1 ĐẠI HỌC HUẾ TRUNG TÂM ĐÀO TẠO TỪ XA LÊ PHƯƠNG NGA GIÁO TRÌNH BỒI DƯỠNG HỌC SINH GIỎI TIẾNG VIỆT Ở TIỂU HỌC NHÀ XUẤT BẢN ĐẠI HỌC HUẾ Huế 2012 2 MỤC LỤC Chương I KHÁI QUÁT VỀ BỒI DƯỠNG HỌC SINH GIỎI T[.]
Trang 1ĐẠI HỌC HUẾ TRUNG TÂM ĐÀO TẠO TỪ XA
LÊ PHƯƠNG NGA
Trang 22
MỤC LỤC
Chương I: KHÁI QUÁT VỀ BỒI DƯỠNG HỌC SINH GIỎI TIẾNG VIỆT Ở TIỂU HỌC 3
1 Ý NGHĨA SỰ CẦN THIẾT CỦA VIỆC BỒI DƯỠNG HỌC SINH GIỎI MÔN TIẾNG VIỆT 3
2 NHỮNG ĐỊNH HƯỚNG CỦA VIỆC BỒI DƯỠNG HỌC SINH GIỎI TIẾNG VIỆT 4
3 NHIỆM VỤ CỦA VIỆC BỒI BƯỠNG HỌC SINH GIỎI TIẾNG VIỆT 8
HƯỚNG DẪN HỌC 9
Chương II: BỒI DƯỠNG HỨNG THÚ HỌC TẬP VÀ VỐN SỐNG CHO HỌC SINH GIỎI TIẾNG VIỆT 11
1 PHÁT HIỆN NHỮNG HỌC SINH CÓ HỨNG THÚ HỌC TẬP VÀ NĂNG KHIẾU TIẾNG VIỆT 11
2 BỒI DƯỠNG HỨNG THÚ HỌC TẬP TIẾNG VIỆT CHO HỌC SINH 13
3 BỒI DƯỠNG VỐN SỐNG CHO HỌC SINH 16
Chương III: BỒI DƯỠNG KIẾN THỨC, KĨ NĂNG TIẾNG VIỆT CHO HỌC SINH GIỎI 22
1 CÁC TRI THỨC - KĨ NĂNG TIẾNG VIỆT 22
2 TIẾP NHẬN NGÔN BẢN - RÈN KĨ NĂNG ĐỌC HIỂU, CẢM THỤ VĂN HỌC 51
THAM KHẢO 82
1 MỘT SỐ BÀI TẬP TIẾNG VIỆT NÂNG CAO 82
2 MỘT SỐ BÀI TẬP LUYỆN TỪ & CÂU NÂNG CAO VÀ GỢI Ý HƯỚNG DẪN GIẢI BÀI TẬP 89
TÀI LIỆU THAM KHẢO 93
Trang 31.1 Theo “Chiến lược con người” mà Đảng đã vạch ra đường hướng rất đúng đắn là: “Nâng cao dân trí,
đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài”, nhà trường của chúng ta hướng đến phát triển tối đa những năng
lực còn tiềm ẩn trong mỗi Học sinh (HS) Ở nhiều trường tiểu học, đồng thời với nhiệm vụ phổ cập giáo dục tiểu học, việc chăm lo phát hiện và bồi dưỡng học sinh giỏi góp phần đào tạo nhân tài cho đất nước
được xem là một nhiệm vụ cần thiết và quan trọng
Các kết quả nghiên cứu cho thấy số HS được xem là phát triển (có năng lực nhận thức, tư duy, vốn sống nổi trội hơn các em khác) chiếm từ 5 - 10% trong tổng số HS đến trường Đồng thời, những con số thống kê cũng cho thấy, các tài năng phát triển từ rất sớm, hơn 1/3 những người được xem là có tài năng đã là những thần đồng khi chưa đầy 10 tuổi Vì vậy, trên thế giới, người ta luôn quan tâm đến việc phát hiện và bồi dưỡng nhân tài ngay từ những năm tháng đứa trẻ còn nhỏ tuổi
Ở nước ta, từ nhiều năm nay, vấn đề này cũng đã được quan tâm Bên cạnh bộ sách giáo
khoa ở tiểu học, chúng ta còn có các bộ sách nâng cao, sách bồi dưỡng HS giỏi và trước đây đồng thời với kì thi tốt nghiệp tiểu học còn có những kì thi HS giỏi từ cấp cơ sở đến cấp quốc gia Các
Sở GD - ĐT đều có các hình thức bồi dưỡng học sinh giỏi nói chung, bồi dưỡng học sinh giỏi môn Tiếng Việt nói riêng Hiện nay, ở các địa phương,hầu hết các trường Tiểu học, các quận, huyện vẫn duy trì thi học sinh giỏi Tiếng Việt dưới nhiều hình thức khác nhau và có những tỉnh, thành phố vẫn duy trì thi học sinh giỏi cấp tỉnh, thành phố Các kì thi liên tỉnh cũng đang được khuyến khích tổ chức Gần đây có thêm cả những hình thức thi mới tạo một sân chơi cho HS có năng lực, đó là các hội thi - giao lưu diễn ra trong các trường, quận, huyện, tỉnh, thành phố, giữa các thành phố, các tỉnh như cuộc thi trong chương trình “Em yêu Tiếng Việt”, "Tuổi thơ khám phá", “Thần đồng đất Việt”
1.2 Bồi dưỡng HS giỏi tiếng Việt là nhiệm vụ nhằm bảo đảm sự công bằng trong giáo dục, thực
hiện tư tưởng chiến lược của giáo dục "Thực hiện công bằng xã hội trong giáo dục - đào tạo Tạo
điều kiện để ai cũng được học hành Người nghèo và những người thuộc các diện chính sách được
Nhà nước và cộng đồng giúp đỡ để học tập Bảo đảm điều kiện để những người học giỏi phát triển tài năng."
1.3 Bồi dưỡng HS giỏi là một hướng dạy học tự chọn ở tiểu học nhằm thực hiện giáo dục phổ
thông theo định hướng phân hóa, phát huy cá tính và sáng tạo của học sinh
Hiện nay, Bộ Giáo dục và Đào tạo không có chủ trương thi học sinh giỏi toàn quốc ở tiểu học nhưng việc phát hiện và bồi dưỡng học sinh giỏi trong các môn học ở tiểu học vẫn rất quan trọng, nhằm thực hiện chủ trương dạy - học phân hoá từ cấp tiểu học Việc làm này còn góp phần khắc phục một trong những hạn chế trong giáo dục hiện nay là dạy học sinh theo một khuôn, một mẫu nhất định, thủ tiêu tính tích cực và cá tính sáng tạo của học sinh
Chúng ta đang tiến hành đổi mới toàn diện nền giáo dục nói chung và giáo dục phổ thông nói riêng Một trong số các mục tiêu đổi mới là giáo dục - đào tạo lớp người ngày càng đáp ứng được tốt hơn yêu cầu về dân trí, nhân lực và nhân tài của xã hội, đáp ứng nhu cầu phát triển cá nhân và
Trang 44
hứng thú của người học Để đạt được những mục tiêu nêu trên, giáo dục phổ thông cần phải đề xuất những định hướng mới về chương trình, phương pháp dạy học (PPDH), học liệu, cơ chế đảm bảo chất lượng dạy học ; mặt khác, cần phải đề xuất chiến lược dạy học đáp ứng với nhu cầu rất đa dạng của người học nhằm phát triển từng cá thể HS
Tiếng Việt là một môn học có vị trí quan trọng trong chương trình tiểu học Đây là môn học vừa có vai trò trang bị cho HS công cụ ngôn ngữ, vừa là môn học thuộc Khoa học Xã hội và Nhân văn có nhiệm vụ trang bị cho HS những kiến thức khoa học về tiếng Việt, những kĩ năng sử dụng tiếng Việt để HS tự hoàn thiện nhân cách của mình ở phương diện ngôn ngữ và văn hóa Với nhiệm
vụ của môn học công cụ, HS cần học tốt môn học này để có cơ sở học tốt những môn học khác Mặt khác, với nhiệm vụ của một môn khoa học, HS theo nguyện vọng và khả năng riêng, có thể chọn để học sâu nhằm học giỏi môn học này Do đó cần bồi dưỡng HS giỏi tiếng Việt nhằm hiện thực hóa chiến lược giáo dục phổ thông theo định hướng phân hóa
1.4 Đồng thời với việc thực hiện nhiệm vụ phát hiện và bồi dưỡng nhân tài cho đất nước, việc bồi
dưỡng học sinh giỏi tiếng Việt còn có tác dụng thúc đẩy phong trào thi đua học tốt, dạy tốt Việc bồi dưỡng học sinh giỏi có tác dụng tích cực trở lại đối với giáo viên Để có thể bồi dưỡng học sinh, người giáo viên luôn phải học hỏi, tự bồi dưỡng kiến thức để nâng cao trình độ chuyên môn và năng lực sư phạm cũng như phải nâng cao lòng yêu nghề, tinh thần tận tâm với công việc
Nhìn chung, nhiều năm nay, chúng ta đã chú ý bồi dưỡng học sinh giỏi nhưng chưa tạo cho công việc này những điều kiện đầy đủ Trên thực tế, việc giải quyết mối quan hệ giữa giáo dục toàn diện và bồi dưỡng học sinh giỏi còn nhiều lúng túng Đặc biệt việc bồi dưỡng học sinh giỏi môn Tiếng Việt càng gặp nhiều khó khăn hơn bởi nhiều lí do Khá nhiều HS không yêu thích môn học tiếng Việt Kiến thức tiếng Việt và khả năng tư duy nghệ thuật của nhiều giáo viên còn hạn chế Số giáo viên có kinh nghiệm bồi dưỡng HS giỏi tiếng Việt còn ít Thêm nữa, do đặc trưng môn học nên kết quả học tập môn tiếng Việt, đặc biệt phần cảm thụ văn học và viết văn bản nghệ thuật phụ thuộc rất nhiều vào năng khiếu của cá nhân học sinh Các em lại cần có quá trình bồi dưỡng, tích luỹ lâu dài nên nhiều giáo viên cho rằng việc bồi dưỡng học sinh giỏi môn tiếng Việt “không chắc ăn” và không có hiệu quả như bồi dưỡng HS giỏi môn Toán Do đó, nói chung, giáo viên không có hứng thú bồi dưỡng HS giỏi tiếng Việt Ở những nơi có tổ chức bồi dưỡng thì nhiều khi lại tiến hành không có kế hoạch, không có nội dung và phương pháp cụ thể Chuyên đề này đặt ra cho chúng ta nhiệm vụ đáp ứng những đòi hỏi trên
2 NHỮNG ĐỊNH HƯỚNG CỦA VIỆC BỒI DƯỠNG HỌC SINH GIỎI TIẾNG VIỆT
Việc xây dựng các nội dung và phương pháp bồi dưỡng học sinh giỏi môn tiếng Việt phải tuân thủ các nguyên tắc xây dựng chương trình và tài liệu dạy học (SGK) Tiếng Việt ở tiểu học như nguyên tắc giao tiếp, nguyên tắc tích hợp, nguyên tắc tích cực hóa hoạt động học tập của học sinh… Trong quá trình bồi dưỡng HS giỏi tiếng Việt, những nguyên tắc này sẽ được cụ thể hóa, nhấn mạnh thêm Để công việc có hiệu quả, cần xác định những định hướng tạm gọi là các nguyên tắc sau:
2.1 Nguyên tắc bám sát mục tiêu, chương trình Tiếng Việt ở tiểu học
Chương trình tiểu học mới (ban hành theo Quyết định ngày 9/11/2001 của Bộ Giáo dục và Đào tạo) xác định mục tiêu như sau:
“Môn tiếng Việt ở trường Tiểu học nhằm:
1) Hình thành và phát triển ở học sinh các kĩ năng sử dụng tiếng Việt (nghe, nói, đọc, viết) để học tập và giao tiếp trong các môi trường hoạt động của lứa tuổi
Trang 5Thông qua việc dạy và học tiếng Việt, góp phần rèn luyện các thao tác tư duy
2) Cung cấp cho học sinh những kiến thức sơ giản về tiếng Việt và những hiểu biết sơ giản về
xã hội, tự nhiên và con người, văn hóa, văn học của Việt Nam và nước ngoài
3) Bồi dưỡng tình yêu tiếng Việt và hình thành thói quen giữ gìn sự trong sáng, giàu đẹp của tiếng Việt, góp phần hình thành nhân cách con người Việt Nam xã hội chủ nghĩa”
Mục tiêu quan trọng nhất của môn học tiếng Việt là trang bị cho HS một công cụ giao tiếp bằng tiếng Việt Nguyên tắc này nhấn mạnh tính lợi ích của chương trình đào tạo, đòi hỏi việc bồi dưỡng HS giỏi phải rất thiết thực nhằm phát triển kĩ năng giao tiếp cho HS
Mục tiêu giao tiếp là cơ sở để đề xuất quan điểm giao tiếp trong dạy học tiếng Việt Quan
điểm giao tiếp được thể hiện ở cả hai cấp độ: nguyên tắc dạy học và phương pháp dạy học Ở cấp
độ nguyên tắc dạy học, nguyên tắc giao tiếp (còn gọi là nguyên tắc phát triển lời nói, nguyên tắc thực
hành) quy định nội dung dạy học và phương pháp dạy học Với tư cách là một nguyên tắc dạy học, nguyên tắc giao tiếp đòi hỏi:
- Việc lựa chọn và sắp xếp nội dung dạy học phải lấy hoạt động giao tiếp làm mục đích, tức là hướng vào việc hình thành các kĩ năng nghe, nói, đọc, viết cho HS
- Xem xét các đơn vị ngôn ngữ trong hoạt động hành chức, tức là đưa chúng vào các đơn vị lớn hơn, ví dụ xem xét từ hoạt động trong câu như thế nào, câu ở trong đoạn, trong bài ra sao
- Phải tổ chức hoạt động nói năng của HS để dạy học tiếng Việt, nghĩa là phải sử dụng giao tiếp như một phương pháp dạy học chủ đạo ở tiểu học
Với tư cách là một phương pháp dạy học, phương pháp giao tiếp (còn gọi là thực hành giao tiếp) là phương pháp đặc trưng của môn học tiếng Việt bởi "Ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp quan trọng nhất của loài người" Quá trình dạy học tiếng Việt ở tất cả các cấp học đều cần phải được tổ chức như một quá trình giao tiếp bằng ngôn ngữ Phương pháp giao tiếp là phương pháp dạy tiếng dựa vào lời nói, vào những thông báo sinh động, vào giao tiếp bằng ngôn ngữ Phương pháp này gắn liền với phương pháp luyện theo mẫu Cơ sở của phương pháp giao tiếp là chức năng giao tiếp của ngôn ngữ Nếu ngôn ngữ được coi là phương tiện giao tiếp thì lời nói được coi là bản thân sự giao tiếp bằng ngôn ngữ Dạy tiếng Việt theo hướng giao tiếp tức là dạy phát triển lời nói cho từng
cá nhân HS Phương pháp giao tiếp coi trọng sự phát triển lời nói còn những kiến thức lí thuyết thì
được nghiên cứu trên cơ sở phân tích các hiện tượng đưa ra trong bài khoá Để thực hiện phương
pháp giao tiếp cần có, môi trường giao tiếp, các phương tiện ngôn ngữ và các thao tác giao tiếp Xét từ góc độ những hạn chế của các tài liệu bồi dưỡng, các đề thi học sinh giỏi tiếng Việt hiện nay, bảo đảm nguyên tắc giao tiếp thực chất là thực hiện sự chuyển mình triệt để từ quá trình dạy học tiếng mẹ đẻ với mục tiêu cơ bản nặng về lí thuyết để nhận diện, phân loại, phân tích các
đơn vị ngôn ngữ sang mục tiêu hành dụng Để làm được việc này, cần cụ thể hóa quan điểm giao
tiếp trong việc xây dựng tài liệu bồi dưỡng học sinh giỏi tiếng Việt ở Tiểu học như sau:
1) Dạy học tiếp nhận ngôn bản (nghe, đọc hiểu) tính đến các nhân tố của hoạt động giao tiếp
và quá trình giao tiếp;
2) Dạy học tạo lập ngôn bản (nói,viết) tính đến các nhân tố của hoạt động giao tiếp;
3) Dạy học các tri thức tiếng Việt theo quan điểm giao tiếp
Bản thân hai quá trình tiếp nhận và tạo lập ngôn bản chính là quá trình giao tiếp Những vi phạm nguyên tắc giao tiếp trong việc bồi dưỡng học sinh giỏi tiếng Việt thể hiện rõ nhất khi triển khai nội dung dạy học các tri thức tiếng Việt Chính vì vậy, khi bồi dưỡng học sinh giỏi, cần dành nhiều tâm lực cho việc xây dựng nội dung dạy học các tri thức tiếng Việt theo quan điểm giao tiếp
Trang 62) Tối giản hóa quá trình dạy học nhận diện, phân loại, phân tích các đơn vị ngôn ngữ
Để thực hiện điều này cần phải:
- Giảm số lượng bài tập nhận diện,những bài tập lí thuyết không mang tính lợi ích giao tiếp
- Khi dạy các nội dung lí thuyết,cần chọn ngữ liệu điển hình, gắn với dấu hiệu hình thức, mang tính trực quan, dễ nhận diện; cần xây dựng các mẹo nhận diện, hình thức hóa (gắn với dấu hiệu hình thức) để giúp HS dễ nhận diện
3) Dạy học các tri thức tiếng Việt theo quan điểm giao tiếp đòi hỏi phải tối ưu hóa quá trình
sử dụng các đơn vị ngôn ngữ, kiểu loại ngôn ngữ trong hoạt động giao tiếp
Để thực hiện điều này cần phải:
- Tăng số lượng bài tập dạy sử dụng (bài tập có tính chất tổng hợp, sáng tạo)
- Cho thấy lợi ích, chức năng xã hội, chức năng giao tiếp của những đơn vị ngôn ngữ, kiểu loại ngôn ngữ Đồng thời chọn ngữ liệu để làm rõ lợi ích của nội dung được dạy
- Chú trọng dạy nghĩa và dạy cách dùng, thống hợp 3 bình diện kết học, nghĩa học, dụng học trong bồi dưỡng học sinh giỏi tiếng Việt, triệt để chuyển từ cách dạy phân tích,phân loại các đơn vị ngôn ngữ sang dạy sử dụng ngôn ngữ,chuyển từ việc xem xét ngôn ngữ ở bình diện cấu trúc hình thức sang bình diện ngữ nghĩa và ngữ dụng
Nguyên tắc bám sát mục tiêu, chương trình tiếng Việt ở tiểu học cũng đòi hỏi việc bồi dưỡng học sinh giỏi môn tiếng Việt nhằm giúp cho học sinh hiểu biết sâu sắc hơn những kiến thức tiếng Việt, thực hành thành thục hơn những kĩ năng tiếng Việt mà chương trình đã đề ra chứ không cung cấp, không dạy thêm những kiến thức mới, không dạy trước những nội dung dạy học của lớp trên
Đồng thời việc bảo đảm nguyên tắc bám sát mục tiêu, chương trình tiếng Việt ở tiểu học cũng
không cho phép nội dung bồi dưỡng học sinh giỏi lặp lại máy móc những gì được học trong SGK tiếng Việt Dựa vào những kiến thức, kĩ năng tiếng Việt mà chương trình, SGK đã cung cấp,nội dung bồi dưỡng học sinh giỏi tiếng Việt sẽ được xây dựng theo 3 mảng lớn:
- Các tri thức tiếng Việt
- Tiếp nhận lời nói (kĩ năng nghe và kĩ năng đọc hiểu mà đích cao nhất là cảm thụ văn học)
- Tạo lập lời nói (kĩ năng nói và kĩ năng viết văn bản (đoạn văn, bài văn) đặc biệt là các văn bản nghệ thuật - miêu tả và kể chuyện)
Ba nội dung trên cũng chính là 3 bộ phận cấu thành của một đề thi học sinh giỏi tiếng Việt có tính chất truyền thống
Nguyên tắc bám sát mục tiêu, chương trình Tiếng Việt ở tiểu học cũng đòi hỏi việc bồi dưỡng học sinh giỏi phải chú trọng đến tính toàn diện của chương trình, tránh kiểu dạy học "tủ" để thi "đấu gà chọi"
2.2 Nguyên tắc đề cao sự sáng tạo, tính tích cực của học sinh
“Phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh; phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, môn học, bồi dưỡng phương pháp tự học, rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn; tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho học sinh” (Luật Giáo dục, Điều 24.2) Có thể nói, cốt lõi của việc bồi dưỡng học sinh giỏi môn Tiếng Việt là đào tạo những con người sáng tạo, chủ động, tích cực Nội dung và phương
Trang 7pháp dạy học sinh giỏi môn Tiếng Việt phải tạo điều kiện và phát huy được tính năng động và sáng tạo của học sinh, làm cho các em trở thành những người thông minh hơn, năng động, tích cực hơn Nguyên tắc này đòi hỏi việc tổ chức dạy học phải được xây dựng thành hệ thống việc làm cho học sinh để các em tự chiếm lĩnh kiến thức và hình thành, phát triển được những kĩ năng cần thiết
Theo quan điểm của phương pháp dạy học mới, hệ thống bài tập không phải chỉ là phương tiện để thực hành lí thuyết như trước đây người ta thường quan niệm mà chính là con đường, cách thức tổ chức để thực hiện các nhiệm vụ dạy học tiếng Việt Quan niệm này cho rằng cần phải tổ chức toàn bộ quá trình dạy học tiếng Việt dưới dạng thực hành như tổ chức hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ Đây chính là mục tiêu cơ bản của sự vận động chuyển mình từ chương trình dạy học tiếng Việt cũ sang chương trình dạy học tiếng Việt mới Đây cũng là cái lõi của phương pháp dạy học mới - dạy học tiếng Việt theo quan điểm giao tiếp Chính vì vậy, để tổ chức hoạt động dạy học tiếng Việt, chúng ta phải xây dựng các nhiệm vụ dạy học dưới dạng các bài tập Bài tập là phương tiện để tổ chức các hành động tiếng Việt, tích cực hoá các hoạt động của học sinh để hình thành, phát triển các kĩ năng nghe, nói, đọc, viết, thực hiện mục tiêu dạy học tiếng Việt ở trường tiểu học Xây dựng được một hệ thống bài tập tiếng Việt tốt và tổ chức thực hiện chúng một cách hiệu quả có vai trò quyết định đối với chất lượng dạy học tiếng Việt Như vậy cũng có nghĩa là nội dung bồi dưỡng học sinh giỏi tiếng Việt mang tính thực hành cao hơn Nó không có thêm những nội dung kiến thức mới mà chỉ luyện tập thực hành Chính vì vậy khi nói xây dựng nội dung bồi dưỡng học sinh giỏi tiếng Việt cũng có nghĩa là xây dựng hệ thống bài tập để bồi dưỡng học sinh giỏi Hệ thống bài tập để bồi dưỡng học sinh giỏi cũng bao gồm các kiểu dạng bài tập tiếng Việt đã có trong SGK theo từng phân môn
2.3 Nguyên tắc tích hợp
Tích hợp được hiểu là sự hoà nhập, sự kết hợp, hợp nhất, tích hợp cần được quan niệm là một phương hướng nhằm phối hợp một cách tối ưu các quá trình học tập riêng rẽ, các môn học, các phân môn khác nhau theo những mô hình, hình thức, cấp độ khác nhau nhằm đáp ứng những mục tiêu,
mục đích và yêu cầu khác nhau
Nguyên tắc tích hợp đòi hỏi nội dung bồi dưỡng học sinh giỏi môn tiếng Việt phải tổng hợp các mạch kiến thức tiếng Việt và các kĩ năng nghe, nói, đọc, viết, tích hợp được "tiếng" và "văn", tích hợp
được tiếng Việt và các kĩ năng sống, tích hợp được tiếng Việt và các kiến thức, kĩ năng của các môn học
khác
Quan điểm tích hợp được thể hiện rất rõ trong việc lựa chọn ngữ liệu Các ngữ liệu như văn bản
để dạy đọc, các ví dụ được đưa ra để dạy ngữ pháp, chính tả, tập viết cần được tích hợp với những tri
thức văn hóa chung,thống nhất với những mục tiêu giáo dục khác
2.4 Nguyên tắc tính đến đặc điểm của học sinh tiểu học
Đến trường Tiểu học, học sinh bắt đầu chuyển từ hoạt động chủ đạo là vui chơi sang hoạt động học tập Đây là một cửa ải rất khó khăn đối với HS nói chung Chính vì vậy việc bảo đảm
nguyên tắc tính đến đặc điểm của HS tiểu học trước hết đòi hỏi phải có một chiến lược dạy học lạc quan, nhấn mạnh vào mặt thành công của HS và bảo đảm sự thành công của các em trong quá trình
dạy học
Nguyên tắc này cũng đòi hỏi phải có sự phân biệt giữa Việt ngữ học và nội dung dạy học tiếng Việt ở tiểu học kể cả cho HS giỏi Mặc dù có năng khiếu tiếng Việt, HS tiểu học vẫn là những
HS nhỏ mà trình độ nhận thức nói chung, trình độ tiếng Việt và văn chương nói riêng còn thấp Do
đó, khi bồi dưỡng học sinh giỏi vẫn phải chú trọng đến việc chuyển hóa những nội dung của Việt
Trang 88
ngữ học thành nội dung dạy học phù hợp với lứa tuổi các em Ngay cả những sự thú vị của đối tượng tiếng Việt được tập trung khai thác nhiều trong quá trình bồi dưỡng HS giỏi cũng phải có sự
"chuyển hóa" thích hợp, phù hợp với trình độ nhận thức của học sinh tiểu học
Nguyên tắc tính đến đặc điểm của HS tiểu học trong bồi dưỡng tiếng Việt còn thể hiện ở
việc đòi hỏi dạy học phải mang tính phân hóa,cá thể hóa cao Tài liệu bồi dưỡng học sinh giỏi có thể được xây dựng theo sự phân hóa ngoài - có tài liệu riêng dành chổịhc sinh giỏi Tài liệu cũng có thể thực hiện sự phân hóa trong: trong một tài liệu có bài tập dành riêng cho HS khá giỏi và có bài tập cho HS đại trà
động vào nội dung dạy học, có những biện pháp tác động vào phương pháp dạy học, có những biện
pháp tác động vào phương tiện dạy học, có những biện pháp tác động vào quan hệ tương tác giữa thầy - trò, trò - trò
Nguyên tắc bảo đảm tính hấp dẫn đòi hỏi việc tổ chức dạy học phải gây được hứng thú học tập cho học sinh bằng cách khai thác triệt để tính hấp dẫn của nội dung dạy học ,cũng chính là sự thú vị của tiếng Việt, bằng cách sử dụng phương pháp và hình thức tổ chức dạy học linh hoạt, đa dạng, vui và thú
vị, bằng cách thiết lập quan hệ tốt đẹp, tích cực giữa thầy - trò, trò - trò
3 NHIỆM VỤ CỦA VIỆC BỒI BƯỠNG HỌC SINH GIỎI TIẾNG VIỆT
Mục tiêu của việc bồi dưỡng học sinh giỏi tiếng Việt không phải để tạo ra các nhà văn, nhà ngôn ngữ học mặc dù trên thực tế trong số học sinh giỏi này, sẽ có những em trở thành những tài năng văn học và ngôn ngữ học Mục tiêu của công việc này cũng không phải để luyện đội tuyển tham gia các kì thi HS giỏi tiếng Việt nhằm lấy giải Mục tiêu chính của việc bồi dưỡng HS giỏi tiếng Việt là bồi dưỡng lẽ sống, tâm hồn, hứng thú với tiếng mẹ đẻ, bồi dưỡng năng lực tư duy và khả năng ngôn ngữ, cảm thụ văn chương cho học sinh, góp phần hình thành nhân cách con người Việt Nam hiện đại Để đạt được mục tiêu đó, việc bồi dưỡng học sinh giỏi môn tiếng Việt đặt ra những nhiệm vụ sau:
1) Phát hiện những học sinh có hứng thú học tập và năng khiếu tiếng Việt
2) Bồi dưỡng hứng thú tiếng Việt cho học sinh
3) Bồi dưỡng vốn sống cho học sinh
4) Bồi dưỡng kiến thức, kĩ năng tiếng Việt cho học sinh
Trang 91.3 Thảo luận nhóm nhằm nêu nhiệm vụ của việc bồi dưỡng học sinh giỏi môn Tiếng Việt
2 CÂU HỎI, BÀI TẬP ĐÁNH GIÁ
2.1 Phân tích ý nghĩa, sự cần thiết của việc bồi dưỡng học sinh giỏi môn Tiếng Việt ở tiểu
học
2.2 Thử nêu và phân tích các định hướng của việc bồi dưỡng học sinh giỏi môn Tiếng Việt ở
tiểu học
2.3 Nêu mục tiêu và nhiệm vụ của việc bồi dưỡng học sinh giỏi môn Tiếng Việt ở tiểu học
3 GỢI Ý TRẢ LỜI CÂU HỎI VÀ LÀM BÀI TẬP, THỰC HÀNH
Câu 1: xem mục 1 của chương
Ý nghĩa, sự cần thiết của việc bồi dưỡng học sinh giỏi môn Tiếng Việt:
1) Thực hiện nhiệm vụ bồi dưỡng nhân tài trong chiến lược con người mà Đảng ta đã đề ra
2) Thực hiện tư tưởng chiến lược của giáo dục bảo đảm sự công bằng trong xã hội, bảo đảm
điều kiện để những người học giỏi phát triển tài năng
3) Thực hiện tinh thần dạy học phân hóa trong dạy học tự chọn nhằm phát huy cá tính và sự sáng tạo của học sinh, thỏa mãn sự phát triển từng cá thể học sinh
4) Thúc đẩy phong trào thi đua dạy tốt học tốt, nâng cao trình độ chuyên môn và năng lực sư phạm cho giáo viên
Câu 2: xem mục 2 của chương
Nêu và phân tích các nguyên tắc bồi dưỡng học sinh giỏi môn tiếng Việt ở tiểu học
Nêu tên các nguyên tắc và phân tích yêu cầu của mỗi nguyên tắc
1) Nguyên tắc bám sát mục tiêu, chương trình Tiếng Việt ở tiểu học
2) Nguyên tắc đề cao sự sáng tạo, tính tích cực của học sinh
3) Nguyên tắc bảo đảm tính tích hợp
4) Nguyên tắc tính đến đặc điểm của học sinh tiểu học
5) Nguyên tắc bảo đảm tính hấp dẫn
Câu 3: xem mục 3 của chương
Nêu mục tiêu và nhiệm vụ của việc bồi dưỡng học sinh giỏi môn Tiếng Việt
Mục tiêu của việc bồi dưỡng học sinh giỏi tiếng Việt là bồi dưỡng lẽ sống, tâm hồn, hứng thú với tiếng mẹ đẻ, bồi dưỡng năng lực tư duy và khả năng ngôn ngữ, cảm thụ văn chương cho học sinh, góp phần hình thành nhân cách con người Việt Nam hiện đại
Nhiệm vụ của việc bồi dưỡng học sinh giỏi môn tiếng Việt ở tiểu học
Trang 1010
1) Phát hiện những học sinh có hứng thú học tập và năng khiếu tiếng Việt 2) Bồi dưỡng hứng thú tiếng Việt cho học sinh
3) Bồi dưỡng vốn sống cho học sinh
4) Bồi dưỡng kiến thức, kĩ năng tiếng Việt cho học sinh