1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Vận dụng quy luật cạnh tranh trong nền kinh tế thị trường nghiên cứu sự cạnh tranh của tập đoàn trung nguyên trong thị trường cà phê thế giới hiện nay

15 16 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Vận dụng quy luật cạnh tranh trong nền kinh tế thị trường nghiên cứu sự cạnh tranh của tập đoàn Trung Nguyên trong thị trường cà phê thế giới hiện nay
Tác giả Hoàng Yến Nhi
Người hướng dẫn Đỗ Thị Kim Hoa
Trường học Trường Đại học Kinh tế Quốc dân
Chuyên ngành Kinh tế Chính trị
Thể loại Bài tập lớn
Năm xuất bản 2020
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 15
Dung lượng 174,19 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN BÀI TẬP LỚN MÔN KINH TẾ CHÍNH TRỊ MÁC LÊNIN Đề tài Vận dụng quy luật cạnh tranh trong nền kinh tế thị trường nghiên cứu sự cạnh tranh của tập đoà[.]

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN

BÀI TẬP LỚN MÔN KINH TẾ CHÍNH TRỊ MÁC-LÊNIN

Đề tài: Vận dụng quy luật cạnh tranh trong nền kinh tế thị trường nghiên cứu

sự cạnh tranh của tập đoàn Trung Nguyên trong thị trường cà phê thế giới

hiện nay

HỌ VÀ TÊN: HOÀNG YẾN NHI

MÃ SINH VIÊN: 11193970

NHÓM: LỚP KINH TẾ CHÍNH TRỊ (219)-25

GIẢNG VIÊN: ĐỖ THỊ KIM HOA

Hà Nội, tháng 4 năm 2020

Trang 2

MỤC LỤC

Lời mở đầu……… …2

Nội dung……… …3

I Quy luật cạnh tranh trong nền kinh tế thị trường……… …3

II Thị trường cà phê……….…6

III Cạnh tranh của tập đoàn Trung Nguyên trong thị trường thế giới hiện nay……… 8

1 Giới thiệu tổng quan về tập đoàn Trung Nguyên……….…8

2 Cơ hội và thách thức của Trung Nguyên……….…9

3 Hạn chế trong cạnh tranh của Trung Nguyên và nguyên nhân……… 10

4 Các đối sách của Trung Nguyên……… 11

5 Đánh giá cá nhân về Trung Nguyên……… 13

Tài liệu tham khảo……….14

Trang 3

LỜI MỞ ĐẦU Cạnh tranh luôn là vấn đề sống còn đối với một doanh nghiệp trong môi trường kinh doanh hiện nay nhất là khi mà quá trình hội nhập kinh tế, toàn cầu hóa và khu vực hóa kinh tế thế giới đang trở nên mạnh mẽ hơn bao giờ hết Nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động và tăng khả năng cạnh tranh trong điều kiện kinh doanh luôn biến động, việc xác định đối tượng và chiến lược cạnh tranh đóng vai trò rất quan trọng đối với doanh nghiệp Khi đánh giá các thành tựu kinh tế đã đạt được trong những năm đổi mới vừa qua, chắc chắn chúng ta không thể không đề cập đến những thành tựu vượt bậc, vị trí xuất khẩu thứ hai thế giới và lượng sản xuất đứng đầu thế giới của cà phê Việt Nam Thị trường cà phê Việt Nam trong những năm gần đây có sự phát triển vượt bậc về lượng và chất CÙng với sự phát triển của thị trường là sự gia tăng nhanh chóng của các thương hiệu cà phê ngoại Vì thế cạnh tranh trong hoạt động kinh doanh càng gay gắt

Tập đoàn cà phê Trung Nguyên là một tập đoàn hoạt động kinh doanh cà phê hàng đầu Việt Nam Chỉ trong vòng 5 năm, từ một xưởng sản xuất nhỏ tại Buôn Ma Thuột, Trung Nguyên đã có mặt tại mọi miền đất nước Trung Nguyên đã thực hiện một cuộc xâm nhập thị trường ngoạn mục nhất trong lịch sử xây dựng thương hiệu Việt Nam Nhưng để biến mình từ “ vựa cà phê” lớn của thế giới thành quyền lực Việt Nam trong ngành công nghiệp cà phê thế giới, vẫn là thách thức lớn cho tất cả

Từ sự tò mò và hứng thú với thị trường cà phê cùng với những kiến thức thú vị em được học trong bộ môn Kinh tế Chính trị, em xin chọn đề tài “Vận dụng quy luật cạnh tranh trong nền kinh tế thị trường nghiên cứu sự cạnh tranh của tập đoàn Trung Nguyên trong thị trường cà phê thế giới hiện nay”.

Trang 4

NỘI DUNG

I Quy luật cạnh tranh trong nền kinh tế thị trường

Quy luật cạnh tranh là quy luật kinh tế điều tiết một cách khách quan mối quan hệ ganh đua kinh tế giữa các chủ thể trong sản xuất và trao đổi hàng hóa

Thị trường là nơi diễn ra các hoạt động mua bán, trao đổi hàng hoá bao gồm các yếu tố đầu vào và các yếu tố đầu ra của quá trình sản xuất Trên thị trường các nhà sản xuất, người tiêu dùng, những người hoạt động buôn bán kinh doanh, quan hệ với nhau thông qua hoạt động mua bán trao đổi hàng hoá Như vậy thực chất thị trường là chỉ các hoạt động kinh tế được phản ánh thông qua trao đổi, lưu thông hàng hoá và mối quan hệ

về kinh tế giữa người với người Hình thức đầu tiên của nền kinh tế thị trường là kinh tế hàng hoá Kinh tế hàng hóa là một kiểu tổ chức kinh tế xã hội mà trong đó sản phẩm sản xuất ra để trao đổi và buôn bán trên thị trường Nền kinh tế thị trường là hình thức phát triển cao của nền kinh tế hàng hoá, mà ở đó mọi yếu tố đầu vào và đầu ra của quá trình sản xuất đều được quy định bởi thị trường

Cạnh tranh là sự ganh đua, sự đấu tranh về kinh tế giữa những chủ thể trong sản xuất kinh doanh nhằm giành giật những điều kiện thuận lợi trong sản xuất, tiêu thụ hoặc tiêu dùng hàng hoá để thu nhiều lợi ích nhất cho mình.

Trong hoạt động sản xuất kinh doanh các doanh nghiệp luôn muốn có được những điều kiện thuận lợi trong quá trình sản xuất như: thuê được lao động rẻ mà có kĩ thuật, mua được nguyên nhiên vật liệu rẻ, có thị trường các yếu tố đầu ra tốt Điều đó dẫn đến sự cạnh tranh giữa các doanh nghiệp dể chiếm lấy, nắm giữ lấy những điều kiện thuận lợi

Sự cạnh tranh này chỉ kết thúc khi nó được đánh dấu bởi một bên chiến thắng và một bên thất bại Tuy vậy cạnh tranh không bao giờ mất đi trong nền kinh tế thị trường Cạnh tranh là sự sống còn của các doanh nghiệp Muốn tồn tại được buộc các doanh nghiệp phải nâng cao sức cạnh tranh của doanh nghiệp mình bằng cách: nâng cao năng lực sản xuất của doanh nghiệp, giảm chi phí sản xuất để cạnh tranh về giá cả, cải tiến khoa học kĩ thuật… Điều này sẽ thúc đẩy nền kinh tế phát triển, đồng thời cũng làm cho xã hội phát

Trang 5

triển nhờ kinh tế phát triển, khoa học - kĩ thuật phát triển do đòi hỏi phải nâng cao năng suất lao động của doanh nghiệp, cải tiến khoa học - kĩ thuật

Trong quá trình cạnh tranh các nguồn lực của xã hội sẽ được chuyển từ nơi sản xuất kém hiệu quả đến nơi sản xuất có hiệu quả hơn Tạo ra lợi ích xã hội cao hơn, mọi người sẽ sử dụng những sản phẩm tốt hơn Cạnh tranh đem lại sự đa dạng của sản phẩm

và dịch vụ Do đó tạo ra nhiều lựa chọn hơn cho khách hàng, cho người tiêu dùng

Như vậy cạnh tranh là một đặc trưng cơ bản của nền kinh tế thị trường Cạnh tranh giúp cho sự phân bổ nguồn lực xã hội có hiệu quả, đem lại ích lợi lớn hơn cho xã hội Cạnh tranh có thể được xem như là quá trình tích luỹ về lượng để từ đó thực hiện các bước nhảy thay đổi về chất Mỗi bước nhảy thay đổi về chất là mỗi nấc thang của xã hội,

nó làm cho xã hội phát triển đi lên, tốt đẹp hơn Vậy sự tồn tại của cạnh tranh trong nền kinh tế thị trường là một tất yếu khách quan

Căn cứ vào phạm vi kinh tế, cạnh tranh có 2 loại: cạnh tranh trong nội bộ ngành và cạnh tranh giữa các ngành

Cạnh tranh trong nội bộ ngành: là cuộc cạnh tranh giữa các doanh nghiệp trong cùng một ngành, sản xuất và tiêu dùng cùng một chủng loại sản phẩm Trong cuộc cạnh tranh này có sự thôn tính lẫn nhau, các doanh nghiệp phải áp dụng mọi biện pháp để thu được lợi nhuận như cải tiến kỹ thuật, nâng cao năng suất lao động, giảm chi phí cá biệt của hàng hóa nhằm thu được lợi nhuận siêu ngạch Kết quả là trình độ sản xuất ngày càng phát triển, các doanh nghiệp không có khả năng sẽ bị thu hẹp, thậm chí còn có thể bị phá sản

Cạnh tranh giữa các ngành: là cạnh tranh giữa các ngành kinh tế khác nhau nhằm đạt được lợi nhuận cao nhất, là cạnh tranh giữa các doanh nghiệp hay đồng minh các doanh nghiệp của một ngành với ngành khác Như vậy giữa các ngành kinh tế do điều kiện kỹ thuật và các điều kiện khác nhau như môi trường kinh doanh, thu nhập khu vực, nhu cầu và thị hiếu có tính chất khác nhau nên cùng một lượng vốn đầu tư vào ngành này có thể mang lại tỷ suất lợi nhuận cao hơn các ngành khác Điều đó dẫn đến tình trạng nhiều người sản xuất kinh doanh ở những lĩnh vực có tỷ suất lợi nhuận thấp có xu hướng chuyển dịch sang sản xuất tại những ngành có tỷ suất lợi nhuận cao hơn, đó chính là cạnh tranh giữa các

Trang 6

ngành Kết quả là những ngành trước khia có tỷ suất lợi nhuận cao sẽ thu hút các nguồn lực, quy mô sản xuất tăng Do đó cung vượt quá cầu làm cho giá cả hàng hóa có xu hướng giảm xuống, làm giảm tỷ suất lợi nhuận Ngược lại những ngành trước đây có tỷ suất lợi nhuận thấp khiến cho một số nhà đầu tư rút vốn chuyển sang lĩnh vực khác làm cho quy mô sản xuất của ngành này giảm, dẫn đến cung nhỏ hơn cầu, làm cho giá cả hàng hóa tăng và làm tăng tỷ suất lợi nhuận

Trong nền kinh tế kế hoach hoá khái niệm cạnh tranh hầu như không tồn tại, song

từ khi nền kinh tế nước ta chuyển đổi, vận động theo cơ chế thị trường thị cũng là lúc cạnh tranh và quy luật cạnh tranh được thừa nhận, vai trò của cạnh tranh ngày càng được thể hiện rõ nét hơn:

Đối với một doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ, cạnh tranh là một điều bất khả kháng trong nền kinh tế thị trường Các doanh nghiệp, các nhà kinh doanh dịch vụ khi tham gia thị trường buộc phải chấp nhận sự cạnh tranh Cạnh tranh có thể coi là cuộc chạy đua khốc liệt mà các doanh nghiệp không thể lẩn tránh và phải tìm mọi cách để vươn lên, chiếm ưu thế Như vậy cạnh tranh buộc các nhà dich vụ phải luôn tìm cách nâng cao chất lượng dịch vụ, đáp ứng một cách tốt nhất yêu cầu của khách hàng, của thị trường Canh tranh gây nên sức ép đối với các doanh nghiệp qua đó làm cho các doanh nghiệp hoạt động có hiệu quả hơn

Đối với người tiêu dùng, nhờ có cạnh tranh, người tiêu dùng nhận được các dich

vụ ngày càng đa dạng, phong phú hơn Chất lượng của dịch vụ được nâng cao trong khi

đó chi phí bỏ ra ngày càng thấp hơn Cạnh tranh cũng làm quyền lợi của người tiêu dùng được tôn trọng và quan tâm tới nhiều hơn

Đối với toàn bộ nền kinh tế xã hội cạnh tranh có vai trò rất lớn Cạnh tranh là động lực phát triển kinh tế, nâng cao chất lượng dịch vụ xã hội, tạo ra sự đổi mới, mang lại sự tăng trưởng mạnh mẽ hơn, giúp xoá bỏ các độc quyền bất hợp lý, bất bình đẳng trong kinh doanh Cạnh tranh giúp tăng tính chủ động sáng tạo của các doanh nghiệp, tạo ra được các doanh nghiệp mạnh hơn, một đội ngũ những người làm kinh doanh giỏi, chân chính Cạnh

Trang 7

tranh còn là động lực phát triển cơ bản nhằm kết hợp một cách hợp lí giữa các loại lợi ích của các doanh nghiệp, người tiêu dùng và xã hội

Tuy nhiên, cạnh tranh không chỉ toàn là những ưu điểm, mà nó còn có cả những khuyêt tật cố hữu mang đặc trưng của cơ chế thị trường Cơ chế thị trường bắt buộc các doanh nghiệp phải thực sự tham gia vào cạnh tranh để tồn tại và phát triển Chính điều này đòi hỏi cần phải có sự quản lý của nhà nước, đảm bảo cho các doanh nghiệp có thể tự

do cạnh tranh một cách lành mạnh có hiệu quả

II Thị trường cà phê

Nhu cầu tiêu thụ cà phê rất lớn Hàng năm, lượng tiêu thụ trên thế giới ước tính vào khoảng 94,5 triệu bao cà phê nhân (khoảng 5,6 triệu tấn) Có thể chia các nước tiêu dùng cà phê thành bốn nhóm chính theo khu vực địa lý như sau :

 Nhóm các nước Tây Bắc Âu và Nam Âu

 Nhóm các nước Bắc Mỹ: Trong đó thị trường Mỹ là lớn nhất với nhu cầu hàng năm khoảng 4 kg/người/năm:

 Nhóm các nước Châu Á - Thái Bình Dương: Trong đó hai thị trường tiêu biểu là Hàn Quốc và Nhật Bản

 Nhóm các nước Đông Âu và Nga: Đây là những thị trường mới nổi rất tiềm năng với sản phẩm cà phê

Trong số hơn 80 thành viên của tổ chức cà phê quốc tế (ICO), có tới hơn 40 nước xuất khẩu cà phê Các nước này có thể vừa trồng vừa xuất khẩu hoặc chỉ kinh doanh cà phê xuất khẩu Tuy nhiên các nước sản xuất cà phê lớn trên thế giới đều là những nước vừa sản xuất vừa xuất khẩu Điển hình là các nước như: Brazin, Colombia, Việt Nam,

Uganda, Bờ Biển Nga, Ethiopia, ấn Độ, vv Trong đó Brazin và Colombia là các nước sản xuất và xuất khẩu cà phê Arabica chủ yếu trên thế giới; các nước còn lại của Châu Á

và Châu Phi là các nước xuất khẩu cà phê Robusta lớn của thế giới

Trang 8

Trên thực tế, lượng xuất khẩu cà phê hàng năm của các nước chính là cung trên thị trường cà phê thế giới Lượng cung này phụ thuộc rất nhiều yếu tố trong đó sản lượng chỉ

là một Ngoài sản lượng, lượng cung cà phê trên thị trường thế giới hàng năm còn phụ thuộc vào tình hình kinh tế của các nước, chính sách của hiệp hội các nước sản xuất cà phê (ACPC) và tổ chức cà phê quốc tế (ICO) cũng như biến động nhu cầu giá cả, dự trữ

và yếu tố đầu cơ

Giá cà phê phụ thuộc rất nhiều vào tình hình cung cầu cà phê trên thị trường thế giới Thông thường, để xác lập giá xuất khẩu những người xuất khẩu cà phê thường lấy giá ở những sở giao dịch hàng hoá lớn như ở London, New york, Rotterdam, Asterdam làm chuẩn để xây dựng giá của mình Giá tại các thị trường này thường phản ánh tương đối chính xác các biến động cung cầu trong từng thời điểm xong nó lại mang nặng yếu tố tâm lý nên luôn biến động thất thường

Nhìn chung giá cà phê thập kỷ 90 có xu hướng giảm so với thập kỷ 80 và bến động phức tạp vì nhiều nguyên nhân Nguyên nhân cơ bản là cung tăng nhanh hơn cầu Và thị trường cà phê trở thành tự do không có một cơ chế chặt chẽ quản lý sau khi hệ thống hạn ngạch của ICO bị huỷ bỏ Các nước có khả năng về xuất khẩu cà phê có dịp xuất khẩu ồ

ạt ra thị trường làm cho cung tăng nhanh khi nhu cầu tiêu thụ lại ổn định theo xu hướng giảm

Việt Nam là nước xuất khẩu thứ nhì trên thế giới, chỉ sau Braxin với tổng sản lượng xuất khẩu năm 2009 đạt 1.18 triệu tấn, tương đương 1,73 tỷ USD Việt Nam chủ yếu xuất khẩu cà phê Robusta, một dạng cà phê có tiêu chuẩn thấp hơn cà phê Arabica mà các nước châu Âu thường sử dụng

Nước ta là nước có nền văn hóa cà phê, tuy nhiên lượng cà phê sử dụng đầu người chỉ vào khoảng 0.7kg/người /năm, thấp hơn nhiều so với các nước dẫn đầu là Phần Lan (11kgs/người /năm), và so với nước cao nhất trong khu vực là Nhật Bản (3.3kgs)

Tiêu thụ thị trường nội địa tại Việt Nam chỉ chiếm khoảng 5% trong tổng cà phê xuất khấu, tương đương 61,000 tấn/năm Trong đó cà phê hòa tan chiếm 9,000 tấn, cà phê

Trang 9

rang xay có nhãn hiệu chiếm 35,000 tấn còn lại là cà phê không tên tuổi và nhãn hiệu Thị trường cà phê nội địa tăng trưởng hàng năm khoảng 18% trong đó cà phê hòa tan đang dẫn đầu mức tăng trưởng (+22%) còn cà phê rang xay tăng trưởng chậm hơn thị trường (+13%)

Theo thống kê đo lường tại sáu thành phố lớn (chỉ tính sản phẩm có nhãn hiệu), hiện tại thị phần của cà phê hòa tan chiếm 62% về số lượng và 65% về giá trị so với 38%

số lượng và 34% về giá trị của cà phê rang xay có nhãn hiệu Riêng tại thị trường Hà Nội

và bốn thành phố chính (Hải phòng, Đà Nẵng, Nha Trang, Cần thơ), tỷ trọng cà phê hòa tan còn chiếm đa số so với cà phê rang xay tương ứng 91%, 73%

Trong thị trường cà phê hòa tan, lực lượng phân tán khá đồng đều cho ba đối thủ Vinacàphê (38%), Nescafe (32%) và G7 (23%) Thị trường này đang có bước chuyến biến khá nguy hiểm cho đối thủ Vinacafe khi mức độ tặng trưởng chỉ đạt 27% so với 51%

và 88% của Nescafe và G7 trong năm gần đây

Trong thị trường cà phê rang xay, Trung Nguyên đang dẫn đầu cách biệt so với các đối thủ khác (>80%).Hiện tại thị trường cà phê của Việt Nam chưa phân hóa rõ ràng hai thị trường cà phê là cà phê đại trà và cà phê đặc biệt Cà phê đại trà có thể kể đến như Trung Nguyên ở Việt Nam hay cà phê Taster’s choice của Nestlé tại Mỹ Cà phê đặc biệt

có thể kể đến như HighLand ở Việt Nam hay Starbucks ở Mỹ Vì cà phê đặc biệt tại Việt Nam còn rất nhỏ nên chưa tạo nên ảnh hưởng lớn so với thị trường chiếm hơn 40% tại

Mỹ để họ có thể thành lập nên hiệp hội cà phê đặc biệt của Hoa Kỳ (SCAA) Trong tương lai với sự tham gia của nhiều thương hiệu cà phê đặc biệt, thị trường sẽ phân chia lại và định hình rõ ràng hơn

III Cạnh tranh của tập đoàn Trung Nguyên trong thị trường thế giới hiện nay

1 Giới thiệu tổng quan về tập đoàn Trung Nguyên

Tập đoàn Trung Nguyên là một doanh nghiệp hoạt động trong các lĩnh vực: sản xuất, chế biến, kinh doanh cà phê; nhượng quyền thương hiệu; dịch vụ phân phối, bán lẻ hiện đại và du lịch Cà phê Trung Nguyên là một trong những thương hiệu nổi tiếng hàng đầu tại Việt Nam và đang có mặt tại hơn 60 quốc gia trên thế giới

Trang 10

Ngày 16/06/1996, Chủ tịch Đặng Lê Nguyên Vũ thành lập Trung Nguyên tại Buôn

Ma Thuột – thủ phủ cà phê Việt Nam Năm 2012 Trung Nguyên trở thành thương hiệu cà phê được người tiêu dùng Việt Nam yêu thích nhất Cà phê Trung Nguyên là Thương hiệu

số 1 tại Việt Nam với số lượng người tiêu dùng cà phê lớn nhất Có 11 triệu/17 triệu hộ gia đình Việt Nam mua các sản phẩm cà phê Trung Nguyên

Hiện tại, cà phê Trung Nguyên có 6 dòng sản phẩm chính là:

 Cà phê Trung Nguyên cao cấp

 Cà phê rang xay

 Cà phê hạt nguyên chất

 Cà phê hòa tan G7

 Cà phê tươi

 Cream đặc có đường

Cà phê Trung Nguyên cao cấp có 3 dòng sản phẩm, là: Cà phê Chồn Weasel, cà phê Chồn Legendee và cà phê Sáng tạo 8

Cà phê rang xay có 3 dòng sản phẩm là: Rang xay phổ thông, sản phẩm chế phin 1-5 và sản phẩm sáng tạo 1-5

2 Cơ hội và thách thức của Trung Nguyên

Cà phê là sản phẩm được nhà nước bảo hộ về quyền lợi và thương hiệu, hỗ trợ giá thành sản phẩm và tạo điều kiện xuất khẩu ra nước ngoài, bên cạnh đó nhà nước còn thành lập hiệp hội cà phê để điều hành và phát triển cà phê với mục đích quán triệt đường lối chính sách của Đảng, Nhà nước, bảo vệ lẫn nhau tránh các hành vi độc quyền, tranh chấp thị trường xâm phạm đến lợi ích của doanh nghiệp, bảo vệ quyền lợi cho cà phê Việt Nam trên thị trường Sự ra nhập WTO, ngành cà phê Việt Nam có bước chuyển mình mới, đặc biệt cà phê Việt Nam được biết đến không chỉ trong nước mà còn cả trên thị trường nước ngoài, tạo thêm nhiều định hướng phát triển Trong những năm tới Trung Nguyên vẫn nằm

Ngày đăng: 08/03/2023, 13:23

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w