Bài tập lớn kết thúc học phần Tư tưởng Hồ Chí Minh: Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết toàn dân tộc trong giai đoạn hiện nay ở Việt Nam với mục tiêu nhằm nghiên cứu hệ thống cơ sở lý luận liên quan đến tư tưởng Hồ Chí Minh về đoàn kết toàn dân tộc; Đề xuất các giải pháp nhằm góp phần nâng cao tinh thần đoàn kết toàn dân tộc nhất là trong bối cảnh Việt Nam hiện nay.
Trang 1KHOA QUẢN TRỊ VĂN PHÒNG VÀ LƯU TRỮ
TÊN ĐỀ TÀI
VẬN DỤNG TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ ĐẠI ĐOÀN KẾT TOÀN DÂN TỘC
TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY Ở VIỆT NAM
BÀI TẬP LỚN KẾT THÚC HỌC PHẦN
Học phần: Tư tưởng Hồ Chí Minh
Mã phách:………
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH - NĂM 2021
Trang 2MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Tổng quan tình hình nghiên cứu 1
3 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu 2
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2
5 Phương pháp nghiên cứu 2
6 Đóng góp của đề tài 3
PHẦN NỘI DUNG 4
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ HÌNH THÀNH TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ ĐẠI ĐOÀN KẾT TOÀN DÂN TỘC 4
1.1 Cơ sở lý luận 4
1.2 Cơ sở thực tiễn 7
CHƯƠNG 2 NHỮNG QUAN ĐIỂM CƠ BẢN CỦA HỒ CHÍ MINH VỀ VẤN ĐỀ ĐOÀN KẾT DÂN TỘC 8
2.1 Vai trò của đại đoàn kết toàn dân tộc 8
2.2 Lực lượng của khói đại đoàn kết toàn dân tộc 11
2.3 Điều kiện để xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc 11
2.4 Hình thức tổ chức khối đại đoàn kết toàn dân tộc 12
CHƯƠNG 3 VẬN DỤNG TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ ĐẠI ĐOÀN KẾT DÂN TỘC TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY Ở VIỆT NAM 15
3.1 Giáo dục nâng cao nhận thức về tính cấp thiết xây dựng và củng cố khối đại đoàn kết dân tộc hiện nay theo Tư tưởng Hồ Chí Minh 15
3.2 Quán triệt tư tưởng Hồ Chí Minh về đại kết toàn dân tộc trong hoạch định chủ chương đường lối của Đảng trong tình hình hiện nay 16
3.3 Đoàn kết dân tộc kết hợp với đoàn kết quốc tế 17
KẾT LUẬN 18
TÀI LIỆU THAM KHẢO 19
Trang 3PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Truyền thống yêu nước, nhân ái, tinh thần đoàn kết cộng đồng của dân tộc Việt Nam được hình thành và phát triển trong quá trình dựng nước và giữ nước qua hàng nghìn năm lịch sử Hồ Chí Minh đã sớm hấp thụ được truyền thống đó qua gia đình, qua nghiên cứu kho tàng văn hóa dân gian và tìm hiểu
tư tưởng đoàn kết tập hợp lực lượng của các vị anh hùng dân tộc, các nhà cách mạng yêu nước đầu thế kỷ XX, tiêu biểu là của Phan Bội Châu, Phan Chu Chinh Người khẳng định truyền thống yêu nước, đoàn kết là “thuần phong mỹ tục” của dân tộc, cần phải kế thừa và phát huy mãi mãi
Một trong những cống hiến to lớn của Hồ Chí Minh với cách mạng Việt Nam, tư tưởng đoàn kết toàn dân tộc và xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc của Người là một cống hiến đặc sắc, có giá trị lý luận và giá trị thực tiễn hết sức quan trọng Ngay từ năm 1925, khi còn hoạt động cách mạng tại
Quảng Châu, Trung Quốc, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đã viết bài thơ “Hãy yêu thương nhau và cùng nhau đoàn kết” trong đó có những lời kêu gọi: “Hãy yêu thương nhau và cùng nhau đoàn kết/Nghĩa vụ của một người dân là phải yêu Tổ quốc/Mau cải thiện tâm, tài, lực cho dân”
Nhận thức được việc nghiên cứu và vận dụng tư tưởng của Người về đại đoàn kết dân tộc là một vấn đề chính trị - thực tiễn cấp thiết, có ý nghĩa quyết định thành công của cách mạng nước ta trong thời kỳ mới tôi đã quyết định lựa
chọn đề tài “vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về đoàn kết toàn dân tộc trong giai đoạn hiện nay ở Việt Nam” để nghiên cứu
2 Tổng quan tình hình nghiên cứu
Nghiên cứu về tư tưởng Hồ Chí Minh đã có rất nhiều nhà khoa học nghiên cứu Tại Việt Nam, cho đến nay có rất nhiều công trình nghiên cứu về lĩnh vực này như các công trình nghiên cứu khoa học, giáo trình tư tưởng Hồ
Trang 4Chí Minh; các bài viết trên báo, tạp chí, các luận văn tốt nghiệp, các khoá luận…
Trong quá trình làm tiểu luận, tôi đã tiếp cận với nhiều tài liệu, công trình nghiên cứu có liên quan đến vấn đề đang nghiên cứu Đây là nguồn tài liệu rất phong phú giúp cho việc định hướng, lựa chọn những nội dung quan trọng để thực hiện đề tài Một số sách, giáo trình, có liên quan đến tư tưởng
Hồ Chí Minh như:
Giáo trình Tư tưởng Hồ Chí Minh – NXB Chính trị Quốc gia Hà Nội;
Hồ Chí Minh toàn tập, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011; Đường cách mệnh, Hồ Chí Minh, 1927
Tuy nhiên, đến thời điểm hiện tại, vẫn chưa có công trình nào nghiên cứu về tư tưởng Hồ Chí Minh về đoàn kết toàn dân tộc vì vậy tôi đã chọn đề
tài “Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết toàn dân tộc trong
giai đoạn hiện nay ở Việt Nam.” để nghiên cứu
3 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu hệ thống cơ sở lý luận liên quan đến tư tưởng Hồ Chí Minh về đoàn kết toàn dân tộc
- Đề xuất các giải pháp nhằm góp phần nâng cao tinh thần đoàn kết toàn dân tộc nhất là trong bối cảnh Việt Nam hiện nay
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứua
- Đối tượng nghiên cứu: vận dụng tư tưởng Hồ Chí Mnh về đại đoàn
kết toàn dân tộc trong giai đoạn hiện nay ở Việt Nam
- Phạm vi nghiên cứu:
+ Về mặt không gian: thực hiện nghiên cứu và tìm hiểu tư tưởng Hồ Chí Minh về khối đại đoàn kết toàn dân tộc
5 Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện đề tài này, nhóm đã sử dụng phương pháp như sau:
Trang 5Phương pháp phân tích - tổng hợp Trên cơ sở các các thông tin từ những tư liệu tham khảo, đề tài sử dụng phương pháp phân tích được vận dụng để đánh giá các yếu tố, hệ tư tưởng liên của Hồ Chí Minh liên quan đến vấn đề đoàn kết toàn dân tộc Dựa trên kết quả phân tích từ đó đánh giá toàn diện về lý luận và thực tiễn nhằm rút ra những bài học kinh nghiệm và đề xuất các giải pháp góp phần phát huy tinh thần đoàn kết trong bối cảnh hiện nay, nhất là trong thời gian dịch bệnh và thiên tai đã và đang sảy ra hết sức phức tạp
Phương pháo logic, dựa vào phương pháp này nhằm tìm ra được bản chất vốn có của sự vật, hiện tượng và khái quát thành lý luận Vì tất cả sự vật,
sự việc đều có tính liên kết về bản chất vì thế giữa chúng có tính liên kết tất yếu, cần nhận biết rõ
6 Đóng góp của đề tài
- Về mặt khoa học: Đề tài đã tổng hợp, hệ thống hóa những vấn đề cơ bản về lý luận liên quan đến tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề đoàn kết toàn dân tộc nhằm tạo điều kiện về việc tiếp thu và phát huy thuyền thống tốt đẹp của Hồ Chí Minh
- Về mặt thực tiễn: Đề tài đánh giá đúng thực trạng tinh thần đoàn kết của dân tộc ta hiện nay và việc vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề đoàn kết toàn dân tộc, từ đó đề xuất được những giải pháp cần thiết, giúp cho
việc kế thừa và phát tiển tinh thần đoàn kết được tốt hơn
Trang 6PHẦN NỘI DUNG
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ HÌNH THÀNH TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ
ĐẠI ĐOÀN KẾT TOÀN DÂN TỘC 1.1 Cơ sở lý luận
1.1.1 Giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc Việt Nam
Cơ sở đầu tiên, sâu xa cho sự hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết dân tộc đó là truyền thống yêu nước, nhân ái, tinh thần cố kết cộng đồng của dân tộc Việt Nam được hình thành, tồn tại và phát triển trong quá trình dựng nước và giữ nước hàng nghìn năm lịch sử Ngoài ra, Việt Nam là nước có truyền thống nông nghiệp trồng lúa nước lâu đời, nên phụ thuộc hoàn toàn vào thiên nhiên Nhưng do đặc tính địa hình không mấy thuận lợi nên việc đoàn kết, cùng nhau phối hộ để cùng sản xuất đã ăn sâu vào tiềm thức mỗi người dân Việt Nam Chính từ đó đồng bào ta đã dúc kết được triết lý
nhân sinh: “Một cây làm chẳng lên non, ba cây chụm lại nên hòn núi cao”
Không những thế trải qua bề bày ngàn năm lịch sử, kẻ thù của dân tộc ta luôn
là những nước có tiềm lực công cụ vũ khí rất mạnh Để chống lại và đánh đuổi được đòi hỏi dân tộc Việt Nam phải thật đoàn kết, lấy Đoàn kết là sức mạnh để chống phá mọi kẻ thù Là người con đất Việt, Hồ Chí Minh đã sớm hấp thụ được truyền thống đó qua nghiên cứu kho tàng văn hóa dân gian, qua tìm hiểu tư tưởng đoàn kết tập hợp lực lượng của các vị anh hùng dân tộc, các nhà cách mạng yêu nước đầu thế kỷ XX, tiêu biểu là của Phan Bội Châu, Phan Chu Chinh Người khẳng định truyền thống yêu nước, đoàn kết là
“thuần phong mỹ tục” của dân tộc, cần phải kế thừa và phát huy mãi mãi Trong Tuyên ngôn Độc lập, Hồ Chí Minh đã trịnh trọng tuyên bố với thế giới:
“Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và thực sự đã trở thành một nước tự do, độc lập Toàn thể dân Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mệnh, của cải để giữ vững quyền tự do và độc lập ấy” tinh
Trang 7thần đoàn kết đã được hồ Chí Minh khẳng định và tinh thất ấy là tinh thần bất diện, luôn hừng hực trong lòng mỗi người dân Việt Nam
1.1.2 Tinh hoa văn hóa nhân loại
Tinh hoa văn hóa phương Đông
Hồ Chí Minh kế thừa và phát triển tư tưởng từ bi, vị tha, yêu thương con người, khuyến khích làm việc thiện, chống lại điều ác; đề cao quyền bình đẳng của con người và chân lý; khuyên con người sống hòa đồng gắn bó với đát nước của Đạo Phật Những quan tích cực trong triết lý của đạo Phật được
Hồ Chí Minh vận dụng sáng tạo để đoàn kết đồng bào theo Đạo Phật, đoàn kết toàn dân vì nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh
Tinh hoa văn hóa phương Tây
Ngay từ khi còn học ở trường tiểu học Pháp – bản xứ ở thành phố Vinh (1905) Hồ Chí Minh đã qua tâm tới khẩu hiệu nổi tiếng của Đại Cách mạng Pháp năm 1789 Tự do – Bình đẳng – Bác ái Đi sang phương Tây, Người quan tâm tìm hiểu những khẩu hiệu nổi tiếng đó trong các cuộc cách mạng tư sản ở Anh, Pháp, Mỹ Người đã kế thừa, phát triển những quan điểm nhân quyền, dân quyền trong bản Tuyên ngôn Độc lập năm 1776 của Mỹ, bản Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền năm 1791 của Pháp và đề xuất quan điểm về quyền mưu cầu độc lập, tự do, hạnh phúc của các dân tộc trong thời đại ngày nay Hồ Chí Minh còn tiếp thu được tư tưởng về đoàn kết trong nền văn hóa của các dân tộc phương Tây Khi người đã sống và hoạt động thực tiễn, nghiên cuus lý luận, tình hình kinh tế, chính trị, văn hóa nhân loại tại những trung tâm chính trj kinh tế văn hóa lớn ở các cường quốc trên thế giới như Mỹ, Anh, Pháp, Nga, bằng chính ngôn ngữ của nước đó qua đó tư tưởng
về vai trò sức mạnh của nhân dân và của đoàn kết nhân dân trong nền văn hoá
Trang 8Pháp, Anh, đặc biệt là tư tưởng của Môngteckiơ, Vônte đã được Hồ Chí Minh tiếp thu và phát triển rất sâu sắc
1.1.3 Chủ nghĩa Mác - Lênin
Cơ sở lý luận chủ yếu quyết định hình thành tư tưởng khoa học và cách mạng của Hồ Chí Minh là những quan điểm cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin về vai trò của quần chúng nhân dân trong lịch sử, về lực lượng nền tảng
và giai cấp lãnh đạo sự nghiệp cách mạng của nhân dân, về đoàn kết giai cấp
vô sản thế giới và đoàn kết các dân tộc bị áp bức Hồ Chí Minh đã từng khẳng
định rằng: “Bây giờ học thuyết nhiều, chủ nghĩa nhiều, nhưng chủ nghĩa chân chính nhất, chắc chắn nhất cách mạng nhất là chủ nghĩa Lênin”[1]
Khái quát lịch sử nhân loại, Các Mác và Ph.Ăngghen đã chỉ rõ quan niệm duy vật lịch sử về mối quan hệ biện chứng giữa quần chúng nhân dân và cá nhân lãnh tụ, trong đó khẳng định quần chúng nhân dân là người sáng tạo chân chính ra lịch sử và nhiệm vụ cách mạng càng phát triển thì vai trò đó ngày càng
tăng lên Với khẩu hiệu: “ Vô sản thế giới liên hợp lại”
Phát triển quan điểm của Các Mác và Ph.Ăngghen, Lênin đã chỉ rõ cách mạng là ngày hội của quần chúng bị áp bức bóc lột và khẳng định vai trò của quần chúng nhân dân trong cách mạng vô sản Song, vai trò sức mạnh của quần chúng nhân dân chỉ được phát huy khi được tổ chức, tập hợp thành khối thống nhất mà nền tảng là liên minh công - nông- trí thức, dưới sự lãnh đạo của giai
cấp công nhân Lênin đã bổ sung vào khẩu hiệu của Mác “Vô sản thế giới liên hợp lại” thành khẩu hiệu “vô sản tất cả các nước và các dân tộc bị áp bức đoàn kết lại” Những quan điểm trên của các nhà kinh điển Mác - Lênin đã được Hồ
Chí Minh thấm nhuần sâu sắc, Nhờ đó đã giúp Người đánh giá được những yếu
tố tích cực và hạn chế trong tư tưởng tập hợp lực lượng ở trong nước và thế giới để hình thành tư tưởng về đại đoàn kết dân tộc
Trang 91.1.4 Nhân tố chủ quan Hồ Chí Minh
Hồ Chí Minh có ý tưởng cao cả và hoài bão lớn cứu dân, cứu nước thoát khỏi cách lầm than, cơ cực để đuổi kịp các nước tiên tiến trên thế giới Người
có ý chí, nghị lực to lớn, một mình dám đi ra nước ngoài để khám phá, tìm lý tưởng cho dân tộc Hồ chí minh là người có tầm nhìn chiến lược, người suốt đời tận trung với nước, tận hiếu với dân Những phẩm chất đó là một trong những nhân tố quyết định những thành công sáng tạo của Hồ Chí Minh trong hoạt động lý luận và thực tiễn không vì riêng cho sự nghiệp của mình mà vì
cả dân tộc Việt Nam
1.2 Cơ sở thực tiễn
1.2.1 Xuất phát từ thực tiễn cách mạng Việt Nam
Theo Hồ Chí Minh, nhân tố quan trọng đối với việc ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam đó là phong trào yêu nước Đây là luận điểm mang tính sáng tạo, vàmột khái quát rất quan trọng trong qua strinhf hình thành Đảng Cộng sản Việt Nam Bởi vì yêu nước là nhân tố trường tồn trọng lịch sử Việt Nam Các cuộc đấu tranh của phong trào yêu nước lần lượt nổ ra trước các phong trào công nhân và cả hai đều phối hợp với nhau vì một mục đích chung
đó là giải phóng dân tộc Ở Việt Nam, xuất phát từ đặc điểm ở Việt Nam, công nhân xuất thân trực tiếp từ nông dân nên liên minh công – nông diễn ra rất tự nhiên còn đối với dân tri thức, chủ yếu là các lãnh tụ của Đảng, tiểu tư sản cũng sẵn sàng đi với công nhân Chính vì thế, sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam không thể kể đến phong trào yêu nước
Trang 10CHƯƠNG 2 NHỮNG QUAN ĐIỂM CƠ BẢN CỦA HỒ CHÍ MINH VỀ
VẤN ĐỀ ĐOÀN KẾT DÂN TỘC 2.1 Vai trò của đại đoàn kết toàn dân tộc
Hồ chí Minh luôn coi đại đoàn kết là một trong những yếu tố quan trọng nhất, có ý nghĩa sống còn, quyết định sự thành bại của cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc cũng như công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Đoàn kết dân tộc có rất nhiều nội dung phong phú, nhưng nhữn nội dung dưới đây
là những nội dung cơ bản và sâu sắc nhất trong tư tưởng Đoàn kết toàn dân tộc của Người Theo Hồ Chí Minh, trong từng giai đoạn, từng thời kỳ cách, mạng, việc điều chỉnh, thay đổi chính sách, hình thức, phương pháp tập hợp lực lượng là việc hết sức cần thiết Nhưng theo người Đoàn kết toàn dân tộc mới là vấn đề sống còn của cách mạng, không bao giờ thay đổi Hồ Chí Minh
viết: “Đoàn kết của chúng ta không những rộng rãi, mà còn đoàn kết lâu dài, đoàn kết là một chính sách dân tộc, không phải là một thủ đoạn chính trị” [3]
Đối với Người, đại đoàn kết dân tộc không chỉ là sức mạnh để chiến thắng kẻ thù xâm lược giành thống nhất, độc lập cho Tổ quốc mà còn là sức mạnh trong công cuộc xây dựng nước nhà Hồ Chí Minh đã nêu ra luận điểm khái
Trang 11quát có tính chân lý thể hiện mối quan hệ nhân quả giữa đoàn kết với sự thành công của cách mạng:
“Trong bầu trời không gì quý bằng nhân dân, trong thế giới không gì bằng mạnh lực lượng đoàn kết của nhân dân”[4]; “Một dân tộc đoàn kết chặt chẽ, đấu tranh kiên quyết, hoàn toàn có thể đánh bại mọi đế quốc xâm lược hung hãn, gian ác và có nhiều vũ khí”[5] và một trong những câu nói đúc kết về
vấn đề đoàn kết dân tộc của Hồ Chi Minh đó là:
“ Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết, thành công, thành công, đại thành công”[6]
2.1.2 Đại đoàn kết toàn dân tộc là một mục tiêu, nhiệm vụ hàng đầu của cách mạng Việt Nam
Hồ Chí Minh không chỉ xác định đại đoàn kết dân tộc là vấn đề chiến lược, có ý nghĩa quyết định thành công của cách mạng mà còn coi đại đoàn kết dân tộc là mục tiêu, nhiệm vụ hàng đầu của cách mạng Đảng là lực lượng lãnh đạo cách mạng của Việt Nam, chính vì thế đại đoàn kêt toàn dân tộc là yếu tố ưu tiên và là nhiệm vụ quan trọng nhất của Đảng và phải được quán triệt trong tất cả lĩnh vực từ đường lối, chủ trương, chính sách tới hoạt động thực tiễn của Đảng Trong lời kết thúc buổi ra mắt của Đảng lao động Việt Nam ngày 3/3/1951, Hồ Chí Minh đã thay mặt Đảng tuyên bố trước toàn thể dân tộc: Mục đích của Đảng lao động Việt Nam có thể gồm 8 chữ là: “Đoàn kết toàn dân, phụng sự Tổ quốc”[7]
Đại đoàn kết dân tộc không phải chỉ là mục tiêu, nhiệm vụ hàng đầu của Đảng mà còn là mục tiêu, nhiệm vụ và tư tưởng hàng đầu hàng đầu của cả dân tộc Là đòi hỏi khách quan của quần chúng nhân dân trong cuộc đấu tranh giải phóng bởi nếu ko đoàn kết chính họ sẽ thất bại trong cuộc đấu tranh vì lợi ích của chính mình vì sự nghiệp của chính mình Từ trong phong trào đấu tranh để tự giải phóng và xây dựng xã hội mới tốt đẹp, quần chúng đã nảy