực nước, nồng

độ dầu được tính tại trung tâm ô, các véc tơ thành phần của vận tốc dòng chảy được tính tại các biên của ô lưới Với sơ đồ sai phân này, bước thời gian được chọn theo điều kiện ổn định Crank - Frich – Lewy

5 Một số thông tin về đầu vào và kết quả mô phỏng

Phạm vi miền tính của mô hình

Phạm vi vùng tính của mô hình lan truyền dầu bao gồm các vùng nước của vịnh Bắc Bộ giới hạn trong khoảng từ 105,5-110,0 độ kinh Đông và trong khoảng từ 17,0 – 22,0 độ vĩ Bắc Miền tính có kích thước khoảng 500 km theo chiều tây - đông và 560 km theo chiều nam- bắc, với diện tích mặt nước bao phủ toàn

bộ vùng biển vịnh Bắc Bộ được chia thành 271x301 ô lưới, kích thước khoảng 1852m x1852m

Thời gian tính toán

Mô hình thủy động lực khu vực vịnh Bắc

Bộ được thiết lập và tính toán với các kịch bản khác nhau trong các tháng 1 và 2, tháng 4 và 5, tháng 7 và 8, và tháng 10 trong năm 2010 tương ứng với các mùa đặc trưng đông, xuân, hạ và thu

Số liệu đầu vào

Trang 7

Số liệu khí tượng làm đầu vào là kết quả dự

báo của mô hình khi tượng HRM với trường gió

bao phủ toàn bộ vịnh Bắc bộ với thời gian giữa

các trường số liệu là 3 giờ

Số liệu hải văn làm đầu vào là bộ hằng số

điều hòa của 08 sóng chính O1, K1,M2, S2, P1,

Q1, K2 và N2

Số liệu dầu tràn

Vị trí xảy ra sự cố giả định được xác định

cho khu vực với các vị trí nằm trên tuyến hàng

hải quốc tế Hàm lượng dầu tràn ra khi có sự cố

được xác định dựa trên những cơ sở và dữ liệu

đã có bằng 0,7% tải trọng dầu của con tàu Khu

vực này có mật độ tàu hoạt động và neo đậu

khá phức tạp cho nên nhóm tác giả đã lựa chọn

lượng dầu tràn ra trên 10 điểm là 500 tấn với

thời gian tràn liên tục trong 10 giờ

Hình 1 Bản đồ vị trí sự cố tràn dầu giả định trên khu

vực vịnh Bắc Bộ

a1 Trường gió dự báo sau 12 giờ a2 Trường dòng chảy- mực nước dự báo sau 12 giờ a3 Trường dầu dự báo sau 12 giờ Hình 2 Bản đồ các trường gió, dòng chảy mực nước và dầu dự báo từ 0 giờ ngày 01/10/2010

Trang 8

b1 Trường gió dự báo sau 24 giờ b2 Trường dòng chảy - mực nước dự báo sau 24 giờ b3 Trường dầu dự báo sau 24 giờ Hình 3 Bản đồ các trường gió, dòng chảy mực nước và dầu dự báo từ 0 giờ ngày 02/10/2010

c1 Trường gió dự báo sau 72 giờ c2 Trường dòng chảy - mực nước

dự báo sau 72 giờ c3 Trường dầu dự báo sau 72 giờ Hình 4 Bản đồ các trường gió, dòng chảy mực nước và dầu dự báo từ 0 giờ ngày 04/10/2010

c1 Trường gió dự báo sau 72 giờ c2.Trường dòng chảy - mực nước dự báo sau 72 giờ c3 Trường dầu dự báo sau 72 giờ

Hình 5 Bản đồ các trường gió, dòng chảy mực nước và dầu dự báo từ 0 giờ ngày 05/10/2010

Trang 9

b1 Trường gió dự báo sau 24 giờ b2 Trường dòng chảy - mực nước dự báo sau 24 giờ b3 Trường dầu dự báo sau 24 giờ

Hình 6 Bản đồ các trường gió, dòng chảy mực nước và dầu dự báo từ 0 giờ ngày 07/10/2010

b1 Trường gió dự báo sau 24 giờ b2 Trường dòng chảy - mực nước dự báo sau 24 giờ b3 Trường dầu dự báo sau 24 giờ

Hình 7 Bản đồ các trường gió, dòng chảy mực nước và dầu dự báo từ 0 giờ ngày 08/10/2010

c1 Trường gió dự báo sau 72 giờ c2 Trường dòng chảy - mực nước

dự báo sau 72 giờ c3 Trường dầu dự báo sau 72 giờ Hình 8 Bản đồ các trường gió, dòng chảy mực nước và dầu dự báo từ 0 giờ ngày 10/10/2010

Trang 10

a Tháng 1 b Tháng 2

Hình 9 Các bản đồ về lượng dầu tràn cực đại đồng thời tại tất các kịch bản theo từng tháng

Ngày đăng: 02/04/2014, 18:20

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1. Bản đồ vị trí sự cố tràn dầu giả định trên khu - Báo cáo " Mô phỏng lan truyền dầu trong sự cố tràn dầu trên vịnh Bắc Bộ bằng mô hình số trị " pot
Hình 1. Bản đồ vị trí sự cố tràn dầu giả định trên khu (Trang 7)
Hình 9. Các bản đồ về lượng dầu tràn cực đại đồng thời tại tất các kịch bản theo từng tháng - Báo cáo " Mô phỏng lan truyền dầu trong sự cố tràn dầu trên vịnh Bắc Bộ bằng mô hình số trị " pot
Hình 9. Các bản đồ về lượng dầu tràn cực đại đồng thời tại tất các kịch bản theo từng tháng (Trang 10)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm