1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Báo cáo " NHỮNG HẬU QUẢ VÀ LỢI ÍCH KINH TẾ CỦA SỰ HÌNH THÀNH GIA ĐÌNH, GIỚI VÀ GIÁO DỤC TRONG KHU VỰC THU NHẬP THẤP Ở ĐỨC" pot

29 487 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Những hậu quả và lợi ích kinh tế của sự hình thành gia đình, giới và giáo dục trong khu vực thu nhập thấp ở Đức
Tác giả Silke Aisenbrey
Trường học Đại học
Thể loại bài viết
Năm xuất bản 2009
Định dạng
Số trang 29
Dung lượng 441,13 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

"Economic penalties and rewards of family formation, gender and education in the low-income sector in Germany" NHỮNG HẬU QUẢ VÀ LỢI ÍCH KINH TẾ CỦA SỰ HÌNH THÀNH GIA ĐÌNH, GIỚI VÀ GIÁO

Trang 1

Silke Aisenbrey 2009 "Economic penalties and rewards of family

formation, gender and education in the low-income sector in Germany"

NHỮNG HẬU QUẢ VÀ LỢI ÍCH KINH TẾ CỦA SỰ HÌNH THÀNH GIA ĐÌNH, GIỚI VÀ GIÁO DỤC TRONG KHU VỰC THU NHẬP THẤP Ở ĐỨC

Silke Aisenbrey

Tóm tắt

Bài viết này nghiên cứu những tác động khác nhau của sự hình thành gia đình đối với sự

dễ bị tổn thương về mặt kinh tế của nam giới và phụ nữ Câu hỏi đặt ra ở đây là liệu những khoản đầu tư vào giáo dục có đem lại đủ những nguồn lực cần thiết để thoát khỏi nguy cơ đói nghèo trong khu vực có thu nhập thấp hay liệu những thay đổi về đặc điểm gia đình có phải là những nhân tố quan trọng hơn quyết định mức sống của một cá nhân không Những thay đổi về đặc điểm gia đình được xác định trên hai cơ sở là khi vợ hoặc chồng gia nhập hoặc rút ra khỏi hộ gia đình và họ thuộc thị trường lao động nào Nghiên cứu này tập trung vào các hộ gia đình thuộc khu vực có thu nhập thấp tại Đức, đây là bộ phân dân cư có nguy cơ bị đói nghèo cao trong hệ thống phúc lợi xã hội, một hệ thống có trách nhiệm làm giảm nhẹ những tác động của các thay đổi về mô hình gia đình không tính đến yếu tố giới Những kết quả thu được từ phân tích tập hợp hồi quy cho thấy rằng trái với nam giới, phụ nữ được hưởng lợi về mặt kinh tế từ đầu tư vào các mô hình gia đình truyền thống bằng hoặc nhiều hơn là đầu tư vào thị trường lao động mà họ đang tham gia Điều này đặc biệt đúng với trường hợp của các phụ nữ có trình độ học vấn thấp

Các từ vựng chính: Khu vực có thu nhập thấp; các đặc điểm của hộ gia đình; hệ thống phúc lợi; giới; các thuận lợi lũy tích

Nghiên cứu về sự bất bình đẳng gần đây đã khiến chúng tôi đi sâu nghiên cứu những quan niệm khác nhau về cấu trúc gia đình, cũng như vai trò của giáo dục trong hàng loạt những thay đổi trong đời sống của nam giới và phụ nữ trong suốt cuộc đời họ Phần lớn nghiên cứu này tập trung vào những tác động của sự thay đổi về gia đình được xác định trong phạm vi hẹp (ví dụ như hôn nhân, ly dị, chăm sóc con cái) hoặc những đầu tư của cá nhân vào giáo dục và kinh nghiệm về thị trường lao động Tuy nhiên, sự phân tách này cũng không rõ ràng khi chúng tôi nhận thấy rằng các gia đình được hình thành bởi các cá nhân, và họ chính là người có thể mang đến cho gia đình nguồn lực con người ở các mức độ khác nhau và do đó họ gia nhập hoặc rút lui khỏi các hộ gia đình với rất nhiều các cơ hội (tích cực hoặc tiêu cực) để nhận được phúc lợi Sự khác biệt này trở nên đặc biệt nghiêm trọng khi xem xét các đối tượng có nguy cơ đói nghèo, những cơ hội

có được sự ổn định kinh tế và có cuộc sống tốt hơn của những đối tượng này là mong manh hơn nhiều so với những đối tượng thuộc khu vực có thu nhập cao hơn (DiPrete 2002) Và đối với phụ nữ khả năng dễ bị tổn thương này thậm chí còn rõ ràng hơn với

Trang 2

nam giới, đặc biệt là những phụ nữ quyết định sống trong các cơ cấu gia đình không truyền thống

Một cơ sở để hiểu những khía cạnh khác nhau của sự dễ bị tổn thương về kinh tế

là khái niệm về những thuận lợi / khó khăn lũy tích Khái niệm này được Merton (1968) đưa ra để giải thích sự bất bình đẳng trong khoa học và gần đây hơn là chủ đề nghiên cứu

về cuộc sống do O’Rand thực hiện (1996) Những thuận lợi lũy tích trong cuộc sống, đó

là tập hợp của giá trị và sự đền đáp, được tạo ra từ sự tác động qua lại giữa những thỏa thuận mang tính thể chế và những bước tiến của cá nhân trong suốt cuộc đời, ‘với những thuận lợi đến với những người sớm có những thành tựu bền vững trong những hoàn cảnh mang tính tổ chức, những hoàn cảnh phân định giá trị và mở rộng sự bảo vệ cùng sự đền đáp’ (O’Rand 1996: 231) Những bối cảnh cụ thể - khác nhau về thời gian và hoàn cảnh - chi phối tác động của những thỏa thuận mang tính thể chế có quan hệ chặt chẽ với nhau đối với hàng loạt những thuận lợi / khó khăn trong suốt cuộc đời (Mayer 2005) Gần đây hơn nữa, DiPrete (2006) thảo luận về khái niệm những thuận lợi lũy tích trong các lĩnh vực khoa học xã hội và tóm tắt các phương pháp tiếp cận dựa trên kinh nghiệm để làm rõ khái niệm này

Một khía cạnh khác của những vấn đề này có thể xuất phát từ nghiên cứu về hệ thống phúc lợi và tác động của nó đối với những mối quan hệ giới (xem, ví dụ Orloff 1993) Những hậu quả và lợi ích kinh tế có liên quan đến những lựa chọn về, và những thay đổi trong cơ cấu gia đình nằm trong bối cảnh hệ thống phúc lợi xã hội Phương pháp tiếp cận này tập trung nghiên cứu hệ thống phúc lợi cho phụ nữ giúp họ thiết lập và duy trì hộ gia đình mà không phụ thuộc vào người trụ cột là nam giới như thế nào Ở đây, câu hỏi trở thành: hệ thống phúc lợi xã hội có bảo vệ phụ nữ khỏi những hiểm nguy về kinh

tế bên ngoài gia đình truyền thống không, hay đó vẫn là tình trạng ‘phụ nữ ”chỉ cách nghèo đói một người chồng”’ (Orloff 1993: 319)?

Bài viết này cố gắng kết hợp nguồn lực con người và các khía cạnh mô hình gia đình vào bối cảnh các chính sách phúc lợi về giới ở Đức thông qua việc nghiên cứu xem đầu tư vào giáo dục của một cá nhân có làm gia tăng hay bảo vệ họ khỏi nguy cơ nghèo đói hiệu quả hơn đầu tư vào người bạn đời, người có khả năng làm thay đổi đáng kể những cơ hội trong cuộc sống của riêng họ Trọng tâm nằm ở những lợi ích và hậu quả

về kinh tế bắt nguồn từ những thuận lợi lũy tích hay những khó khăn về giáo dục, việc làm, giới và cơ cấu gia đình Nghiên cứu này tập trung vào các hộ gia đình ở Đức sống dưới mức chuẩn thu nhập thấp, đây là một bộ phận dân số có nguy cơ bất ổn kinh tế cao hoặc nghèo đói lâu dài trong bối cảnh hệ thống phúc lợi xã hội với nhiệm vụ bảo vệ Những kết quả thu được cho thấy những phụ nữ tìm được người bạn đời mới có cơ hội tốt để thoát khỏi tình trạng dễ bị tổn thương về mặt kinh tế Đối với phụ nữ, đầu tư vào giáo dục và các cơ cấu gia đình truyền thống mở ra cho họ những con đường để thoát khỏi khu vực thu nhập thấp Mức sống của nam giới không phụ thuộc vào cơ cấu gia đình

Những thuận lợi / khó khăn lũy tích: giáo dục, mô hình gia đình, và hệ thống phúc lợi

Trang 3

Mặc dù có một nghiên cứu rất nhỏ dựa trên kinh nghiệm về tác động qua lại của những thay đổi về gia đình đối với các nguồn lực dẫn đến thay đổi về kinh tế có tầm quan trọng mang tính truyền thống, các tác nhân chi phối sự thay đổi kinh tế của cá nhân cũng được biết đến khá nhiều Cụ thể là, giới, giáo dục và tình trạng việc làm là những yếu tố hứa hẹn nhiều nhất về vị thế kinh tế và, vì vậy, cũng là những yếu tố tốt nhất để

dự báo về sự giàu có và thay đổi về kinh tế

Tính dễ bị tổn thương về kinh tế và những kết quả về mặt giáo dục

Học thuyết về nguồn lực con người cho rằng những thành quả kinh tế thu được từ việc làm phụ thuộc vào các kỹ năng, những kỹ năng này có thể được thể hiện qua các yếu tố như giáo dục và kinh nghiệm làm việc Giáo dục trong ngữ cảnh này có thể được hiểu là sự đầu tư nhằm làm gia tăng năng suất Giả định ẩn chứa trong đó là giáo dục có tác động ngày càng nhiều hơn tới năng suất và do đó có tác động tới những thành quả kinh tế thu được (Becker 1964) Thành tựu về giáo dục là một sự đảm bảo khá tốt để được trả lương cao, thăng tiến và có mức sống cao hơn, đồng thời thành tựu đó cũng là một cơ chế bảo vệ khỏi nghèo đói nói chung (Klemm 2000; Bowles và Gintis 2000) Các khái niệm giáo dục và sự thay đổi có liên quan chặt chẽ thông qua nghề nghiệp Giáo dục, với tư cách là một nguồn lực, là sự tích lũy ở mức độ cá nhân và là một nguồn lực lâu dài và ổn định cho các cá nhân so với các nguồn lực khác (Ashenfelter và Rouse 2000) Xét trên phương diện quốc tế, cả tác động giáo dục lâu dài và sự liên hệ giữa giáo dục và nghề nghiệp ở Đức là rất mạnh Ảnh hưởng lâu dài của giáo dục ban đầu ở Đức chịu sự chi phối của lựa chọn giữa con đường học đại học hay học nghề ngay ở tuổi 11, cùng với mức độ hòa hợp rất thấp giữa hai con đường này (Allmendinger và Áisenbrey 2002; Shavit và Muller 2000; Henz 1997) Các chứng chỉ giáo dục đem đến khả năng tiếp cận tới các bậc học cao hơn và hệ thống nghề nghiệp ở mức độ cao hơn ở nơi khác,

ví dụ như ở Mỹ Kết quả là, giáo dục quyết định sự thành công hơn là ở các nước khác (Allmendinger 1989)

Đồng thời với việc giáo dục là sự đảm bảo để có mức sống và nghề nghiệp cao hơn, các nghiên cứu cũng cho thấy rằng nghèo đói về mặt giáo dục đi đôi với nguy cơ rất lớn bị tê liệt trong sự nghèo đói về kinh tế ở Đức (Hacket, Preissler và Ludwig-Mayerhofer 2001) Tuy nhiên, các nghiên cứu khác lại tìm thấy bằng chứng cho thấy giáo dục đóng vai trò trong việc rút ngắn thời gian nghèo đói (Leisering và Leibfried 1999)

Nghiên cứu luôn cho thấy rằng những cơ chế này không phải là không thấy vấn

đề giới ở cả mức độ cá nhân và thể chế Việc phụ nữ phải đối mặt với việc dễ bị tổn thương về kinh tế trong suốt cuộc đời họ nhiều hơn nam giới là khá rõ, tuy nhiên rõ ràng

là việc dễ bị tổn thương hơn này còn tùy thuộc vào các mức độ nguồn lực con người của mỗi cá nhân Ở mức độ vĩ mô, nam giới với học vấn cao hơn nhận được lương cao hơn

so với nữ giới trong thế giới công nghiệp hóa (Nickell và Bell 1996) Khoảng cách về lương có thể khác nhau giữa các quốc gia, nhưng ý nghĩa của sự khác biệt này không khác nhau: đó là phụ nữ được hưởng lợi ích kinh tế ít hơn từ những kỹ năng của họ Chúng ta cũng biết rằng sự khác biệt về lương giữa hai giới không thể được giải thích

Trang 4

tách biệt khỏi các kỹ năng, hay với kinh nghiệm làm việc và những khác biệt về học vấn giữa nam giới và phụ nữ (ví dụ xem Aisenbrey và Bruckner 2008)

Nghiên cứu về các tác động của giáo dục chỉ chủ yếu tập trung vào khoản lương của cá nhân nhận được Trong bài nghiên cứu này, tôi xem xét những kết quả thu được từ giáo dục ở một phương diện khác Những kết quả thu được từ giáo dục được xem xét trong bối cảnh tổng thu nhập của hộ gia đình Phương pháp này dựa trên nghiên cứu về

mô hình gia đình và giả định rằng tập trung vào lương của cá nhân sẽ bỏ qua tác động của những thay đổi trong hộ gia đình tới mức sống (ví dụ xem DiPrete 2002; DiPrete và

McManus 2000; Ducan, Gustafsson, Hauser, Schmauss và Mesinger 1993)

Sự dễ bị tổn thương về kinh tế và cấu trúc gia đình

Quan niệm cho rằng thay đổi về gia đình là một yếu tố quan trọng đối với sự ổn định kinh tế của một cá nhân không phải là mới Ngay từ năm 1901, Rowntree đã kết luận rằng ‘cơ hội lớn cho người lao động tiết kiệm tiền là khi đến tuổi trưởng thành, và trước khi kết hôn’ (Rowntree, 1901: 188) Phần lớn các nghiên cứu gần đây về lĩnh vực này đều tập trung vào những khác biệt về giới do những kết quả của sự hình thành hay tan vỡ của gia đình, tập trung vào những tác động trung gian của các cơ cấu hệ thống phúc lợi khác nhau

Mặc dù Đức có một hệ thống chính sách gia đình và chuyển đổi công cộng rất hoàn chỉnh, vẫn có bằng chứng cho thấy sự tồn tại cố hữu của một mô hình là nam giới được hưởng nhiều lợi ích kinh tế hơn trong khi phụ nữ lại chịu nhiều thiệt thòi về kinh tế hơn từ sự hình thành và tan vỡ gia đình (Burkhauser, Ducan và Hauser 1991; DiPrete 2002) Trong nghiên cứu so sánh giữa Đức và Mỹ, Burkhauser và cộng sự (Burkhauser, Ducan và Hauser 1991) đã chứng minh sự thất bại của hệ thống của hệ thống phúc lợi ở Đức trong việc bảo vệ phụ nữ khỏi những mối đe dọa về kinh tế do sự thay đổi trong gia đình Họ bước đầu kết luận rằng ‘Đức có vẻ kém hơn Mỹ về khẳ năng bảo vệ những phụ

nữ ly dị khỏi sự suy giảm thu nhập tương ứng’ (Burkhauser, Ducan và Hauser 1991: 358) DiPrete và McManus (2000) chứng minh rằng phụ nữ ở cả hai quốc gia này đều bị ảnh hưởng bởi những thay đổi về sự hình thành gia đình nhiều hơn nam giới Tuy nhiên, nam giới ở cả hai quốc gia này không phải chịu sự suy giảm đáng kể nào về mức sống khi gia đình tan vỡ Xem xét những tác động của hệ thống phúc lợi, DiPrete và Mcmanus

đi đến một phát hiện ngược lại với Burkhauser, rằng hệ thống phúc lợi làm giảm đi những hậu quả kinh tế tiêu cực khi gia đình tan vỡ đối với phụ nữ

Trong một nghiên cứu mới đây hơn về nước Đức, Andress và Gullner (2001) chỉ

ra rằng nguy cơ đói nghèo tăng lên gấp đôi sau khi vợ chồng chia tay, đặc biệt là đối với phụ nữ và trẻ em Trong một nghiên cứu so sánh giữa Đức, Mỹ và Thụy Điển, Sorensen (1994) chứng minh rằng phụ nữ phải chịu sự sụt giảm thu nhập nhiều hơn so với chồng của họ sau khi chia tay, kể cả khi đã cộng cả khoản trợ cấp mà chồng cũ phải trả cho họ Trong một nghiên cứu so sánh 8 quốc gia, Ducan và cộng sự (1993) phát hiện ra rằng đối với một cặp vợ chồng ở Đức sự chia tay cũng nguy hiểm gần bằng việc mất việc làm xét

về khả năng rơi vào tình trạng đói nghèo Ở tất cả các quốc gia khác được nghiên cứu, mất việc là một vấn nghiêm trọng nhất Mặc dù Ducan và cộng sự không ước tính các tác

Trang 5

động tách biệt với nam giới và phụ nữ, những kết quả đáng chú ý về nước Đức có thể bị chi phối bởi những bất lợi mà phụ nữ phải đối mặt do tỷ lệ phụ nữ có việc làm thấp (DiPrete 2000) Đối với Mỹ, McManus và DiPrete (2001) cho rằng đã có sự thay đổi nhất thời về hàm ý của sự ly dị đối với nam giới, do sự gia tăng ngày càng mạnh của những gia đình có cả vợ và chồng (suy giảm khả năng sinh sản trong hôn nhân, sự chung sống gia tăng, và gia đình có vợ hoặc chồng tái hôn), phụ nữ tham gia vào lực lượng lao động nhiều hơn, sự cách biệt về thu nhập giữa hai giới, và sự sụt giảm mạnh mẽ về việc chu cấp nuôi con Họ chỉ ra rằng ‘đa phần nam giới không có sự gia tăng về mức sống Trong thực tế hậu quả kinh tế nam giới phải gánh chịu khi chia tay và ly hôn là rất khác nhau, với số đông phải chịu mất mát thiệt thòi, nhưng cũng có nhiều người lại được hưởng lợi’ (McManus và DiPrete 2001: 266) 2

Các nghiên cứu khác lại không tập trung vào sự hình thành gia đình và mức sống trên cùng khía cạnh này, mà lại tập trng vào những thiệt hại về tiền lương khi làm mẹ Ví

dụ, Budig và England (2001) chứng minh rằng nói chung lương của các bà mẹ ở Mỹ thấp hơn 7% so với lương của những phụ nữ không có con Sự khác biệt này càng gia tăng tỷ

lệ thuận với số con Những phụ nữ có 3 con có thu nhập ít hơn những phụ nữ không có con là 22% Ngoài ra, Waldfogel (1997) cũng phát hiện ra rằng tổn hại về lương do có con hoàn toàn không phụ thuộc vào sắc tộc và học vấn Đối với trường hợp nước Đức, Aisenbrey và Bruckner (2008) chỉ ra rằng sự tổn hại khi làm mẹ đồng thời lại là cái lợi khi làm cha: khi nghiên cứu sự hình thành gia đình và giáo dục, họ không chỉ thấy tác động tiêu cực của con cái đối với tiền lương của người mẹ, mà họ còn thấy rằng những người nam giới sống với con cái thường có lương cao hơn những người đàn ông không sống với con Nghiên cứu này cũng cho thấy rằng trong khi việc chung sống làm gia tăng thu nhập của phụ nữ, thì nó lại không tác động gì đến thu nhập của nam giới Họ kết luận rằng những tác động khác nhau của sự hình thành gia đình đối với nam giới và phụ nữ chiếm một phần tư sự khác biệt về lương xét về góc độ giới (trong từng nghề cụ thể)

Sự dễ bị tổn thương về kinh tế trong hệ thống phúc lợi ở Đức

Các hệ thống phúc lợi ở châu Âu thường có vai trò làm giảm đi những khủng hoảng kinh tế trầm trọng như sự đổ vỡ gia đình hay thất nghiệp Tuy nhiên, xét về khía cạnh nguy cơ kinh tế của sự đổ vỡ gia đình, nghiên cứu cho thấy kết quả ngược lại; hệ thống phúc lợi của Đức dường như có hiệu quả hơn rất nhiều trong việc giảm thiểu nguy

cơ đối với mức sống của các gia đình truyền thống (không phải gia đình do một người độc thân làm chủ) so với gia đình không truyền thống (Hauser và Semrau 1990; Burkhauser, Ducan và Hauser 1991) Chính sách phúc lợi của Đức tập trung vào sự hình thành các gia đình truyền thống có một người trụ cột kiếm tiền (nam giới hoặc phụ nữ)

và một người chăm sóc gia đình (ví dụ Maier và Theobald 2002; Holst và Maier 1998) Các mô hình trong đó cả vợ và chồng đều chia sẻ khối lượng công việc như nhau cả ở trong và ngoài gia đình ít khi được hệ thống phúc lợi này trợ cấp Việc làm của phụ nữ không được hệ thống này chủ động hỗ trợ như ở hệ thống phúc lợi của Thụy Điển là một

ví dụ (Stier, Lewin-Epstein và Braun 2001; Maier 2002)

Trang 6

Ủng hộ sự hình thành gia đình truyền thống là một con dao hai lưỡi đối với phụ nữ: đó là trong mối quan hệ hiện tại, phụ nữ không có sự khích lệ nào cho nghề nghiệp của họ khi tham gia vào lực lượng lao động; và sau khi ly hôn, phụ nữ lại có ít kinh nghiệm hơn trên thị trường lao động và vì vậy họ có ít cơ hội có mức lương cao hơn Thông qua việc ủng hộ sự hình thành gia đình truyền thống, hệ thống phúc lợi ở Đức khiến cho phụ nữ khó khăn hơn khi nuôi con ngoài hôn nhân và không có được thu nhập

từ người nam giới là trụ cột trong gia đình Trong hoàn cảnh này, Orloff (1993) đưa ra một chiều cạnh mới về nghiên cứu hệ thống phúc lợi không tính đến yếu tố giới mang tính lịch sử, nghĩa là ‘khả năng hình thành và duy trì hộ gia đình chỉ có người phụ nữ với vai trò người mẹ đơn thân’ (Orloff 1993: 319) cho những phụ nữ không ở trong các mô hình gia đình truyền thống

Sự kết hợp giữa hệ thống thuế và giáo dục của Đức đem lại một cơ cấu khích lệ đem lại lợi ích cho các quyết định gia đình có lợi cho các mô hình gia đình truyền thống

‘Phân chia thuế trong hôn nhân’ giúp các cặp vợ chồng tiết kiệm tiền; với những cặp vợ chồng có thu nhập ngang nhau thì khoản tiết kiệm này là ít nhất (Andress và Gullner 2001) Trong trường hợp ly hôn, người trụ cột kiếm tiền trong gia đình sẽ chịu phạt thông qua việc mất các khoản phúc lợi về thuế, mặc dù anh ta hoặc cô ta phải chu cấp cho vợ hoặc chồng cũ và con cái Ngoài những khích lệ do hệ thống thuế ấn định, việc thiếu hệ thống nhà trẻ, mẫu giáo với mức phí vừa phải, có ít lựa chọn cho việc gửi con cái dưới 3 tuổi đến trường, ít các trường mẫu giáo và trường học nửa ngày khiến cho hộ

gia đình có cả vợ và chồng đều đi làm kiếm tiền thậm chí càng khó tồn tại

Cùng với hệ thống khích lệ hỗ trợ các gia đình, cốt lõi của hệ thống phúc lợi của Đức được dựa trên một nguyên tắc bảo hiểm là phúc lợi do chính phủ cung cấp như trợ cấp thất nghiệp và lương hưu được phân bổ trên cơ sở những đóng góp trước đây trên cơ

sở nghề nghiệp Bên cạnh các khoản phúc lợi trên cơ sở bảo hiểm như trợ cấp thất nghiệp, còn một số cơ chế trợ cấp không dựa trên những đóng góp trước đó, gọi là các khoản phúc lợi phổ thông Những khoản phúc lợi không phụ thuộc vào tình trạng việc làm hiện tại và trước đây này nhằm bảo vệ công dân khỏi bị đói nghèo hoặc giúp họ nâng cao trình độ học vấn hay nuôi dạy con cái là một ví dụ Nói chung, nếu các khoản phúc lợi được dựa trên cơ sở bảo hiểm, phụ nữ phải chịu thiệt thòi nhiều hơn (Orloff 1993)

Tóm lại, các chinh sách gia đình ở Đức chủ yếu hỗ trợ các mô hình gia đình truyền thống với một người trụ cột kiếm tiền Đối với phụ nữ, những chính sách này được hy vọng là sẽ tăng thêm sự khích lệ và lợi ích liên quan đến việc thiết lập hoặc duy trì các cấu trúc gia đình truyền thống hơn là đầu tư vào nguồn lực con người Nói một cách khác, hệ thống phúc lợi của Đức nhằm hạn chế khả năng phụ nữ thiết lập và duy trì

hộ gia đình chỉ có người phụ nữ với vai trò người mẹ đơn thân

Động cơ nghiên cứu

Kết quả về mặt kinh tế của sự hình thành gia đình thay đổi sự phân bổ thu nhập

và giáo dục như thế nào vẫn còn là một câu hỏi mở (DiPrete và McManus 2000) Các kết quả nghiên cứu về sự hình thành gia đình cho rằng tình trạng kinh tế của phụ nữ nhậy

Trang 7

cảm hơn với cơ cấu hình thành gia đình và sự thay đổi sự hình thành gia đình Đồng thời, nghiên cứu về giáo dục cho thấy rằng trình độ học vấn thấp hơn khiến tình trạng kinh tế của cá nhân trở nên dễ bị tổn thương hơn, đặc biệt là đối với phụ nữ Kết hợp lại, hai nghiên cứu này gợi ra một vấn đề trong các câu hỏi còn bỏ ngỏ đó là: Liệu giáo dục, cùng với việc làm, có phải là nhân tố quyết định các lợi ích kinh tế, và những lợi ích này tương quan thế nào với các kết quả thu được về mặt kinh tế của sự hình thành gia đình?

Và đây có phải là một quá trình mang yếu tố giới? Xét trên phương diện nghiêm túc hơn, các câu hỏi nghiên cứu có thể tóm tắt lại như sau: Những thay đổi về sự hình thành gia đình và những vấn đề của thị trường lao động tác động khác nhau như thế nào đến tình trạng kinh tế của nam giới và phụ nữ? Mối quan hệ này có phụ thuộc vào trình độ học vấn không? Nếu có thì liệu tác động trung gian của giáo dục đối với nam giới và phụ nữ

có giống nhau không? Tóm lại, phụ nữ cần gì để ‘hình thành và duy trì một gia đình chỉ

có người phụ nữ với vai trò người mẹ đơn thân’ (Orloff 1993: 319)

Tôi tiếp cận các câu hỏi này tập trung vào bộ phận dân cư có thu nhập thấp Phần lớn nghiên cứu về khả năng thay đổi về mặt kinh tế liên quan đến những thay đổi trong cấu trúc gia đình sử dụng dữ liệu dân số và tập trung vào những thành quả và hậu quả kinh tế trong toàn bộ dân cư nói chung Ngược lại, nghiên cứu của tôi tập trung vào ‘khu vực thu nhập thấp’ ở Đức Mặc dù nghiên cứu tập trung trọng tâm vào nước Mỹ cho rằng

sự suy giảm mức sống mạnh nhất sau khi gia đình tan vỡ xảy ra với những phụ nữ có thu nhập gia đình cao nhất (Weiss 1984; Ducan và Hoffman 1985; Weitzman 1985), ở bộ phận dân cư có thu nhập thấp, nguy cơ đói nghèo là cao nhất Nghiên cứu về những tác động ngắn hạn của việc ly hôn ở Mỹ cho thấy phụ nữ ở bộ phận dân cư có thu nhập thấp phải chịu nguy cơ đói nghèo một cách không cân xứng: 20% phụ nữ da trắng và 33% phụ nữ da đen với thu nhập dưới mức trung bình cuối cùng cũng bị đói nghèo sau khi hôn nhân tan vỡ một năm (Ducan và Hoffman 1985) Trong một nghiên cứu mô phỏng

sử dụng dữ liệu của Ducan và các cộng sự (1993), DiPrete (2002) chứng minh nguy cơ đói nghèo cao của phụ nữ Đức sau khi gia đình tan vỡ so với phụ nữ ở Mỹ và Thụy Điển Điều này đặt phụ nữ ở bộ phận có thu nhập thấp trước nguy cơ bị đói nghèo thậm chí còn cao hơn Nhứng phát hiện này nhấn mạnh tầm quan trọng của nghiên cứu tập trung vào

bộ phận có thu nhập thấp và cho thấy có thể cho rằng mức sống của bộ phận có thu nhập thấp có thể nhậy cảm với những thay đổi về các cấu trúc gia đình Chúng tôi cũng cho rằng điều này đặc biệt đúng với phụ nữ, bởi vì cơ cấu hệ thống phúc lợi của Đức củng cố thêm mô hình người trụ cột kiếm sống cho gia đình và vì vậy cũng làm gia tăng sự phụ thuộc của phụ nữ vào người bạn đời của họ Xem xét sự khởi đầu khi nam giới và phụ nữ bắt đầu rơi vào khu vực thu nhập thấp cho chúng ta cơ hội xem xét kỹ hơn những yếu tố cần thiết để duy trì một hộ gia đình chỉ có người phụ nữ với vai trò người mẹ đơn thân Trên cơ sở tóm tắt tổng quan nghiên cứu về giáo dục, sự hình thành gia đình và các khích lệ của hệ thống phúc lợi xã hội, sự ngoại lệ ở đây là những kết quả thu được về mặt giáo dục trên thị trường lao động làm giảm nhẹ tác động của những thay đổi trong cấu trúc gia đình đối với tình trạng kinh tế tốt Những yếu tố này tích lũy thành những thuận lợi và khó khăn để chứng minh tình trạng kinh tế tốt được ổn định và nâng cao như thế nào Giáo dục được hy vọng sẽ nâng kết quả thu được trên thị trường lao động; những kết quả này cần phải đóng vai trò bảo vệ để tránh sự đổ vỡ kinh tế bắt nguồn từ sự

Trang 8

tan vỡ hay hình thành các cấu trúc gia đình Xem xét các những kết quả thu được của phụ nữ trên thị trường lao động thấp hơn so với nam giới, thì những tác động nhằm mục đích giảm thiểu này được cho rằng là nhỏ hơn đối với phụ nữ Những thay đổi về cấu trúc gia đình bao gồm không chỉ sự kết hợp với và sự tách rời khỏi người bạn đời mà còn bao gồm những thay đổi về tình trạng trên thị trường lao động của người bạn đời Các bất lợi của mối quan tâm là: giới, giáo dục, những kết quả thu được từ giáo dục, và tình trạng gia đình Xét về những sự bất lợi lũy tích, chúng tôi sẽ hy vọng rằng trong hoàn cảnh của hệ thống phúc lợi của nước Đức, tình trạng kinh tế tốt của phụ nữ có trình độ học vấn thấp là có khả năng bị tổn thương nhiều nhất bởi tất cả những thay đổi trong cấu trúc gia đình Cụ thể hơn, chúng tôi dự đoán là:

(1) Một người bạn đời có việc làm làm gia tăng mức sống về mặt kinh tế cho người phụ nữ nhiều hơn là giành được việc làm cho chính họ, mặc dù đây không có nhiều khả năng là trường hợp của những phụ nữ có học vấn cao; và (2) Con cái trong cùng hộ gia đình đó càng làm tình trạng kinh tế khó khăn hơn, điều này dễ xảy ra với phụ nữ hơn là với nam giới

Chúng tôi sẽ xem xét hai dự đoán này trên hai phương diện Một là chúng tôi sẽ xem xét các xu hướng hành vi cư xử thông qua phân tích xem ai là người có nhiều hay ít khả năng phải trải qua sự thay đổi trong thời gian nghiên cứu được thực hiện và hai là chúng tôi sẽ xem xét những thay đổi này tác động như thế nào đến tình trạng kinh tế của một cá nhân Nếu kết quả cho thấy rằng những kết quả thu được về mặt giáo dục trên thị trường lao động là một công cụ bảo vệ phụ nữ khỏi những thiệt hại đáng kể về mặt kinh

tế do thay đổi về gia đình, thì đó có thể có ý nghĩa rất quan trọng đối với các chính sách

về hệ thống phúc lợi xã hội Nếu một mục tiêu của chính sách phúc lợi là khẳ năng thiết lập và duy trì một hộ gia đình không phụ thuộc vào người bạn đời của một người, thì đầu

tư vào giáo dục cho phụữ và hỗ trợ họ tham gia vào thị trường lao động sẽ phải trở thành

ưu tiên hàng đầu trong đầu tư vào các chính sách nhằm giúp cho gia đình truyền thống không bị ảnh hưởng

Cơ sở dữ liệu và các phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu lặp lại về Khu vực Thu Nhập Thấp (Niedriggeinkommenspanel, NIEP) là một nghiên cứu khảo sát được thiết kế là một nghiên cứu lặp lai gồm sáu vòng được thực hiện từ 1998 đến 2002 Vòng thứ nhất gồm 1922 hộ gia đình có thu nhập thấp với 2867 đối tượng; vòng cuối cùng gồm 1212 hộ gia đình với 1763 đối tượng được khảo sát Nghiên cứu được thiết kế thực hiện theo phương pháp nghiên cứu lặp lại các hộ gia đình, theo ‘chủ hộ gia đình’ do họ tự xác định Năm 1998, năm tiến hành tính toán ngoại suy của NIEP, có khoảng 5,5 triệu hộ gia đình với 12,5 triệu người Đức sống trong khu vực có thu nhập thấp Con số này chiếm khoảng 15% tổng số hộ gia đình ở Đức Một mẫu được chọn từ những hộ gia đình này theo phương pháp ngẫu nhiên do Infratest thiết

kế và thực hiện (Infratest 2002; Kortmann, Sopp và Thum 2002) Nghiên cứu này bao gồm các hộ gia đình có thu nhập thấp, được xác định là những hộ có thu nhập trong

Trang 9

nhóm 20% thấp nhất trong giai đoạn quan sát đầu tiên hoặc những hộ có người trụ cột gia đình thuộc diện nhận trợ cấp của chính phủ, như trợ cấp thất nghiệp hoặc trợ cấp xã hội

‘Chuẩn thu nhập thấp của hộ gia đình’ thay đổi theo các năm của từng vòng Mức chuẩn là 1.5 lần mức trợ cấp xã hội, bao gồm khoản điều chỉnh lạm phát và giá sinh hoạt cũng như tầm cỡ hộ gia đình lớn hay nhỏ (Infratest 2002) Ví dụ, đối với hộ gia đình có 2 thành viên, mức chuẩn là 1240 Euro cho vòng đầu và 1330 Euro cho vòng thứ 6; đối với

hộ gia đình chỉ có một người, chuẩn thu nhập thấp tăng từ 770 Euro lên 825 Euro (Aisenbrey 2005) Tôi lấy chuẩn này làm mốc khởi đầu để tính toán biến phụ thuộc của mình, đó là mức sống (xem dưới đây)

Số đối tượng tham gia giảm đi trung bình trong toàn bộ quá trình nghiên cứu lặp lại qua tất cả 6 vòng là 7% Thiết kế nghiên cứu lặp lại này cho phép các hộ gia đình có thể bị bỏ sót trong vòng này thì lại được đưa vào vòng sau Tỷ lệ tử vong trong toàn bộ nghiên cứu lặp lại này là 27% và tỷ lệ này không thiên về các biến được quan tâm (Infratest 2002) Khả năng vẫn nằm trong mẫu không phụ thuộc vào các biến thường được sử dụng để phân tích sự thất bại mang tính hệ thống trong các nghiên cứu lặp lại và các biến có khả năng được quan tâm trong nghiên cứu này, như tình trạng gia đình, tuổi tác, giáo dục hay tình trạng việc làm (Aisenbrey 2005) Mức trung bình của thu nhập hộ gia đình sau điều chỉnh của chính phủ là 736 Euro ở vòng thứ nhất và 876 Euro ở vòng nghiên cứu cuối cùng

Trong các phân tích, những đối tượng sống trong các hộ gia đình bị loại ra nếu rơi vào một trong các trường hợp sau: (a) cả hai vợ chồng đều nghỉ hưu, (b) người chồng

đã nghỉ hưu và người vợ ở nhà làm nội trợ hoặc (c) hộ gia đình gồm toàn các thành viên

đã nghỉ hưu Ngoài ra, các đối tượng hơn 50 tuổi và dưới 25 tuổi cũng bị loại ra khỏi phân tích Để tránh giải thích không chính xác kết quả thu được, các đối tượng vẫn đang

ở trong hệ thống giáo dục cũng bị loại trừ Do một số hộ gia đình được chọn đưa vào mẫu vì người trụ cột gia đình được nhận trợ cấp, có một số hộ gia đình có thu nhập cao hơn chuẩn thu nhập thấp Vì nghiên cứu này tập trung vào các hộ gia đình có thu nhập thấp, nên những hộ gia đình có thu nhập cao hơn chuẩn thu nhập thấp 1,2 lần bị loại trong vòng nghiên cứu thứ nhất Theo những tiêu chí này, tổng cộng 249 người hay 151

hộ đã bị loại

Nghiên cứu về khu vực có thu nhập thấp thường được thực hiện trên cơ sở các dữ liệu điều tra dân số Một khó khăn trong việc ước tính các mô hình khác nhau giới hạn trong phân nhóm thu nhập thấp trong dữ liệu điều tra dân số là cỡ mẫu trở nên quá nhỏ Một ưu điểm của dữ liệu của nghiên cứu lặp lại khu vực thu nhập thấp (NIEP) là nó cung cấp đủ thông tin dữ liệu để đánh giá những tác động trong khu vực có thu nhập thấp Một

ưu điểm khác của NIEP là thiết kế theo chiều dọc và khoảng thời gian khá ngắn giữa các vòng, điều này khiến việc nghiên cứu những thay đổi xảy ra trong những khoảng cách thời gian rất ngắn có thể thực hiện được Đồng thời, cũng giống như các nghiên cứu lặp lại khác dựa trên một mẫu được nghiên cứu lặp lại theo từng vòng, thiết kế của nghiên cứu NIEP cũng có một số những hạn chế nhất định Thứ nhất là mẫu đó chỉ đại diện tại thời điểm khi mẫu được quan tâm, trong trường hợp này là các hộ gia đình sống ở khu vực thu nhập thấp vào năm 1999 Thứ hai là có xu hướng tập trung quá nhiều vào mẫu là

Trang 10

các đối tượng đã ở trong khu vực có thu nhập thấp trong một thời gian dài so với các đối tượng chỉ mới nằm trong khu vực thu nhập thấp một thời gian ngắn Vì bản chất mang tính điều kiện của phân tích được sử dụng ở đây, các kết quả đưa ra không bị ảnh hưởng nhiều bởi tác động này Thứ ba là ‘hồi quy về mức trung bình’ có thể là một nguyên nhân gây ra thành kiến về mẫu Hồi quy về mức trung bình hay hồi quy tới mức thường xảy ra nếu mẫu quá đặc biệt so với đa số dân cư (Trochim 2001: 3) Đối với việc phân tích dữ liệu NIEP điều này nghĩa là mặc nhiên cơ hội thay đổi kinh tế theo hướng đi lên

là cao hơn là theo hướng đi xuống Một lần nữa, do bản chất mang tính điều kiện của nghiên cứu với trọng tâm là những sự việc gây ra sự thay đổi về tình trạng kinh tế, chỉ phần kết quả mang tính mô tả chịu tác động của việc hồi quy về mức trung bình Tuy nhiên, toàn bộ tình trạng kinh tế nâng cao cần phải được giải thích một cách thận trọng

và không nên giải thích quá mức về toàn bộ những kết quả kinh tế đạt được

Chiến lược lập mô hình

Quá trình lập mô hình có hai bước do câu hỏi nghiên cứu gồm hai phần Bước đầu lập mô hình cho câu hỏi ai là người có thể hay ít có thể phải trải qua thay đổi trong thời gian nghiên cứu nhất và bước thứ hai lập mô hình cho câu hỏi những thay đổi này tác động như thế nào đến mức sống của mỗi cá nhân Câu hỏi thứ nhất là về các xu hướng hành vi, đó là bao nhiêu người thay đổi từ tình trạng A sang tình trạng B, và câu hỏi thứ hai là điều này có tác động gì đến mức sống của họ Vấn đề những xu hướng hành vi khác nhau trong các nhóm tập trung vào các câu hỏi sau: Người ta có tránh những lựa chọn đi kèm với áp lực lên mức sống của họ? Có tác động nào cản trở đối với những lựa chọn không thuận lợi có thể đi kèm theo những bất lợi về kinh tế không? Và mặt khác, có sự thu hút nào tới các lựa chọn thuận lợi, những lựa chọn đó có khả năng dẫn đến kết quả là những lợi ích về kinh tế không Những xu hướng hành vi này có khác nhau giữa các nhóm giáo dục? Rõ ràng là những xu hướng hành vi này chỉ có thể được giải thích trong sự tác động qua lại với với những thỏa thuận chính thức và trong ngữ cảnh cấu trúc của chúng Để lập mô hình cho phần này của quá trình, toi sử dụng các phương pháp mô tả, các phương pháp này cho thấy sự phân bố các biến được quan tâm ở vòng thứ nhất và vòng cuối cùng của nghiên cứu và tỉ lệ đầu vào và đầu ra của những tình trạng khác nhau này

Câu hỏi về các kết quả kinh tế của sự thay đổi tình trạng được nghiên cứu thông qua các mô hình hồi quy để thu thập dữ liệu lặp lại Các mô hình hồi quy lặp lại có thể được tính toán với các tác động cố định (FEM), các tác động ngẫu nhiên (REM) hoặc giữa các tác động (BEM) Các mô hình có thể được tính toán với các tác động ngẫu nhiên nếu kết hợp giải thích các tác động thay đổi theo thời gian (trong mỗi người) và yếu tố không thay đổi theo thời gian (giữa mọi người) được quan tâm Nếu câu hỏi nghiên cứu tập trung đặc biệt vào sự tách biệt giữa các tác động thay đổi theo thời gian, thì nên tính toán các mô hình tách biệt Có một cách là tách biệt các tác động (trong mỗi người) trong các mô hình tác động cố định.3 Mô hình các tác động cố định tính toán các tác động của thay đổi trong biến độc lập đối với biến phụ thuộc, cũng được xem như là

Trang 11

yếu tố nguyên nhân (Dannefer và Snell 1988; DiPrete và McManus 2000) Quyết định sử dụng mô hình nào có thể được đưa ra trên cơ sở câu hỏi nghiên cứu hoặc dựa trên thử nghiệm thống kê Đối với câu hỏi nghiên cứu về những thay đổi mức sống, quan tâm hàng đầu của tôi là xác định các nguyên nhân gây ra những thay đổi về mức sống có thể được xác định bằng các mô hình tác động cố định (FEM) Cơ sở thống kê để quyết định giữa các mô hình với hoặc là các tác động ngẫu nhiên, hoặc là các tác động cố định phụ thuộc vào kết quả thử nghiệm của Hausman (Hausman 1978; Gujarati 2003; Halaby 2004).4 Quyết định chọn các mô hình các tác động cố định của tôi cũng được củng cố bởi thử nghiệm của Hausman Bởi vì sự hiện diện của một dãy các biến ngẫu nhiên và mối tương quan tự động trong các mô hình với các tác động cố định, tất cả các mô hình

được tính toán theo Hubert White và được chỉnh sửa cho phù hợp với mối tương quan tự

hương pháp tính toán

mức sống kinh tế

to động của giá trị này đối với phúc lợi trung bình

Các tác động của các biến độc lập được tính toán trong các mô hình tách biệt được phân chia theo giới và trình độ học vấn Nghiên cứu mới chỉ ra bản chất về giới của hàng loạt các nhóm cơ cấu xã hội (Kruger 2001), chỉ ra rằng ‘yếu tố giới đã được phản ánh trong nhiều các tiêu chuẩn đánh giá bất bình đẳng xã hội’ (Grunow 2006: 65) Nếu yếu tố giới vốn đã nằm trong các hệ số của đa số các biến được đưa vào, thì một mô hình kết hợp cho nam giới và phụ nữ sẽ mang tính định kiến (Sprague 1005) Vì vậy, tôi tính toán các mô hình tách biệt cho nam giới và phụ nữ Ngoài ra, tôi trình bày các mô hình khác nhau cho các trình độ học vấn cho rõ ràng và dễ giải thích Tôi đã tính toán tất cả các mô hình với các tác động tương tác cho yếu tố giáo dục và giới và các hệ s

Trang 12

khác, bao gồm cả trợ cấp của chính phủ, ngày càng có thể hỗ trợ thêm cho thu nhập hộ gia đình Như McManus và DiPrete (2001: 252) đã viết: ‘Thu nhập trên danh nghĩa là một chỉ số quan trọng của tình trạng kinh tế hộ gia đình, nhưng lại là một thước đo mức sống không chính xác’ Định nghĩa về mức sống này, cũng được sử dụng ở đây, chỉ tập trung vào mức sống kinh tế Các chính sách về hệ thống phúc lợi nhằm trao quyền cho phụ nữ cũng như cho nam giới để thiết lập và duy trì hộ gia đình của riêng họ và đồng thời để giảm bớt những tác động của những thay đổi về tình trạng nghề nghiệp hay cấu trúc gia đình Theo đó, tôi quyết định đưa thu nhập sau thuế của hộ gia đình và tất cả các khoản trợ cấp vào tính toán mức sống kinh tế Nó bao gồm tất cả thu nhập, từ nghề nghiệp, các khoản trợ cấp từ hệ thống phúc lợi, và trợ cấp từ vợ / chồng cũ, nhưng khoản thu nhập tiêu cực như khoản giúp đỡ của vợ / chồng cũ cũng được đưa vào Mức sống kinh tế được xác định là tỉ lệ giữa thu nhập hộ gia đình sau khi được hỗ trợ của chính phủ

và chuẩn hộ gia đình có thu nhập thấp (xem ở trên) Như đã được chỉ ra trên đây, chuẩn

hộ gia đình có thu nhập thấp được điều chỉnh theo kích cỡ hộ gia đình và lạm phát Cách tính này dễ giải thích Giá trị của một yếu tố chỉ ra rằng người trả lời sống trong một hộ gia đình có mức sống kinh tế tương ứng với chuẩn thu nhập thấp của hộ gia đình Các giá trị dưới một mức sống trên cho thấy mức sống dưới chuẩn thu nhập thấp, và các giá trị cao hơn một mức sống trên chuẩn thu nhập thấp Tỉ lệ này chính là tỉ lệ mà tôi đề cập là

ếu tố giới và giáo dục ở lần quan sát đầu tiên và cuối cùng

Giáo dục được đo bởi một biến duy nhất (giả định), biến này cho thấy liệu một cá nhân

có được đào tạo lên cao hay không Theo câu hỏi nghiên cứu, phân tích tập trung vào mức độ khác nhau mà bằng cấp cao hơn (mà mới chỉ gần đây phụ nữ mới có thể đạt được như nam giới) đem lại lợi ích về kinh tế cho nam giới và phụ nữ và những lợi ích kinh tế này so với lợi ích kinh tế cho ‘sự hình thành các gia đình truyền thống’ Nghiên cứu trình độ học vấn cao hơn và mối quan hệ của nó với các lợi ích kinh tế thu được từ

đó, tôi đã phân tích dữ liệu thu nhập hàng tháng ALLBUS 2002 Cách tốt nhất là chia cư dân thành hai nhóm trên cơ sở khoảng thời gian họ đi học tại các cơ sở đào tạo: những người đi học 16 năm hoặc lâu hơn và những người đi học dưới 16 năm tại các cơ sở đào tạo Dữ liệu ALLBUS 2002 cho thấy các cá nhân có học vấn cao có thu nhập trung bình hàng tháng là 3554 Euro so với 2237 Euro của những người không có học vấn cao Đơn

vị đo này bao gồm đi học tại trường học, các cơ sở đào tạo và các khóa học nghề chuyên sâu Đào tạo bậc cao được xác định là phải đạt được ít nhất một trong các bằng cấp sau: (a) bằng tốt nghiệp trung học cơ sở cao nhất, bằng Abitur (ít nhất là 13 tuổi), (b) bằng

Trang 13

Degree), bao gồm bằng cấp do tất cả các cơ sở đào tạo bậc cao hơn, như các trường đại học, trường kỹ thuật cấp (khoảng 16 tuổi)

Việc làm

Tình trạng việc làm được tính trong ba biến dự kiến là việc làm toàn thời gian, việc làm bán thời gian và không có việc làm Việc làm toàn thời gian bao gồm các công việc với số giờ làm việc trên 30 tiếng một tuần

Cấu trúc gia đình

Tôi đưa vào hai biến dự kiến để đo các tác động của việc có con đối với việc được nhận trợ cấp: một biến được đánh mã số 1 cho trường hợp có 1 con và chỉ báo có 2 hoặc 3 con Chỉ báo về ‘người bạn đời’ giới hạn với người bạn đời có kết hôn, bởi vì lợi ích về thuế của gia đình ở Đức chỉ áp dụng cho mối quan hệ loại này Bởi vì các tác động của người bạn đời đối với mức sống được cho là phụ thuộc rất nhiều vào tình trạng việc làm của họ, những yếu tố này được tính theo ba biến số tương tác với nhau là (a) người bạn đời có việc làm toàn thời gian, (b) người bạn đời có việc làm bán thời gian, và (c) người bạn đời không có việc làm, với một nhóm không có bạn đời để đối chiếu.6

Mô tả mẫu

Việc mô tả khu vực thu nhập thấp là có nhiều thông tin nhất so với toàn bộ dân

cư nói chung Bảng I tóm tắt những khác biệt giữa các cá nhân trong NIEP và Điều tra Tổng thể Xã hội Đức (ALLBUS) Dữ liệu ALLBUS được sử dụng ở đây được lấy từ ALLBUS 2000 Các tiêu chí loại trừ yếu tố nhân khẩu học được sử dụng cho mẫu của NIEP cũng được sử dụng cho mẫu của ALLBUS

Những khác biệt về học vấn đặc biệt là của nam giới dự kiến là rất rõ ràng Chúng tôi thấy có ít hơn 20% nam giới có bằng cấp cao ở trong khu vực có thu nhập thấp (Bảng I) Những khác biệt này phần nào ít rõ ràng hơn đối với trường hợp phụ nữ (10% chênh lệch) Kết quả sự lựa chọn về giới vào khu vực thu nhập thấp này xét về mặt giáo dục có nghĩa là tỷ lệ nam giới và phụ nữ có bằng cấp cao là như nhau trong khu vực thu nhập thấp (18% so với 17%)

Bảng I: Số dân trong khu vực thu nhập thấp so với toàn bộ dân số

Tỷ lệ phần trăm

Nam giới Phụ nữ Nam giới Phụ nữ

Giáo dục

Trang 14

Nguồn: NIEP (Infretest 2002) và ALLBUS (2000)

Tỷ lệ phụ nữ có việc làm toàn thời gian trong khu vực thu nhập thấp cao hơn tỷ lệ chung của toàn dân là bốn lần; tỷ lệ này của nam giới chỉ cao hơn một phần ba Xem xét

về sự hình thành gia đình, những khác biệt về giới thậm chí còn rõ hơn Nhiều nam giới trong khu vực thu nhập thấp có bạn đời hơn là tỷ lệ chung của toàn dân Mối quan hệ này đối với phụ nữ lại ngược lại, cụ thể là nhiều phụ nữ ở khu vực thu nhập thấp sống độc thân hơn là tỷ lệ chung của toàn dân Hàm ý đầu tiên của kết quả mô tả này là học vấn thể hiện rõ ràng hơn với nam giới hơn là với phụ nữ và nguy cơ rơi vào khu vực thu nhập thấp cao hơn ở nam giới có bạn đời và ở phụ nữ sống độc thân không có bạn đời

tỷ lệ gia nhập vào và đi ra có thể được giải thích là các xu hướng hành vi của các nhóm khác nhau Rõ ràng là những xu hướng hành vi này chịu sự chi phối của ngữ cảnh cấu trúc

Nam giới có bằng cấp cao có tỷ lệ tham gia vào thị trường lao động cao nhât tính đến thời điểm này Đối với nam giới, những thay đổi khi có một việc làm toàn thời gian

là cao hơn đáng kể đối với những người có bằng cấp cao (35%) so với những người không có bằng cấp cao (24 %), trong khi đó tình huống đó khó có thể xảy ra với phụ nữ (22% so với 18%) So sánh cả 4 nhóm cho thấy tỷ lệ phụ nữ có bằng cấp cao có việc làm thấp hơn (22%) tỷ lệ này của nam giới không có bằng cấp cao (24%) Tỷ lệ phụ nữ, đặc biệt là những người có bằng cấp cấp cao, làm việc bán thời gian rất cao

Tỷ lệ tham gia vào và đi ra khỏi một mối quan hệ với người bạn đời có tình trạng việc làm cụ thể có thể bị chi phối bởi người bạn đời bước vào hay đi ra khỏi hộ gia đình

Ngày đăng: 02/04/2014, 18:20

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng I: Số dân trong khu vực thu nhập thấp so với toàn bộ dân số - Báo cáo " NHỮNG HẬU QUẢ VÀ LỢI ÍCH KINH TẾ CỦA SỰ HÌNH THÀNH GIA ĐÌNH, GIỚI VÀ GIÁO DỤC TRONG KHU VỰC THU NHẬP THẤP Ở ĐỨC" pot
ng I: Số dân trong khu vực thu nhập thấp so với toàn bộ dân số (Trang 13)
Bảng II tóm tắt sự phân bố các biến được quan tâm ở vòng đầu và cuối và tỷ lệ  gia nhập và đi ra của các hệ thống khác nhau - Báo cáo " NHỮNG HẬU QUẢ VÀ LỢI ÍCH KINH TẾ CỦA SỰ HÌNH THÀNH GIA ĐÌNH, GIỚI VÀ GIÁO DỤC TRONG KHU VỰC THU NHẬP THẤP Ở ĐỨC" pot
ng II tóm tắt sự phân bố các biến được quan tâm ở vòng đầu và cuối và tỷ lệ gia nhập và đi ra của các hệ thống khác nhau (Trang 14)
Bảng II: Những thay đổi trong cấu trúc gia đình và tình trạng nghề nghiệp (tỷ lệ phần - Báo cáo " NHỮNG HẬU QUẢ VÀ LỢI ÍCH KINH TẾ CỦA SỰ HÌNH THÀNH GIA ĐÌNH, GIỚI VÀ GIÁO DỤC TRONG KHU VỰC THU NHẬP THẤP Ở ĐỨC" pot
ng II: Những thay đổi trong cấu trúc gia đình và tình trạng nghề nghiệp (tỷ lệ phần (Trang 15)
Bảng 3: Mức sống tính theo thu nhập so với chuẩn thu nhập thấp+ - Báo cáo " NHỮNG HẬU QUẢ VÀ LỢI ÍCH KINH TẾ CỦA SỰ HÌNH THÀNH GIA ĐÌNH, GIỚI VÀ GIÁO DỤC TRONG KHU VỰC THU NHẬP THẤP Ở ĐỨC" pot
Bảng 3 Mức sống tính theo thu nhập so với chuẩn thu nhập thấp+ (Trang 16)
Bảng IV: Các tác động gây ra thay đổi mức sống (hồi quy với các tác động cố - Báo cáo " NHỮNG HẬU QUẢ VÀ LỢI ÍCH KINH TẾ CỦA SỰ HÌNH THÀNH GIA ĐÌNH, GIỚI VÀ GIÁO DỤC TRONG KHU VỰC THU NHẬP THẤP Ở ĐỨC" pot
ng IV: Các tác động gây ra thay đổi mức sống (hồi quy với các tác động cố (Trang 17)
Bảng V:  Các tác động trung bình đối với mức sống (hồi quy giữa các tác động) - Báo cáo " NHỮNG HẬU QUẢ VÀ LỢI ÍCH KINH TẾ CỦA SỰ HÌNH THÀNH GIA ĐÌNH, GIỚI VÀ GIÁO DỤC TRONG KHU VỰC THU NHẬP THẤP Ở ĐỨC" pot
ng V: Các tác động trung bình đối với mức sống (hồi quy giữa các tác động) (Trang 20)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w