Trong công trình nghiên cứu này, tác giả đã đề cập đến các vấn đề như: Khái niệm, bản chất quan hệ lao động, pháp luật quốc tế về quan hệ lao động; khái niệm trách nhiệm xã hội, ý nghĩa
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP HCM
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP.HCM
Xác nhận của tổ chức chủ trì Chủ nhiệm đề tài
(ký, họ tên, đóng dấu) (ký, họ tên)
TP.HCM, 6/2018
Trang 3DANH SÁCH NHỮNG THÀNH VIÊN THAM GIA NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI
VÀ ĐƠN VỊ PHỐI HỢP CHÍNH
I Danh sách những thành viên tham gia nghiên cứu đề tài
xã hội
Chủ nhiệm đề tài
- Xây dựng kế hoạch nghiên cứu, lập thuyết minh đề tài
và đề cương chi tiết;
- Liên hệ đơn vị phối hợp;
- Tìm và tập hợp tài liệu tham khảo tiếng Nga;
Thư ký đề tài
- Tìm và tập hợp tài liệu tiếng Anh;
- Xây dựng thuyết minh đề tài và đề cương chi tiết
Trang 4động, pháp luật an sinh
xã hội
- Xây dựng phiếu khảo sát;
- Xử lý số liệu điều tra, khảo sát;
xã hội
- Tìm và tập hợp tài liệu tiếng Việt;
- Xây dựng đề cương chi tiết
- Xử lý số liệu điều tra, khảo sát;
Họ và tên người đại diện đơn vị Văn phòng B Tổng
Liên đoàn Lao động
Việt Nam
Điều tra, khảo sát việc thực hiện trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp tại một số doanh nghiệp ở Tp Hồ Chí Minh, Đồng Nai, Bình Dương và Long An
Th.s Quan Gia Bình
Trang 5MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ TRÁCH NHIỆM XÃ HỘI CỦA DOANH NGHIỆP TRONG QUAN HỆ LAO ĐỘNG 15
1.1 Khái quát chung về trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp 15
1.1.1 Nguồn gốc khái niệm trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp 15
1.1.2 Sự hình thành và phát triển khái niệm trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp19 1.1.3 Bản chất trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp 27
1.1.4. Quá trình phát triển nhận thức về trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp 30 1.1.5 Lý thuyết cơ sở hình thành các quan điểm về trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp 33
1.1.6 Các khía cạnh của trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp 40
1.2 Định nghĩa và nội dung của trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp trong quan hệ lao động 48
1.2.1 Định nghĩa trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp trong quan hệ lao động 48 1.2.2 Nội dung của trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp trong quan hệ lao động50 1.3 Tác động của việc thực hiện trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp trong quan hệ lao động 52
1.3.1 Đối với doanh nghiệp 52
1.3.2 Đối với người lao động 55
1.3.3 Đối với khách hàng và cộng đồng 56
1.4 Vai trò của các chủ thể trong việc thực hiện trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp trong quan hệ lao động 57
1.4.1 Vai trò của người sử dụng lao động 57
1.4.2 Vai trò của người lao động 59
1.4.3 Vai trò của tổ chức đại diện người lao động, người sử dụng lao động 60
1.4.4 Vai trò của nhà nước và các tổ chức khác có liên quan 61
1.4.5 Vai trò của người tiêu dùng 63
1.5 Các điều kiện cơ bản để xây dựng và thực hiện hiệu quả trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp trong quan hệ lao động tại Việt Nam hiện nay 65
1.5.1 Các điều kiện bên trong doanh nghiệp 66
1.5.2 Các điều kiện bên ngoài doanh nghiệp 66
1.6 Vai trò của “luật mềm” và “luật cứng” trong việc điều chỉnh trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp trong quan hệ lao động 68
1.6.1 Khái niệm “luật cứng” và “luật mềm” 68
1.6.2 Các mô hình trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp có mối liên hệ với pháp luật 71 1.6.3 Sự kết hợp giữa “luật cứng” và “luật mềm” trong việc xây dựng và thực thi trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp 74
Kết luận Chương 1 81
CHƯƠNG 2: 82
TRÁCH NHIỆM XÃ HỘI CỦA DOANH NGHIỆP TRONG QUAN HỆ LAO ĐỘNG THEO PHÁP LUẬT QUỐC TẾ VÀ MỘT SỐ QUỐC GIA 82
2.1 Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp trong quan hệ lao động theo các văn bản quy phạm pháp luật quốc tế 82
2.1.1 Vai trò của các tổ chức quốc tế trong việc xây dựng và thúc đẩy thực hiện trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp 82
Trang 62.1.2 Quy định của Liên hiệp quốc 83
2.1.3 Quy định của Tổ chức Lao động Quốc tế 86
2.1.4 Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp trong các hiệp định thương mại mà Việt Nam đã tham gia 100
2.2 Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp trong quan hệ lao động theo pháp luật của một số quốc gia 103
2.2.1 Kinh nghiệm của Liên bang Nga 103
2.2.2 Kinh nghiệm của Trung Quốc 110
2.2.3 Kinh nghiệm của Nhật Bản 119
2.2.4 Kinh nghiệm của Malaysia, Philippines và Thái Lan 125
Kết luận chương 2 147
CHƯƠNG 3: QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ TRÁCH NHIỆM XÃ HỘI CỦA DOANH NGHIỆP TRONG QUAN HỆ LAO ĐỘNG Ở VIỆT NAM 148
3.1 Quy định pháp luật về trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp trong quan hệ pháp luật lao động cá nhân 148
3.1.1 Lao động trẻ em, chưa thành niên 148
3.1.2 Lao động cưỡng bức 152
3.1.3 Sức khỏe và an toàn lao động 157
3.1.4 Thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi 160
3.1.5 Tiền lương 161
3.1.6 Phân biệt đối xử tại nơi làm việc 163
3.1.7 Người lao động khuyết tật 173
3.2 Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp trong việc đảm bảo quyền tự do hiệp hội và đối thoại xã hội, thương lượng tập thể 174
3.2.1 Bảo đảm quyền tự do hiệp hội 175
3.2.2 Bảo đảm quyền tự do đối thoại xã hội, thương lượng tập thể 177
Kết luận chương 3 181
CHƯƠNG 4: THỰC TIỄN THỰC HIỆN TRÁCH NHIỆM XÃ HỘI CỦA DOANH NGHIỆP TẠI VIỆT NAM VÀ MỘT SỐ KIẾN NGHỊ 182
4.1 Đặc trưng của quan hệ lao động tại Việt Nam 182
4.2 Thực tiễn thực hiện trách nhiệm xã hội trong doanh nghiệp tại Việt Nam 186 4.2.1 Nhận thức của người sử dụng lao động về trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp 186
4.2.2 Lao động trẻ em, chưa thành niên 189
4.2.3 Lao động cưỡng bức 192
4.2.4 Sức khỏe và an toàn lao động 193
4.2.5 Thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi 196
4.2.6 Tiền lương 198
4.2.7 Phân biệt đối xử tại nơi làm việc 199
4.2.8 Người lao động khuyết tật 201
4.2.9 Quyền tự do hiệp hội và đối thoại xã hội, thương lượng tập thể 202
4.3 Một số kiến nghị 204
4.3.1 Lao động trẻ em và chưa thành niên 205
4.3.2 Lao động cưỡng bức 206
4.3.3 Sức khỏe, an toàn lao động 207
4.3.4 Tiền lương 208
4.3.5 Thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi 210
4.3.6 Phân biệt đối xử tại nơi làm việc 212
4.3.7 Người lao động khuyết tật 213
4.3.8 Quyền tự do hiệp hội và đối thoại xã hội, thương lượng tập thể 214
Trang 7Kết luận chương 4 219 KẾT LUẬN 220
Trang 9DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Từ viết tắt Từ được viết tắt
Agreement for Trans-Pacific Partnership
SA Social and Accountability 8000:2008
Production
Trang 10đã tham gia Hiệp định Đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương
(CPTPP) Trong quá trình hội nhập này, các doanh nghiệp chính là chủ thể chịu tác
động trực tiếp từ các quy định của quá trình cạnh tranh quốc tế trong các hiệp định song và đa phương, trong đó có yêu cầu về trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp đối với các vấn đề bảo vệ môi trường, bảo vệ người tiêu dùng, bảo vệ người lao động và những yếu tố khác của phát triển bền vững Đối với các doanh nghiệp tại những quốc gia đang phát triển như Việt Nam, trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp trong việc đảm bảo các quyền cơ bản của người lao động về an toàn, vệ sinh lao động, trả lương bình đẳng, tự do hiệp hội… thật sự là một hệ thống giám sát chất lượng sản phẩm khắt khe và đang đặt ra cho doanh nghiệp nhiều bài toán cần phải được giải quyết
Nhận thức được những khó khăn đó, Nhà nước ta đã có nhiều hành động nhằm thúc đẩy trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp như sửa đổi Bộ luật Lao động, Luật Công đoàn, Luật Bảo hiểm xã hội, ban hành Luật Việc làm, trong đó chú trọng đến trách nhiệm của người sử dụng lao động trong việc thực hiện các tiêu chuẩn lao động hay tổ chức các cuộc hội thảo, tập huấn cho doanh nghiệp… Tuy nhiên, đến nay, các quy định pháp luật vẫn chưa mang lại hiệu quả tích cực trong việc tăng cường thực hiện trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp Do đó, các doanh nghiệp vẫn chưa hiểu hết ý nghĩa, phạm vi, chuẩn mực của các hoạt động trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp Điều này đang đặt ra đòi hỏi cấp thiết là xây dựng, hoàn thiện các quy định pháp luật liên quan đến trách nhiệm xã hội một cách có hệ thống và dễ
áp dụng đối với doanh nghiệp
Trong hoạt động nghiên cứu, từ những năm 2000, đặc biệt trong năm năm trở lại đây, đã có nhiều bài viết, công trình nghiên cứu phân tích các quan niệm và nội dung trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp Một số công trình đã có cố gắng đi vào đánh giá thực tiễn thực hiện trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp tại một số doanh nghiệp của Việt Nam Tuy vậy, những bài viết, công trình nghiên cứu này chỉ mới
Trang 11tập trung nghiên cứu trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp dưới góc độ kinh tế, quản trị doanh nghiệp chứ chưa đi sâu phân tích các trách nhiệm pháp lý của doanh nghiệp như đảm bảo quyền tự do hiệp hội, an toàn vệ sinh lao động, trả lương bình đẳng, chống phân biệt đối xử, chống lao động cưỡng bức Một vài tác giả đã đưa các kiến nghị để thúc đẩy thực hiện trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp nhưng những kiến nghị này chỉ dừng lại ở tính định hướng mà chưa đưa ra giải pháp cụ thể
Trong hoạt động đào tạo pháp luật lao động, ở cấp độ cử nhân, trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp hầu như chỉ dừng lại trách nhiệm của người sử dụng lao động trong vấn đề đảm bảo việc làm cho người lao động Tương tự, ở cấp độ cao học, sinh viên cũng chưa được tiếp cận đầy đủ trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp Một trong các nguyên nhân dẫn đến thực trạng này chính là đến nay, ở các cơ sở đào tạo luật tại Việt Nam vẫn chưa có một tài liệu nào mang tính hệ thống, đầy đủ
về trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp
Trước thực trạng trong việc xây dựng chính sách, quy định pháp luật, nghiên cứu và đào tạo về trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp như trên, chúng tôi lựa chọn
đăng ký thực hiện đề tài “Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp trong quan hệ lao
động dưới góc độ pháp lý”
2 Tổng quan tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan đến đề tài
2.1 Tình hình nghiên cứu ngoài nước
- Ruth V Aguilera, Cynthia A Williams, John M Conley and Deborah E Rupp, “Corporate governance and social responsibility: a comparative analysis of the UK and the US” Các tác giả tập trung phân tích và so sánh việc quản trị doanh nghiệp và thực hiện trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp tại hai quốc gia Anh và Hoa Kỳ Trong bài viết này, các tác giả chỉ phân tích dưới góc độ kinh tế chứ không phân tích dưới góc độ pháp lý
- Mette Andersen and Tage Skjoett-Larsen, “Corporate social responsibility in global supply chains” Tương tự như bài viết “Corporate Governance and Social Responsibility: a comparative analysis of the UK and the US”, các tác giả cũng chỉ nghiên cứu trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp dưới góc độ kinh tế chứ không đi vào các vấn đề pháp lý
- Brigitte Hamm, “Corporate social responsibility in Vietnam: integration or mere adaptation?” Trong nghiên cứu của mình, tác giả đã trình bày khá chi tiết về việc thúc đẩy thực hiện trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp thông qua các cơ quan, tổ chức như Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội, Tổng Liên đoàn Lao
Trang 12động Việt Nam, Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam Tuy nhiên, tác giả không đưa ra bất kỳ kiến nghị nào để thực hiện trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp tại Việt Nam
- Erik Bergelin and Martin Wastesson, “Corporate social responsibility in Vietnam - A Study of the relation between Vietnamese suppliers and their International customers” Đây là một nghiên cứu khá chi tiết về trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp tại Việt Nam Bên cạnh những vấn đề cơ bản như lịch sử, định nghĩa về trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp, tác giả phân tích vai trò trách nhiệm
xã hội của doanh nghiệp đối với doanh nghiệp cung ứng sản phẩm và đối với các công ty đa quốc gia Đặc biệt, tác giả đã nghiên cứu, phân tích việc thực hiện trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp tại một số công ty của Việt Nam Trên cơ sở đó, tác giả đưa ra một số kiến nghị có ý nghĩa đối với Việt Nam Tuy nhiên, công trình này chưa thể hiện rõ nét trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp trong quan hệ pháp luật lao động
- Frans Pennings, Yvonne Konijn and Albertine Veldman (eds) (2008), Social responsibility in labour relations, Kluwer law international BV, The Netherlands
- Matthew J Hirschland, “Corporate Social Responsibility and the Shaping of
Global Public Policy”, Hardcover (Dec 12, 2006) Tác giả bàn về tầm quan trọng
của CSR trong công ty như: Các quy định kinh doanh toàn cầu mới – sự hiểu biết của công ty về trách nhiệm xã hội doanh nghiệp và CSR thực hành đáp ứng lý thuyết – quản trị toàn cầu và mạng lưới chính sách công cộng toàn cầu
- Oyvind Ihlen, Betteke Van Ruler, Magnus Fredriksson, “Public Relations
and Social Theory: Key Figures and Concepts” (Routledge Communication Series)
Tác giả bàn về vấn đề: Quan hệ công chúng và lý thuyết xã hội nới rộng phạm vi lý thuyết của quan hệ công chúng Từ đó tập trung vào khái niệm như niềm tin, tính hợp pháp, sự hiểu biết, và phản xạ, cũng như về các vấn đề về hành vi, năng lượng,
và ngôn ngữ
- Muhammad Yunus, “Building Social Business: The New Kind of Capitalism
That Serves Humanity’s Most Pressing Needs” Tác giả muốn giúp các doanh
nghiệp thấy được vai trò của hoạt động kinh doanh Qua những gương điển hình mà các doanh nghiệp quan tâm nhiều hơn tới vấn đề trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp
Ở Liên bang Nga, vấn đề trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp được nhiều nhà khoa học về kinh tế và pháp luật luật tìm hiểu và nghiên cứu sâu sắc, bởi lẽ vấn đề này là thực sự quan trọng cho các doanh nghiệp, người lao động, nói riêng, cho nền kinh tế đất nước, xã hội, nói chung, nhất là trong giai đoạn chuyển đổi sang nền
Trang 13kinh tế thị trường Chính vì vậy, có rất nhiều công trình khoa học về đề tài này được công bố Trong quá trình thực hiện đề tài, Chủ nhiệm đề tài và nhóm nghiên cứu sẽ
cố gắng để có được những công trình khác có liên quan về trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp, được công bố bằng tiếng Nga để bổ sung nhằm làm cho công trình có giá trị cao hơn Trước mắt, nhóm nghiên cứu tham khảo một số công trình tiêu biểu được liệt kê dưới đây
- Н.А.Кричевский và С.Ф.Гончаров Корпоративная Социальная Ответственность M 2006 Trong công trình nghiên cứu này, tác giả đã đề cập đến các vấn đề như: Khái niệm, bản chất quan hệ lao động, pháp luật quốc tế về quan hệ lao động; khái niệm trách nhiệm xã hội, ý nghĩa của việc thực hiện trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp; quan niệm về trách nhiệm xã hội ở các nước ngoài (Châu Âu, Mỹ); và kinh nghiệm về việc thực hiện trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp ở Nga
- Социальная ответственность бизнеса в россии и за рубежом - Учебное пособие Kazan 2008 Tác giả đã đi sâu phân tích về: Những vấn đề lý luận về việc hình thành hệ thống trách nhiệm xã hội trong điều kiện kinh tế thị trường ở Nga; khái niệm về trách nhiệm xã hội trong kinh doanh, chương trình xã hội của các doanh nghiệp; bản chất, những tiêu chí cơ bản của trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp; kinh nghiệm của một số nước về trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp; lợi ích của doanh nghiệp trong việc thực hiện trách nhiệm xã hội; đánh giá thực trạng vấn đề trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp ở Nga, nguyên nhân của thực trạng; và kinh nghiệm nước ngoài trong việc thực hiện chính sách trách nhiệm xã hội
- Kinh tế thị trường xã hội ở Nga: Định hướng phát triển- Moskovtsev V.V
Trong bài viết của mình, tác giả đã đi vào phân tích: Đặc điểm nền kinh tế thị trường ở Nga; nguyên tắc về chính sách xã hội ở Nga; kinh nghiệm nước ngoài về thị trường xã hội; và yêu cầu và tăng cường trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp ở Nga
- Бизнес как субъект социальной политики: должник, благодетель, партнер? / А Е Чирикова, Н Ю Лапина, Л С Шилова, С В Шишкин (отв ред.) Независимый институт социальной политики М.: ГУ – ВШЭ, 2005 Thông qua công trình này, tác giả đã làm rõ các vấn đề: Yêu cầu về việc thực hiện trách nhiệm xã hội đối với doanh nghiệp ở các nước phát triển; quá trình hình thành
và phát triển vấn đề trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp; và những khó khăn, tồn tại trong việc thực hiện trách nhiệm xã hội ở Nga
ответственность как фактор устойчивого развития бизнеса Trong công trình nghiên cứu này, tác giả đã đi vào phân tích các: WTO và vấn đề trách nhiệm xã hội
Trang 14của doanh nghiệp; những hình thức biểu hiện trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp,
so sánh số liệu ở một số tập đoàn lớn như của Nga (Lukoil), Mỹ (Boeing); và ý nghĩa của trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp trong việc ổn định và phát triển doanh nghiệp
- Правосубъектность работодателя Тимохин В.В (Luận án Tiến sĩ 2003) Mục tiêu của công trình là phân tích năng lực chủ thể của người sử dụng lao động,
sự biểu hiện của khả năng đó trong điều kiện nền kinh tế thị trường, đưa ra một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật lao động Từ đó, tác giả công trình đã đặt ra và giải quyết được những vấn đề sau: Làm rõ khái niệm người sử dụng lao động, nội dung của năng lực chủ thể, những dấu hiệu đặc trưng của người sử dụng lao động từ góc độ pháp luật lao động, vai trò của người sử dụng lao động trong việc thực hiện trách nhiệm xã hội nhằm hài hòa quan hệ lao động, phát triển sản xuất kinh doanh cho bản thân doanh ngiệp và nền kinh tế, nói chung; và đưa ra một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật lao động
- Социальная ответственность в системе регулирования трудовых отношений (Luận án Tiến sĩ khoa học) Trong luận án này, tác giả đã nghiên cứu các vấn đề: Ý nghĩa của việc hài hòa quan hệ lao động đối với sự phát triển kinh tế đất nước; đặc điểm của trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp; ý nghĩa của việc thực hiện trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp trong việc ổn định sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, cho đời sống của người lao động xã hội và kinh tế đất nước
социально Социальная ответственность работодателей и ее современная роль в
формировании социальной политики в россии - 2013 (Luận án TSKH Чубарова Татьяна Владимировна) Bên cạnh những vấn đề lý luận, tác giả đã đánh giá quy định pháp luật của Liên bang Nga về trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp, bao gồm: Cơ sở lý luận và thực tiễn trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp; những quan điểm khác nhau về trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp trong khoa học và thực tiễn; động lực và giới hạn trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường; điều chỉnh pháp luật vấn đề trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp ở Liên bang Nga; trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp trong lĩnh vực đảm bảo sức khỏe của người lao động trong và sau khi chấm dứt quan hệ lao động với doanh nghiệp
- Нуртдинова А.Ф Социальная ответственность бизнеса: правовые аспекты экономической концепции // Журнал российского права 2015 N 1 Trong bài viết này, tác giả đã phân tích: Các trường phái về trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp và những yếu tố cấu thành trách nhiệm xã hội; những biểu hiện của trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp: tiền lương, đời sống tinh thần, môi trường
Trang 15làm việc, bảo đảm sức khỏe, nhà ở, chế độ hưu trí cho người lao động; đưa ra những nguyên tắc của trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp (khá tốt) như tôn trọng pháp luật quốc gia, pháp luật quốc tế; tự điều tiết lợi nhuận, không lạm dụng quyền, đạo đức kinh doanh,
• Những kết quả đạt được:
Nhìn chung, các công trình nghiên cứu tại Liên bang Nga vừa đề cập trên đã nêu ra và giải quyết ở mức độ khá sâu hoặc gợi ý để nghiên cứu tiếp về những vấn
đề sau:
- Khái niệm, bản chất quan hệ lao động;
- Pháp luật quốc tế về quan hệ lao động;
- WTO và vấn đề trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp;
- Khái niệm, ý nghĩa của việc thực hiện trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp;
- Quan niệm về trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp ở các nước ngoài (Châu
Âu, Mỹ,…);
- Những quan điểm khác nhau về trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp trong khoa học và thực tiễn ở Nga và một số nước và những yếu tố cấu thành trách nhiệm xã hội;
- Những hình thức biểu hiện trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp, so sánh số liệu ở một số tập đoàn lớn như: của Nga (Lukoil), Mỹ (Boeing);
- Những nguyên tắc của trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp như: tôn trọng pháp luật quốc gia, pháp luật quốc tế; tự điều tiết lợi nhuận, không lạm dụng quyền, đạo đức kinh doanh,
- Những biểu hiện của trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp trong các lĩnh vực: tiền lương, đời sống tinh thần, môi trường làm việc, bảo đảm sức khỏe, nhà ở, chế độ hưu trí cho người lao động;
- Những vấn đề lý luận về việc hình thành hệ thống trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp trong điều kiện kinh tế thị trường ở Nga; Quá trình hình thành
và phát triển vấn đề trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp;
- Đặc điểm nền kinh tế thị trường ở Nga; Nguyên tắc về chính sách xã hội ở Nga; Yêu cầu và tăng cường trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp ở Nga;
- Kinh nghiệm về việc thực hiện trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp ở Nga (Đánh giá thực trạng vấn đề trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp ở Nga, nguyên nhân của thực trạng; Lợi ích của doanh nghiệp trong việc thực hiện trách nhiệm xã hội, Những khó khăn, tồn tại trong việc thực hiện trách nhiệm
xã hội ở Nga;
Trang 16- Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp trong lĩnh vực đảm bảo sức khỏe của người lao động trong và sau khi chấm dứt quan hệ lao động với doanh nghiệp
• Những hạn chế của các công trình nêu trên:
Những biểu hiện của trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp trong các lĩnh vực: tiền lương, chế độ hưu trí, điều kiện làm việc, quyền tự do hiệp hội và thương lượng tập thể,… cho người lao động chưa được nêu và phân tích đúng mực Thiết nghĩ, đó chính là những lĩnh vực quan trọng nhằm thể hiện trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp, làm cơ sở cho việc xây dựng pháp luật lao động, hoàn thiện pháp luật ở một
số lĩnh vực khác, làm động lực cho việc thực hiện trách nhiệm xã hội ở các doanh nghiệp tại nước ta
Việt Nam và Liên bang Nga là hai quốc gia có rất khá nhiều nét tương đồng về lịch sử, chính trị và kinh tế Nước Nga trước đây cùng với Việt Nam nằm trong hệ thống các nước xã hội chủ nghĩa, với đặc thù là nền kinh tế tập trung, bao cấp; tất nhiên, pháp luật cũng được xây dựng trên cơ sở nền kinh tế đó Trong những năm gần đây, Liên bang Nga và Việt Nam đều tiến hành cải cách sâu rộng về kinh tế, chuyển nền kinh tế đất nước sang nền kinh tế thị trường với những đặc điểm khác nhiều so với nền kinh tế tập trung trước đây Từ đó, pháp luật của cả hai quốc gia đều phải thay đổi Trong quá trình chuyển đổi đó, cả hai quốc gia đều có những thuận lợi và gặp phải những khó khăn gần như giống nhau Chính vì vậy, kinh nghiệm của nước Nga trong việc điều chỉnh pháp luật đối với các quan hệ xã hội, trong đó, có quan hệ lao động, quan hệ kinh tế thực sự đáng để Việt Nam phải học
tập và rút kinh nghiệm
2.2 Tình hình nghiên cứu trong nước
Tại Việt Nam, có thể kể đến một số sách, bài báo tiêu biểu nghiên cứu về CSR như:
- Trần Thị Tuyết (2013), “Thực hiện trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp ở Việt Nam hiện nay”, Viện Triết học, Số 5 Trong bài viết này, trên cơ sở khẳng định thực thi trách nhiệm xã hội là nền tảng phát triển bền vững của quốc gia nói chung
và từng doanh nghiệp nói riêng, tác giả đã luận chứng nhằm làm rõ hơn hiện trạng thực hiện trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp tại Việt Nam hiện nay, trong đó nhấn mạnh sự cần thiết của việc phối hợp, tham gia giữa doanh nghiệp với các bên liên quan (chính phủ, người tiêu dùng, người lao động và công đoàn, nhà đầu tư) trong thực hiện trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp Theo tác giả, để có thể thực hiện tốt hơn trách nhiệm xã hội của doang nghiệp, chính phủ cần tạo cơ chế xã hội
đủ mạnh để giám sát và thúc đẩy các doanh nghiệp thực hiện tốt trách nhiệm xã hội;
Trang 17người tiêu dùng, người lao động, công đoàn, tổ chức đầu tư phải có trách nhiệm bảo
vệ mình, bảo vệ cộng đồng, đảm bảo nguyên tắc cân bằng lợi ích giữa các bên liên quan và doanh nghiệp
- Phạm Văn Đức, “Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp ở Việt Nam: Một số vấn đề lý luận và thực tiễn cấp bách” Trong bài viết này, tác giả trình bày một số
cơ sở lý luận và vai trò của trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp, đồng thời cũng đưa ra một vài đánh giá về thực tiễn của vấn đề này tại Việt Nam Mặc dù tác giả có đưa ra giải pháp để nâng cao việc thực hiện trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp nhưng các giải pháp trong bài viết này chỉ mới dừng lại ở sự gợi mở vấn đề chứ chưa thật sự cụ thể
- Nguyễn Phương Mai (2013), “Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp trong ngành dệt may Việt Nam: Trường hợp Công ty Cổ phần May Đáp Cầu”, Tạp chí Khoa học Đại học Quốc gia Hà Nội, Kinh tế và Kinh doanh, Tập 29, Số 1 Bài viết này trình bày kết quả nghiên cứu thực tiễn thực thi trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp tại Công ty Cổ phần May Đáp Cầu (DAGARCO), từ đó đưa ra một số đề xuất góp phần thúc đẩy việc thực hiện các hoạt động trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp một cách cơ bản và bền vững Điểm hạn chế của bài viết này chính là tác giả mới chỉ nghiên cứu tại một doanh nghiệp chứ không tiến hành nghiên cứu trên nhiều doanh nghiệp để có cái nhìn tổng thể hơn
- Nguyễn Đức Minh (2010), “Trách nhiệm của doanh nghiệp đối với quyền con người”, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, Viện Nhà nước và Pháp luật, Số 2 Trong bài viết này, tác giả giải quyết các câu hỏi: Nhà nước hay doanh nghiệp có trách nhiệm đối với quyền con người?; Tại sao đòi hỏi doanh nghiệp có trách nhiệm đối với quyền con người? Trách nhiệm của doanh nghiệp đối với quyền con người theo các quy định quốc tế?; Trách nhiệm của doanh nghiệp đối với quyền con người
ở Việt Nam? Tác giả đã có đưa ra một số kiến nghị nhưng những kiến nghị này chỉ mang tính chất định hướng, chưa có giải pháp cụ thể
- Nguyễn Như Phát (2013), “Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp: Một số vấn đề lý luận”, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, Số 7 Trong bài viết này, tác giả chủ yếu tập trung vào hai vấn đề cơ bản, đó là: Nguồn gốc trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp và khái niệm, nội dung của trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp
- Chu Đức Nhuận (2011), “Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp đối với người tiêu dùng và môi trường ở nước ta hiện nay”, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật,
Số 8 Bài viết này của tác giả chủ yếu đi sâu phân tích quan niệm về trách nhiệm xã họi của doanh nghiệp Ngoài ra, tác giả cũng mới chỉ giới thiệu sơ lược một số nội
Trang 18dung về trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp đối với người tiêu dùng và đối với môi trường
- Phạm Thị Thúy Ngà (2012), “Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp trong việc đảm bảo an toàn lao động”, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, số 12 Với bài viết này, tác giả làm rõ ba vấn đề: Quyền được làm việc trong điều kiện an toàn lao động là một quyền con người; mối quan hệ giữa trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp với an toàn lao động; và thực trạng thực hiện trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp trong bảo đảm an toàn lao động ở Việt Nam Trong phần kết luận, tác giả cũng đã cố gắng đưa ra một vài kiến nghị nhưng tất cả cũng chỉ mang tính định hướng
- Viên Thế Giang (2013), “Trách nhiệm xã hội của ngân hàng thương mại - giải pháp chống cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực ngân hàng”, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, Số 24 Một số vấn đề đã được tác giả phân tích trong bài viết
đó là: Mối quan hệ giữa trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp với việc chống cạnh tranh không lành mạnh; trách nhiệm xã hội của ngân hàng thương mại – giải pháp chống cạnh tranh không lành mạnh trong hoạt động ngân hàng Tuy vậy, đối tượng nghiên cứu của tác giả trong bài viết này chỉ giới hạn trong các ngân hàng
- Nguyễn Mạnh Quân (2004), Đạo đức kinh doanh và văn hoá doanh nghiệp, NXB Lao động Xã hôi Đạo đức kinh doanh và văn hóa doanh nghiệp là tài sản quý giá góp phần quan trọng quyết định sự thành bại của mỗi doanh nghiệp Đó là một
hệ thống các giá trị, chuẩn mực, phương pháp tư duy ảnh hưởng rất lớn tới hành động của các thành viên trong doanh nghiệp
- Lê Thanh Hà (2006), “Trách nhiệm xã hội doanh nghiệp trong vấn đề tiền
lương”, Báo Lao động xã hội, số 290 Tác giả muốn đề cập tới vai trò của tiền
lương như: các mức lương vừa thể hiện vị trí, công việc vừa thể hiện sự chia sẻ lợi ích giữa các tổ chức, các doanh nghiệp và người lao động vừa thể hiện sự phát triển nghề nghiệp của mỗi cá nhân người lao động
- Hoàng Long (2007), “Trách nhiệm xã hội doanh nghiệp – Động lực cho sự
phát triển”, Báo Thương Mại, số 26 Tác giả chứng minh tầm quan trọng của CSR
trong doanh nghiệp tới sự phát triển xã hội: chú ý phát triển cơ sở hạ tầng cứng và mềm, giao thông vận tải, nhất là các hành lang kinh tế, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, các ngành dịch vụ then chốt như tài chính – ngân hàng, viễn thông, các nguồn năng lượng mới và tái tạo được
- Hồng Minh (2007), “Trách nhiệm xã hội và đạo đức doanh nghiệp”, Báo
Văn hoá và đời sống xã hội, số 2 Đạo đức và trách nhiệm xã hội rõ ràng là những vấn đề không thể thiếu trong kinh doanh Thật khó mà thuyết phục doanh nghiệp
Trang 19thực hiện tốt các vấn đề đạo đức và trách nhiệm bằng những luận cứ dựa trên lợi ích kinh tế trước mắt
- Nguyễn Văn Thức (2008), “Vai trò của Nhà nước và vấn đề trách nhiệm xã hội”, Tạp chí Triết học, Số 6 Bài viết góp phần làm rõ thêm những nội dung cơ bản của khái niệm trách nhiệm xã hội và vai trò của nhà nước trong việc tổ chức và thực thi trách nhiệm xã hội Theo tác giả, vai trò đó của Nhà nước thể hiện tập trung ở những điểm: Xây dựng môi trường pháp lý thuận lợi cho các hoạt động của đời sống xã hội; Xây dựng và đảm bảo thực hiện các chính sách xã hội; Quản lý và điều hành nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; Đảm bảo cung cấp các dịch vụ công cho xã hội; Thực hiện phân phối các nguồn lực và lợi ích một cách công bằng; Đại diện cho quốc gia tham gia tích cực vào các hoạt động chung của khu vực và thế giới
- Đỗ Văn Quân, Nguyễn Thị Dung (2010), “Vai trò của doanh nghiệp trong việc thực hiện an sinh xã hội ở Việt Nam”, Tạp chí Bảo hiểm xã hội điện tử Trong bài viết này, các tác giả cho rằng, trách nhiệm của doanh nghiệp với người lao động
và trách nhiệm chung với cộng đồng chính là trách nhiệm thực hiện an sinh xã hội của doanh nghiệp Các tác giả chủ yếu tập trung phân tích bốn vai trò của trách nhiệm xã hội doanh nghiệp đó là: Thực hiện an sinh xã hội không chỉ là nghĩa vụ
mà còn là quyền lợi để đảm bảo cho chính doanh nghiệp phát triển; Tăng cường vai trò thực hiện an sinh xã hội của doanh nghiệp là sự kế thừa và khắc phục những hạn chế của hình thức thực hiện an sinh xã hội truyền thống – phi chính thức; Tăng cường vai trò thực hiện an sinh của doanh nghiệp là tất yếu, góp phần quan trọng trong việc chia sẻ với chủ thể Nhà nước trong bối cảnh hiện nay; Doanh nghiệp thực hiện tốt an sinh xã hội là một giải pháp hữu hiệu để giảm tình trạng đình công của người lao động ở Việt Nam hiện nay Như vậy, có thể nhận thấy, công trình nghiên cứu này chưa đi vào phân tích những vấn đề cơ bản khác như nội dung trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp trong hệ thống pháp luật an sinh xã hội
- Lê Đăng Doanh (2009), “Một số vấn đề về trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp”, Tạp chí Triết học, số 3 Trong bài viết này, sau khi nói về trách nhiệm xã hội trong điều kiện kinh tế thị trường và trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp, tác giả tập trung luận giải vấn đề xây dựng xã hội dân sự và trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp ở Việt Nam trong bối cảnh phát triển kinh tế thị trường Theo tác giả trách nhiệm xã hội ở Việt Nam đã được nhận thức và bước đầu được thực hiện và
đó chính là cơ sở để chúng ta tin rằng, cùng với quá trình phát triển đất nước, trách nhiệm đó sẽ được đề cao cùng với sự hoàn thiện của khung pháp luật, bộ máy nhà nước, thể chế kinh tế thị trường và các thể chế của xã hội dân sự
Trang 20- Dietmar Mieth (2009) (Cao Thu Hằng dịch), “Trách nhiệm xã hội – nhiệm
vụ của khu vực kinh doanh, chính trị và xã hội dân sự”, Tạp chí Triết học, Số 3(214) Bài viết đề cập ba vấn đề sau: Đạo đức học kinh tế như là một sự kết hợp giữa luật lệ bên ngoài và chiến lược bên trong; Cộng đồng các quyền; và Nguyên tắc liên đới trong cơ cấu xã hội của một xã hội dân sự Theo tác giả, một nền kinh tế thị trường xã hội chỉ là hiện thực khi chính trị có được sự ưu tiên hàng đầu so với kinh tế, khi chính trị có trách nhiệm với “lợi ích chung” (công ích) và cùng với đó là việc thường xuyên kiến tạo xã hội Khi phân tích cộng đồng các quyền, tác giả đã
có những sự so sánh với Học thuyết xã hội Công giáo Dẫn Học thuyết xã hội Công giáo, tác giả cho rằng, chỉ có sự công bằng và tình liên đới mới đảm bảo lâu dài cho
sự bền vững của nền kinh tế thị trường tự do và từ đó, tác giả bàn về nguyên tắc bổ trợ Theo đó, sự bổ trợ có thể được xem như một chuẩn mực mang tính chiến lược bên trong của việc hiện thực hoá tình liên đới
Ngoài ra, một số bài viết khác về trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp của đã được công bố trong thời gian qua như: Gerd Mutz (2009), “Trách nhiệm doanh nghiệp ở Việt Nam sự thách thức đối với doanh nghiệp, chính phủ và xã hội
dân sự”, Tạp chí Triết học, số 2 (213); Lại Văn Tài, Lê Thị Thanh Xuân và Trương
Thị Lan Anh (2013), “Applying Carroll’s CSR pyramid in studying employees’ perceptions of corporate social responsibility, Tạp chí Phát triển KH & CN, Tập 16,
Số Q2; Vũ Thị Thu Hằng, “Vai trò của xã hội dân sự đối với việc thực hiện trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp” ; Phạm Thị Huyền Sang, “Mối liên hệ giữa quản trị công ty và trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp”; Phạm Thị Huyền Sang, “Trách
nhiệm xã hội của doanh nghiệp đối với việc bảo vệ quyền của người lao động”
3 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
Trên cơ sở phân tích một số vấn đề lý luận và quy định pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam, đồng thời phân tích kinh nghiệm của một số quốc gia, đề tài
hướng đến các mục tiêu:
Làm rõ một số vấn đề lý luận cơ bản về trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp trong quan hệ lao động, bao gồm: Khái niệm, nội dung, vai trò của trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp trong quan hệ lao động; Vai trò của các chủ thể trong việc thực hiện trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp trong quan hệ lao động; những điều kiện cần thiết để đảm bảo thực hiện trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp trong quan hệ lao động tại Việt Nam có hiệu quả;
Làm rõ nội dung trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp khi vận dụng trong điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội của Việt Nam Trên cơ sở đó, đề tài phân tích những
Trang 21khó khăn đối với doanh nghiệp Việt Nam khi áp dụng trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp;
Phân tích, đánh giá các quy định của pháp luật quốc tế và một số quốc gia liên quan đến trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp trong quan hệ lao động và chỉ ra kinh nghiệm đối với Việt Nam;
Phân tích, đánh giá thực trạng thực hiện và quy định hiện hành của pháp luật Việt Nam về trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp trong quan hệ lao động, đồng thời có sự so sánh với các quy định của pháp luật quốc tế và một số quốc gia, từ đó rút ra bài học kinh nghiệm cho Việt Nam;
Đề xuất giải pháp đối với việc xây dựng và thực thi các quy định pháp luật về trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp thông qua các báo cáo khoa học hoặc bản kiến
nghị khi cơ quan nhà nước có yêu cầu
4 Phạm vi và đối tượng nghiên cứu của đề tài
4.1 Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi về nội dung, đề tài chỉ tập trung nghiên cứu trách nhiệm xã hội của
doanh nghiệp ở nội dung trách nhiệm pháp lý trong quan hệ lao động mà không đi vào phân tích trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp về kinh tế, môi trường, đầu tư hay đối với người tiêu dùng…
Phạm vi về thời gian, đề tài khảo sát thực trạng thực hiện trách nhiệm xã hội
của doanh nghiệp từ khi từ khi Việt Nam chuyển đổi từ nền kinh tế tập trung bao cấp sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa đến nay, đặc biệt là giai đoạn từ khi Việt Nam gia nhập WTO đến nay
Phạm vi về không gian, đề tài khảo sát thực trạng thực hiện trách nhiệm xã hội
của doanh nghiệp tại một số tỉnh thuộc khu vực Đông Nam bộ của Việt Nam bởi đây là khu vực có quan hệ lao động phát triển mạnh và thuận lợi cho việc khảo sát, điều tra của các thành viên Một số địa phương được chọn nghiên cứu bao gồm: Tp
Hồ Chí Minh, Bình Dương, Đồng Nai, Long An Nhóm tác giả khảo sát doanh nghiệp chủ yếu trong ngành dệt may, da dày và chế biến hải sản, không bao gồm các doanh nghiệp nhỏ và doanh nghiệp do nhà nước làm chủ sở hữu
Đối với việc phân tích, đánh giá quy định, thực tiễn thực hiện trách nhiệm xã hội của một số quốc gia trên thế giới, đề tài lựa chọn hai nhóm quốc gia: những quốc gia có nền kinh tế phát triển, bao gồm: Hoa Kỳ, Liên bang Nga, Châu Âu, Nhật Bản; và những quốc gia có nền kinh tế đang phát triển như Malaysia, Philippines và Thái Lan
Trang 224.2 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài bao gồm:
- Những vấn đề lý luận cơ bản liên quan đến trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp trong quan hệ lao động Những vấn đề này được xác định cụ thể trong nhiệm vụ của đề tài
- Các quy định pháp luật về trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp, cụ thể bao gồm: Các công ước, khuyến nghị và những văn kiện khác của Tổ chức Lao động Quốc tế; Các hiệp định thương mại mà Việt Nam đã tham gia; Các quy định pháp luật của một số quốc gia được lựa chọn gồm Hoa Kỳ, Châu Âu, Nhật Bản, Liên Bang Nga, Thái Lan, Malaysia, và Philippines; Các quy định pháp luật của Việt Nam từ khi Việt Nam chuyển đổi từ nền kinh tế tập trung bao cấp sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa đến nay
- Thực tiễn thực hiện trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp tại Tp Hồ Chí Minh, Đồng Nai, Bình Dương và Long An
- Doanh nghiệp được lựa chọn nghiên cứu là các doanh nghiệp chủ yếu trong ngành dệt may, da dày và chế biến hải sản, không bao gồm các doanh nghiệp
nhỏ và doanh nghiệp do nhà nước làm chủ sở hữu
5 Cách tiếp cận và phương pháp nghiên cứu
5.1 Cách tiếp cận
Đề tài được tiến hành theo cách tiếp cận từ lý thuyết đến thực tiễn và cuối cùng là đưa ra giải pháp, kiến nghị cụ thể Nhóm tác giả sẽ phân tích, làm rõ những vấn đề lý luận cơ bản về trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp trong quan hệ lao động dưới góc độ pháp lý Điều này sẽ giúp cho nhóm tác giả có cơ sở lý luận chặt chẽ, đầy đủ để tiếp tục giải quyết những vấn đề trong các chương tiếp theo
Sau khi nhận thức rõ lý luận về trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp nói chung và trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp trong quan hệ lao động dưới góc nhìn pháp lý nói riêng, nhóm tác giả sẽ tiến hành khảo sát, điều tra việc thực hiện trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp trong quan hệ lao động tại một số địa phương như Tp Hồ Chí Minh, Bình Dương, Đồng Nai và Long An Kết hợp kiến thức về lý luận và thực tiễn, nhóm tác giả sẽ đưa ra những đánh giá, nhận định làm cơ sở cho những kiến nghị cụ thể sau này
Giải pháp, kiến nghị cụ thể là kết quả của những phân tích, đánh giá những vấn đề lý luận, thực tiễn trong và ngoài nước, những bất cập trong hệ thống quy định pháp luật lao động Việt Nam
Trang 235.2 Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình thực hiện, đề tài đã sử dụng phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử chủ nghĩa Mác - Lê Nin làm cơ sở phương pháp luận chung, xem xét các sự kiện xã hội, hiện tượng xã hội trên quan điểm toàn diện, lịch
sử, cụ thể và phát triển
Ngoài ra, đề tài còn sử dụng một số phương pháp nghiên cứu cụ thể như: Phương pháp phân tích, phương pháp tổng hợp, phương pháp so sánh, phương pháp chuyên gia, phương pháp khảo sát
- Phương pháp phân tích và phương pháp tổng hợp: Hai phương pháp này được sử dụng xuyên suốt trong đề tài Đặc biệt, hai phương pháp này được
sử dụng trong việc phân tích và hệ thống hóa hệ thống pháp luật lao động Việt Nam, quy định pháp luật quốc tế và của một số quốc gia trên thế giới về trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp trong quan hệ lao động
- Phương pháp so sánh: Phương pháp này sẽ được sử dụng trong việc so sánh quy định pháp luật lao động Việt Nam với quy định pháp luật của một số quốc gia trên thế giới và của Tổ chức Lao động quốc tế Đồng thời, việc so sánh giữa quy định pháp luật với thực tiễn áp dụng cũng được tiến hành dựa vào phương pháp này
- Phương pháp chuyên gia: Thông qua hội thảo, tọa đàm, phiếu khảo sát nhằm khảo sát ý kiến của các chuyên gia về vấn đề đang nghiên cứu
- Phương pháp khảo sát: Phương pháp này được sử dụng để tiến hành khảo sát thực trạng thực hiện trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp trong quan hệ lao động tại một số địa phương được lựa chọn
Trang 24CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ TRÁCH NHIỆM XÃ HỘI CỦA DOANH
NGHIỆP TRONG QUAN HỆ LAO ĐỘNG
Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp (Corporate social responsibility-CSR)
(sau đây gọi tắt là “TNXHDN”) là khái niệm đa diện Dưới khía cạnh học thuật, tồn
tại những khác biệt cơ bản trong nội hàm của khái niệm cũng như cách tiếp cận khái niệm Do vậy, nghiên cứu, luận giải nguồn gốc kinh tế - xã hội - lịch sử của khái niệm và đặt chúng trong các hệ quy chiếu khác nhau, góc độ tiếp cận khác nhau để làm rõ bản chất của TNXHDN
Trong điều kiện kinh tế thị trường, các chuẩn mực đạo đức kinh doanh luôn song hành bên cạnh công cụ pháp luật, công cụ kinh tế Mặc dù thuộc tính, bản chất, quy trình sử dụng và hiệu quả có thể khác nhau nhưng tất cả chúng (các công
cụ nói trên) đều hướng đến mục tiêu cuối cùng là thúc đẩy và ràng buộc các doanh nhân và doanh nghiệp (sau đây gọi tắt là “DN”) hành động có trách nhiệm với xã hội, cộng đồng, NLĐ (sau đây gọi tắt là “NLĐ”) và môi trường Biểu hiện cụ thể nhất của đạo đức kinh doanh là TNXHDN
Trong thực tiễn kinh doanh ở Việt Nam, TNXHDN còn xa lạ trong nhận thức
và cả hành động của một bộ phận doanh nhân Tại một số DN có triển khai, áp dụng TNXHDN nhưng tính hiệu quả chưa cao, chưa đồng bộ và bền vững
Nhiều câu hỏi không chỉ giới doanh nhân mà cả những nhà nghiên cứu quan tâm nhưng chưa được trả lời thỏa đáng, như: Sự khác biệt giữa pháp luật và TNXHDN; mối tương quan giữa lợi ích kinh tế, năng lực cạnh tranh của DN và TNXHDN; TNXHDN hiệu quả trong phạm nội bộ DN, quốc gia hay toàn cầu…
Do vậy, nghiên cứu TNXHDN dưới khía cạnh kinh tế, khía cạnh thị trường, xã hội học và pháp luật có thể mang lại câu trả lời cho doanh nhân khi thực thi TNXHDN
1.1 Khái quát chung về trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp
1.1.1 Nguồn gốc khái niệm trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp
Chủ đề về TNXHDN được đặt ra và thảo luận một cách nghiêm túc chỉ bắt đầu trong thập kỷ cuối cùng của thế kỷ trước Tuy nhiên, trước đó, khái niệm này xuất hiện rải rác trong các nghiên cứu kinh tế, quản trị kinh doanh và trong thực tiễn
Cuối thế kỷ XIX, với sự bùng nổ của các cuộc cách mạng công nghiệp, phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa đã phát triển mạnh mẽ gắn liền với sự ra đời
và lớn mạnh của nền công nghiệp lớn Các công ty độc quyền khống chế giá của hầu hết tất cả các hàng hoá và dịch vụ xã hội quan trọng
Trang 25Trong các tác phẩm của C Mac1, Saint Simon, Charles Fourier, Robert Owen2 các nhà tư bản được mô tả là một kẻ bóc lột tàn bạo, mù quáng, mất nhân tính, vô văn hóa nhằm tối đa hóa lợi nhuận ngắn hạn Để cải thiện hình ảnh của mình các nhà tư bản khởi động các hoạt động mang tính nhân đạo, từ thiện
Từ giữa thế kỷ XIX, thuật ngữ “trách nhiệm” bắt đầu xuất hiện phổ biến bởi các nhà nghiên cứu tôn giáo, trong đó đề cập đến chủ đề “trách nhiệm Kitô giáo” của doanh nhân Cần nhấn mạnh rằng thuật ngữ này đặt trong mối tương quan trực tiếp với một chủ thể đặt biệt là nhà quản trị
Trong những nghiên cứu tiếp theo, các nhà triết học tôn giáo đã mở rộng khái niệm “trách nhiệm” tương ứng với các thay đổi điều kiện kinh tế, lịch sử Trong các
liệu một người điều hành một DN với kỹ thuật công nghệ phức tạp liệu anh ta có điều kiện thể hiện TNXH của mình không? Martin Buber trả lời nhất quán rằng hoàn toàn có thể Martin Buber lập luận rằng nếu anh ta nhìn DN mà anh ta đang quản lý không là một tập hợp máy móc, thiết bị mà là một tập hợp những con người, đối xử với những con người cụ thể là cảm nhận được sự phản hồi tương tự
Tổng công ty Thép Hoa Kỳ Ông được biết đến như một người hào phóng trong các
dự án công cộng Trong sách “Phúc âm của sự thịnh vượng” (The Gospel of
Wealth), xuất bản năm 1889 tại Mỹ, lần đầu tiên A Carnegie đã xây dựng thuật ngữ
“trách nhiệm xã hội” (sau đây gọi tắt là “TNXH”) và những nguyên tắc “cần thiết
để tư bản chủ nghĩa tự tôn trọng” Theo ông, những người giàu có nên trợ cấp cho người nghèo thông qua các tổ chức từ thiện
1 Nguyễn Minh Khải, Bùi Ngọc Quỵnh (đồng chủ biên) (2013), Tìm hiểu tác phẩm Tư Bản của C Mác, Nhà
xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội
2 Frederick Engels, Socialism: Utopian and Scientific,
https://www.marxists.org/archive/marx/works/1880/soc-utop/ch01.htm Xem thêm: Học thuyết kinh tế Chủ nghĩa Xã hội không tưởng thế kỷ XIX, https://voer.edu.vn/m/hoc-thuyet-kinh-te-cnxh-khong-tuong-the-ky- xix/10a68b15
3 Martin Buber (1878-1965) - Nhà triết học hiện sinh người Do Thái, nhà lý luận Chủ nghĩa phục quốc Do Thái Ông là một giáo sư tại Đại học Hebrew cho tới năm 1951, Chủ tịch đầu tiên của Viện khoa học hàn lâm Israel năm giai đoạn 1960-1962 http://hpsy.ru/authors/x045.htm
4 Karl Barth (1886-1968) - Nhà nghiên cứu tôn giáo trường phái thần học Calvin Thụy Sĩ, một trong những người sáng lập của cái gọi là thần học biện chứng Tác phẩm "Nhà thờ giáo điều" với 13 tập đã trở thành một
sự kiện quan trọng trong thế giới Kitô giáo của thế kỷ XX
5 Theo: Братющенко Светлана Вадимовна (Институт Экономики и ОПП СО РАН, Новосибирск) социальная ответственность предпринимательства (обзор концепций) Bratchusenko Svetlanna Vadimovna - Viện Kinh Tế và quản trị kinh doanh công nghiệp- Phân viện Xibêri-Viện Hàn Lâm Khoa học Nga) Trách nhiệm xã hội trong kinh doanh (tóm lược các lý thuyết)
6 Andrew Carnegie, Carnegie A The Gospel of Wealth Cambridge (Mass.), 1962
http://history.hanover.edu/courses/excerpts/111carn.html
Trang 26Một người khác ủng hộ TNXHDN là Robert E Wood - người đứng đầu Tập đoàn Sears Trong Báo cáo thường niên năm 1936, Robert E Wood đề cập đến “các TNXH rộng lớn mà không thể diễn tả bằng số học, nhưng rất quan trọng” Robert E Wood đề cập đến những tác động không trực tiếp nhưng hữu ích từ các hoạt động
xã hội của DN Ông lập luận rằng không dễ dàng để xác định các chi phí cũng như kết quả đạt được khi thực thi các hoạt động xã hội của DN Robert E Wood là một trong số những người đầu tiên thừa nhận rằng DN đang phục vụ cho rất nhiều đối tượng khác nhau: Người tiêu dùng, cộng đồng địa phương, các cổ đông và NLĐ Ông cũng là một người ủng hộ quan điểm không chỉ chính phủ mới giải quyết các vấn đề xã hội mà ở vị trí quản lý DN cũng có thể tham gia nhưng với cách riêng của mình
Cuối cùng, khái niệm về TNXHDN chính thức khẳng định vào thập niên
1930 Đại diện tiêu biểu là L Brown - Chủ tịch hội đồng quản trị Công ty Johns Manville7 cho rằng: “Cùng với sự phát triển trong xã hội công nghiệp cao thì TNXH của các nhà quản lý cũng mở rộng cho phù hợp Các nhà quản lý không còn chỉ đại diện cho quyền lợi của các ông chủ Ngày nay, bất kỳ nhà quản lý bất kỳ
DN nào không chỉ chịu trách nhiệm trước các cổ đông, mà còn trước các thành viên của nghiệp đoàn lao động của mình, khách hàng và công chúng” Trong thời kỳ hậu chiến khái niệm TNXHDN tiếp tục phát triển
Trong giai đoạn này, nhà kinh tế người Mỹ G Bowen viết cuốn “Trách nhiệm
xã hội doanh nghiệp”, trong đó TNXHDN được định nghĩa là "nghĩa vụ của doanh
nhân khi ban hành quyết định và thực hiện những quyết định kinh doanh phải xuất
phát và gắn liền với mục tiêu và các giá trị của xã hội " Trong đó, đặc biệt nhấn
mạnh đến tư tưởng rằng các tổ chức phải có trách nhiệm với cộng đồng, phải chia sẽ một phần lợi ích và các nguồn lực của mình cho nhu cầu xã hội, trong khi chú ý đến các lĩnh vực như bảo vệ môi trường, y tế, bảo vệ người tiêu dùng
Đầu thế kỷ XX, chính phủ các quốc trong hầu hết các khu vực, đặc biệt là ở
Mỹ, tích cực can thiệp thị trường thông qua công cụ pháp luật pháp luật chống độc quyền, gia tăng sự áp đặt các chính sách và pháp luật vào hoạt động kinh doanh thương mại, khuyến khích sự tham gia tích cực của giới thương nhân vào chính trị Cũng chính trong giai đoạn này, xảy ra chiến tranh thế giới thứ nhất và cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới 1929-1933 Sau cuộc khủng hoảng, chính phủ, các nhà nghiên cứu và các nhà tư bản thừa nhận sự can thiệp của nhà nước thông qua hệ
7 Johns Manville Corporation History, corporation-history/, truy cập 8:30 ngày 10/4/2016
Trang 27http://www.fundinguniverse.com/company-histories/johns-manville-thống pháp luật và các quy tắc kinh doanh để bảo vệ nền kinh tế, bảo vệ sản xuất, NLĐ và người tiêu dùng
Trong chính quyền tổng thống Roosevelt đã thành lập một văn phòng đặc biệt
để giám sát việc xây dựng “Bộ quy tắc cạnh tranh công bằng”, gia tăng sự kiểm soát nhà nước trong việc bảo vệ quyền lợi ích công cộng và bảo đảm quyền lợi của NLĐ
và cho phép các nghiệp đoàn NLĐ tham gia thương lượng lao động tập thể
Sau chiến tranh, vấn đề cải thiện mức sống của người dân da đen được bổ sung vào hệ thống tiêu chuẩn chung về QHLĐ tại Hoa Kỳ Trước và sau chiến tranh thế giới thứ hai, các quốc gia châu Âu đều diễn ra lộ trình tương tự để bảo vệ quyền lợi của NLĐ
Trong những năm 50-70 của thế kỷ XX, đối mặt với các cuộc đình công hàng loạt, TNXHDN đã được công bố và áp dụng gần như ở khắp mọi nơi Năm 1972,
nghiên cứu tại Viện Công nghệ Massachusetts Công chúng biết rằng sự phát triển công nghiệp, cùng với sự tăng trưởng dân số chắc chắn sẽ dẫn đến một cuộc khủng hoảng sâu sắc và sự cạn kiệt các nguồn tài nguyên Một năm sau đó, các nước Ả Rập có lệnh cấm vận dầu, biến cuộc khủng hoảng năng lượng
Năm 1987 tại Montreal, các quốc gia đã ký kết Bản ghi nhớ, trong đó tuyên bố rằng nhân loại, hay đúng hơn là kinh doanh phải chấp nhận chi phí nhiều tỷ đô la để duy trì sự sống trên trái đất Cũng trong năm 1987, theo đặt hàng của Liên hiệp quốc, các nghiên cứu về tác động của con người đối với môi trường và lần đầu tiên
sử dụng thuật ngữ “sự phát triển bền vững” (sustainable development) Ngay lập tức thuật ngữ này giúp các tập đoàn khẳng định sự hài hòa với môi trường, bao gồm cả các cổ đông, nhân viên, xã hội và thiên nhiên
Năm 1995, Liên hiệp quốc tuyên bố “sự kiện khoa học” nóng lên toàn cầu Hai năm sau đó, Nghị định thư Kyoto nổi tiếng về việc cắt giảm lượng khí thải carbon dioxide đã được ký kết Kể từ năm 2000, TNXHDN đã trở thành một trong những ưu tiên của Liên minh châu Âu (EU) Trong tháng 7 năm 2001 của Ủy ban châu Âu công bố một “Sách xanh về TNXHDN”, và năm 2005 đã được chọn là năm của TNXH của EU Ngày nay, TNXHDN đang trở thành một yếu tố quan trọng trong việc hình thành các chính sách của các công ty hàng đầu của Mỹ, Anh
và các nước phát triển khác
8 Пределы роста — доклад Римскому клубу, опубликованный в 1972 году (ISBN 0-87663-165-0) (Giới hạn tăng Giới hạn tăng trưởng - Báo cáo Khoa học Câu lạc bộ Rome, Xuất bản năm 1972 (ISBN 0-87663- 165-0)
Trang 28Như vậy, xét ở khía cạnh lịch sử, TNXHDN hình thành dưới áp lực tự điều chỉnh để tiếp tục tồn tại của các DN tư bản Những biểu hiện ban đầu của TNXHDN hiện đại là các hoạt động sơ khai dưới hình thức từ thiện, tài trợ và cải thiện quan hệ với NLĐ Dần theo thời gian, khái niệm TNXHDN được mở rộng về nội dung và tính chất để đáp ứng các yêu cầu về cấu trúc lợi ích các chủ thể liên quan, nhu cầu phát triển thương hiệu của chính DN và các vấn đề xã hội, môi trường
1.1.2 Sự hình thành và phát triển khái niệm trách nhiệm xã hội của doanh
nghiệp
TNXHDN là một thuật ngữ đa diện Việc định nghĩa TNXHDN trong thực tế
thể tìm thấy trong các nhóm tài liệu: Trong các công trình mang tính học thuật của các nhà nghiên cứu; các văn kiện chính thức của các tổ chức chính phủ, tổ chức phi chính phủ, hiệp hội; cách hiểu của những người trong cuộc (nhà quản trị DN, NLĐ, người tiêu dùng)…
1.1.2.1 Khái niệm trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp trong các văn kiện
chính thức của tổ chức chính phủ và phi chính phủ
• Theo nhóm Phát triển kinh tế tư nhân của Ngân hàng thế giới (World Bank Private Sector Development), TNXHDN được hiểu là “Cam kết của DN đóng góp cho việc phát triển kinh tế bền vững, thông qua việc tuân thủ chuẩn mực về bảo vệ môi trường, bình đẳng về giới, an toàn lao động, quyền lợi lao động, trả lương công bằng, đào tạo và phát triển nhân viên, phát triển cộng đồng,… theo cách có lợi cho
• Trong tài liệu: “Hướng dẫn của OECD về tập đoàn đa quốc gia” (Guidelines
2011 đã 5 lần được cập nhật, bổ sung; có mục tiêu tăng cường cơ sở tin tưởng lẫn nhau giữa các DN và xã hội, giúp cải thiện môi trường đầu tư nước ngoài, đóng góp vào sự phát triển bền vững
• Một trong những tiêu chuẩn quan trọng của TNXHDN áp dụng trong QHLĐ
là Bản tiêu chuẩn SA8000-2008 SA8000 là tiêu chuẩn đưa các yêu về quản trị
9 Trong các tài liệu nước ngoài, bên cạnh khái niệm TNXHDN còn có nhiều khái niệm có liên quan hoặc tương đồng, đôi lúc được các tác giả hiểu và sử dụng với như từ đồng nghĩa hoặc thay thế cho nhau: “tư cách công dân của DN” (corporate citizenship - CC), “bộ ba cốt lõi” (triple bottom line), “sự phát triển bền vững của DN” (corperate sustainability - CS), “đạo đức DN” (corporate ethics), “khả năng kinh doanh bền vững” (corporate sustainability management - CSM), “tinh thần DN về phát triển bền vững” (sustainable entrepreneurship) v.v
10 http://info.worldbank.org/etools/docs/library/57434/publicpolicy_econference.pdf
11 http://www.oecd.org/investment/investmentpolicy/48004323.pdf
Trang 29TNXH do Hội đồng công nhận Quyền ưu tiên Kinh tế ban hành năm 1997.12 Theo SA8000, TNXH là một hệ thống các tiêu chuẩn trách nhiệm giải trình xã hội để hoàn thiện các điều kiện làm việc cho NLĐ tại các DN, trang trại hay văn phòng, do Social Accountability International (SAI) phát triển và giám sát
SA8000 dựa trên Tuyên ngôn thế giới về quyền con người, Công ước quốc tế
về quyền trẻ em của Liên hợp quốc và một loạt các công ước khác của Tổ chức Lao động Quốc tế (sau đây gọi tắt là “ILO”) Đây là một tiêu chuẩn quốc tế được xây dựng nhằm cải thiện điều kiện làm việc trên toàn cầu Tiêu chuẩn này có thể áp dụng cho các nước công nghiệp và các nước đang phát triển, có thể áp dụng cho các công ty lớn và các công ty có quy mô nhỏ Theo SA8000 các lĩnh vực của trách nhiệm giải trình, bao gồm: Lao động trẻ em; lao động cưỡng bức; an toàn và sức khỏe tại nơi làm việc; quyền tham gia các hiệp hội (công đoàn, nghiệp đoàn); phân biệt đối xử; kỷ luật lao động; thời gian làm việc; lương và các phúc lợi xã hội khác (bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế v.v ); quản lý DN; và quan hệ cộng đồng
gồm 10 nguyên tắc mà các bên cam kết tôn trọng, yêu cầu các DN phải nhận thức,
hỗ trợ và thực hiện các nguyên tắc ứng xử cốt lõi về bảo vệ quyền con người, tiêu chuẩn lao động, bảo vệ môi trường và chống tham nhũng Đến năm 2013, đã có trên 10.000 đối tác ký vào Thỏa ước này Nội dung các nguyên tắc mang tính định hướng cho chính phủ và các DN hành động có trách nhiệm với xã hội
• Một trong những cẩm nang quan trọng về các tiêu chí của TNXHDN phải kể đến bộ tiêu chuẩn ISO 26000:2010 do Tổ chức quốc tế về tiêu chuẩn hóa từ tháng
với những ảnh hưởng từ hoạt động của DN đến xã hội và môi trường; được thực hiện qua các hành vi minh bạch và có đạo đức nhằm đóng góp cho sự phát triển bền vững (bao gồm cả chăm sóc sức khỏe và phúc lợi xã hội); quan tâm đến lợi ích của các bên có liên quan; tuân thủ luật pháp và phù hợp với các nguyên tắc ứng xử quốc tế; được tích hợp và thực hiện trong toàn bộ DN
12 Bản tiếng Việt:
http://saintl.org/index.cfm?fuseaction=document.viewDocument&documentid=501&documentFor matId=1090;
Bản tiếng Nga: http://tms-cs.ru/sertifikaciya-sistem-menedzhmenta/standart-sa-8000;
13 The Ten Principles of the UN Global Compact The UN Global Compact’s Ten Principles are derived from: the Universal Declaration of Human Rights, the International Labour Organization’s Declaration on Fundamental Principles and Rights at Work, the Rio Declaration on Environment and Development, and the United Nations Convention Against Corruption Bản tiếng Anh: https://www.unglobalcompact.org/what-is- gc/mission/principles
14 Bản tiếng Anh: http://www.iso.org/iso/home/standards/iso26000.htm?=; Bản tiếng Nga: http://www.iso.org/iso/ru/home/standards/iso26000.htm
Trang 30• Tháng 5 năm 2013, Tổ chức Sáng kiến Báo cáo Toàn cầu (GRI -The Global
quốc thành lập năm 1997 ở Boston (Mỹ), đã ban hành Hướng dẫn các tiêu chí và
Trong phiên bản G4, khái niệm trọng yếu được đặt ở trọng tâm của báo cáo phát triển bền vững Điều này ảnh hưởng đến nội dung báo cáo mang tính chiến lược và tập trung Phiên bản G4 có sự cập nhật khác biệt đáng kể với phiên bản trước khi nhấn mạnh trọng tâm vào các tác động đến kinh tế, môi trường và xã hội Tính trọng yếu trở thành ngưỡng theo đó các chủ đề có liên quan được xem xét một cách thích đáng mức độ quan trọng từ đó quyết định thực hiện báo cáo
Hướng dẫn GRI G4 của Tổ chức này đã đưa ra các tiêu chí sau để đánh giá về
TNXHDN:
học, phát thải, nước thải và chất thải, thông tin và nhãn sản phẩm, di ̣ch vu ̣, tính tuân thủ , vâ ̣n chuyển, tổng thể, đánh giá của nhà cung cấp về vấn đề môi trường, cơ chế khiếu na ̣i về môi trường
- Các tiêu chí về xã hội, gồm các tiêu chí thành phần sau đây:
i Tiêu chí về cách đối xử với NLĐ và việc làm bền vững: Mối quan hệ quản lý, lao động, an toàn và sức khỏe, giáo du ̣c và đào ta ̣o nghề, đa dạng hóa và cơ hô ̣i bình đẳng, thù lao công bằng cho nam và nữ, đánh
đối xử với NLĐ
quyền tự do lập hô ̣i và thương lượng tập thể, vấn đề lao đô ̣ng trẻ em, lao
đô ̣ng cưỡng bức, các phương thức bảo vệ quyền tài sản, quyền của người
bản đi ̣a, đánh giá của nhà cung cấp về quyền con người, cơ chế khiếu na ̣i về quyền con người
iii Tiêu chí xã hô ̣i: Cô ̣ng đồng đi ̣a phương, chống tham nhũng, chính sách
cấp về tác đô ̣ng đối với xã hô ̣i, cơ chế khiếu na ̣i về tác đô ̣ng đối với xã
hội
15 Thông tin về GRI có thể tham khảo tại website: https://www.globalreporting.org/Pages/default.aspx
16 Bản tiếng Việt: https://www.globalreporting.org/resourcelibrary/Vietnamese-G4-Part-Two.pdf
Trang 31iv Trách nhiê ̣m đối với sản phẩm: Sự an toàn và sức khỏe của khách hàng, thông tin và nhãn sản phẩm và di ̣ch vu ̣, truyền thông tiếp thị, bảo đảm quyền riêng tư của khách hàng, tính tuân thủ.17
• Tại các quốc gia EU, năm 2002 Ủy ban châu Âu đưa ra khái niệm TNXHDN, yêu cầu các DN tích hợp các mối quan tâm của xã hội và môi trường vào hoạt động kinh doanh của mình; có sự tương tác với các bên liên quan trên cơ
sở tự nguyện
Năm 2011, Chiến lược đổi mới TNXHDN 2011-14 đã đưa ra khung khổ mới,
mở rộng phạm vi và các khía cạnh của TNXHDN, ít nhất bao gồm các vấn đề: Nhân quyền, lao động và việc làm (đào tạo, đa dạng hóa cơ hội, bình đẳng giới và sức khỏe NLĐ, phúc lợi DN), vấn đề môi trường (chẳng hạn như đa dạng sinh học, biến đổi khí hậu, sử dụng tài nguyên có hiệu quả, phòng ngừa ô nhiễm), chống hối lộ và tham nhũng Sự tham gia của cộng đồng và hỗ trợ phát triển xã hội, bảo đảm khả năng hội nhập của người tàn tật, bảo vệ lợi ích của người tiêu dùng cũng là một phần không thể thiếu của TNXHDN
EU coi việc thúc đẩy TNXHDN và bảo vệ môi trường thông qua các chuỗi cung ứng, trách nhiệm công bố thông tin phi tài chính, đổi mới công tác quản trị về thuế (nâng cao tính minh bạch, trao đổi thông tin và cạnh tranh công bằng thuế) là
• Tại Việt Nam, tương đương với ISO 26000:2010 là bản TCVN ISO
26000:2013 do Tiểu Ban kỹ thuật tiêu chuẩn quốc gia TCVN/TC01/SC1 TNXH
biên soạn, Tổng cục Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng đề nghị, Bộ Khoa học và Công nghệ công bố.19 Tiêu chuẩn này cung cấp hướng dẫn cho mọi loại hình tổ chức, không phân biệt quy mô hay địa điểm, về: khái niệm, thuật ngữ và định nghĩa liên quan đến TNXH; nền tảng, xu hướng và đặc điểm của TNXH; nguyên tắc và
17 Xem: Giới thiệu về G4, Thế hệ tiếp theo về báo cáo phát triển bền vững, Bản dich củaỦy ban Thư ký Nhà nước Thụy sĩ về các Vấn đề Kinh tế (SECO) https://www.globalreporting.org/resourcelibrary/GRI-G4- LeaveBehind-Beginner-Vietnamese.pdf Xem thêm: TNXHDN: Kinh nghiệm của Nhật Bản, tài liệu từ Trang thông tin điện tử của Viện nghiên cứu quản lý kinh tế trung ương,
www.ciem.org.vn/ /TNXHDN%20Nhat%20Ban%209-2014.doc
18 Xem: Compendium of public TNXHDN policies in the EU 2011; Compendium: Corporate Social Responsibility - National Public Policies in the European Union 2014 http://ec.europa.eu/social/main.jsp?catId=331 và http://www.csreurope.org/
19 Bản gốc tại: trach-nhiem-xa-hoi-911768.aspx
http://thuvienphapluat.vn/TCVN/Linh-vuc-khac/TCVN-ISO-26000-2013-Huong-dan-ve-20 Tiêu chuẩn này cung cấp cho tổ chức hướng dẫn liên quan đến trách nhiệm xã hội và có thể sử dụng như một phần của các hoạt động chính sách công Tuy nhiên, theo mục đích của Hiệp định Marakesh thành lập
Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) thì tiêu chuẩn này không được xem là “tiêu chuẩn quốc tế”, “hướng dẫn” hay “khuyến nghị” và cũng không nhằm cung cấp cơ sở cho bất kỳ giả thiết hoặc tìm kiếm một biện pháp nhất quán với các nghĩa vụ của WTO Ngoài ra, tiêu chuẩn này không nhằm đưa ra cơ sở cho các hoạt
Trang 32Theo TCVN ISO 26000:2013, khái niệm TNXH là: Trách nhiệm của tổ chức đối với những tác động của các quyết định và hoạt động của tổ chức đến xã hội và môi trường thông qua sự minh bạch và hành vi đạo đức nhằm đóng góp cho sự phát triển bền vững bao gồm cả sự lành mạnh và thịnh vượng của xã hội; trong đó: i) tính đến những mong muốn của các bên liên quan; ii) phù hợp với luật pháp và nhất quán với chuẩn mực ứng xử quốc tế và iii) tích hợp trong toàn bộ tổ chức và thực thi trong các mối quan hệ của tổ chức
Cũng theo TCVN ISO 26000:2013, đặc điểm quan trọng của TNXH là sự tự nguyện của tổ chức trong việc kết hợp những cân nhắc về mặt xã hội và môi trường vào quá trình ra quyết định và có thể giải trình được những tác động của các quyết định và hoạt động của tổ chức tới xã hội và môi trường Ðiều này hàm ý cả hành vi minh bạch và đạo đức đóng góp vào sự phát triển bền vững, là phù hợp với luật pháp cũng như nhất quán với chuẩn mực ứng xử quốc tế Ðiều đó cũng có nghĩa là TNXH được tích hợp trong toàn bộ tổ chức, được thực thi trong các mối quan hệ của tổ chức và có tính đến quyền lợi của các bên liên quan
• Từ những năm 2012-2013, tại Việt Nam, chương trình “DN thực hiện tốt trách nhiệm an sinh xã hội và phát triển cộng đồng” ra đời theo tinh thần Nghị quyết
số 15-NQ/TW ngày 01/06/2012 của Ban Chấp hành trung ương Đảng khóa XI một
số vấn đề về chính sách xã hội giai đoạn 2012-2020 với nội dung tuyên truyền về thực hiện an sinh xã hội là một nhiệm vụ quan trọng để không ngừng thúc đẩy và nâng cao trách nhiệm của DN góp phần vào thực hiện nhiệm vụ chính trị xã hội trong vai trò là một DN công dân Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam phối hợp với một số bộ, ngành liên quan, hiệp hội nghề cùng một số đối tác quốc tế
tổ chức lễ phát động Giải thưởng TNXHDN năm và công bố các tiêu chí TNXHDN Các tiêu chí cho một DN đạt giải trong lĩnh vực TNXHDN căn cứ theo từng lĩnh vực kinh doanh và dựa trên TCVN ISO 26000:2013
1.1.2.2 Khái niệm trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp trong các tài liệu
nghiên cứu
Trong bài viết “Trách nhiệm DN ở Việt Nam: Sự thách thức đối với DN, chính phủ và xã hội dân sự” của Gerd Mutz, Giáo sư Kinh tế và Chính sách xã hội,
TNXHDN như sau: “Trách nhiệm DN bao gồm cả TNXH lẫn trách nhiệm với môi trường, đề cập tới các hoạt động được tiến hành trong phạm vi kinh doanh cốt lõi
động pháp lý, khiếu nại, phòng vệ hoặc yêu cầu khác trong bất cứ vụ kiện quốc tế, quốc gia hoặc kiện tụng khác và cũng không nhằm đưa ra như bằng chứng của sự tiến triển luật pháp quốc tế thông thường
21 Bản dịch của ThS Vũ Mạnh Toàn, đăng trên Tạp chí Triết học, số 2 (213), tháng 2/2009
Trang 33(trọng tâm) của DN - đó là các hoạt động kinh tế của DN, bao gồm các lĩnh vực xã hội, như công bằng thương mại, cải thiện các điều kiện làm việc, kiểm soát chuỗi giá trị gia tăng và những vấn đề như (quy trình) sản xuất thân thiện với môi trường
ở các cơ sở trong và ngoài nước” Khái niệm này hiểu TNXHDN theo khía cạnh trách nhiệm của DN đối với các vấn đề xã hội và môi trường nhưng chúng gắn liền với hoạt động kinh doanh của DN Sứ mệnh và trách nhiệm chính của DN vẫn là trách nhiệm kinh tế
• TNXHDN - là một tập hợp các chính sách, các chương trình và hành động thực tế của DN và được song hành và tích hợp vào các quá trình kinh doanh, chuỗi cung ứng và quá trình ra quyết định ở tất cả các cấp của DN Nội dung TNXHDN bao gồm các về các hoạt động hiện tại, quá khứ và tương lai có tác động đến môi trường bên ngoài, có thể bao gồm các chuẩn mực đạo đức công ty; chính sách trong mối quan hệ với xã hội; chính sách trong lĩnh vực bảo vệ môi trường; nguyên tắc và phương pháp quản trị DN; các vấn đề nhân quyền trong quan hệ với các nhà cung
đối chi tiết, thể hiện được tất cả nội dung của TNXHDN nhưng không thể hiện được nội hàm “quyết định có trách nhiệm” của DN, vốn dĩ là bản chất quan trọng của khái niệm TNXHDN
• Dưới khía cạnh quan hệ với các chủ thể còn lại có TNXH, TNXHDN được định nghĩa là một tập hợp các mối quan hệ thể chế - kinh tế, tài chính - kinh tế, kinh
tế - xã hội phát sinh giữa nhà nước, xã hội dân sự và DN trong quá trình phối hợp
thể hiện nội dung của TNXHDN mà chỉ thể hiện chủ thể thực hiện và phối hợp thực hiện TNXHDN
TNXHDN là khái niệm thể hiện những quyết định tự nguyện của DN, tham gia vào các hoạt động cải thiện cuộc sống xã hội và bảo vệ môi trường xung
22 Ольга Алексеева, Директор Московского представительства Российско-британского фонда CAF, Социальная ответственность компаний - опыт Запада и России,
http://www.maecenas.ru/doc/2004_3_5.html ( Olga Alexseyevna, Giám đốc cơ quan đại diện tại Matxcova của Quỹ CAF ( Charities Aid Foundation) Nga-Anh Trách nhiệm xã hội của công ty – Kinh nghiệm phương Tây và Nga).
23 Баканова Елена Сергеевна (2007) ИНСТИТУЦИОНАЛЬНЫЕ ОСНОВЫ ФОРМИРОВАНИЯ СОЦИАЛЬНОЙ ОТВЕТСТВЕННОСТИ БИЗНЕСА В ЭКОНОМИКЕ РОССИИ, диссертации на соискание ученой степени кандидата экономических наук, «Санкт-Петербургский государственный университет технологии и дизайна»
24 Анашкина Ю А Подходы к определению корпоративной социальной ответственности и ее роли в решении социальных проблем // Молодой ученый — 2009 — №9 — С 43-45 (Anashkina, Yu A Tiếp cận định nghĩa trách nhiệm xã hội của công ty và vai trò của nó trong việc giải quyết các vấn đề xã hội // Nhà khoa học trẻ - 2009 - Số 9 - tr 43-45)
Trang 34hội, kinh tế và môi trường Hoạt động này gắn liền với hoạt động kinh doanh trực
Trong các tài liệu tiếng Việt, khái niệm TNXHDN thường được diễn giải như sau: Theo TS Lê Đăng Doanh - Viện trưởng Viện nghiên cứu kinh tế: “TNXHDN
có thể được định nghĩa ngắn gọn như một sự cam kết của công ty trong ứng xử phù hợp với lợi ích của xã hội trong các hoạt động liên quan đến lợi ích của khách hàng, nhà cung ứng, nhân viên, cổ đông, cộng đồng, môi trường Theo đó, TNXH được coi là một phạm trù của đạo đức kinh doanh có liên quan đến mọi hoạt động kinh
• Theo nghiên cứu trình bày tại Báo cáo điều tra triển vọng và tình hình thực hiện kinh doanh, đồng thời với TNXH của các DN Hàn Quốc của Trung tâm Nghiên cứu kinh doanh và TNXH trực thuộc Viện Khoa học kỹ thuật Hàn Quốc và Viện kinh doanh bền vững trực thuộc Phòng Thương mại và Công nghiệp Hàn
quan điểm về TNXH, quan điểm về đạo đức, quan điểm về quản lý rủi ro, quan điểm về tinh thần dân chủ của DN thì khái niệm này có thể phân loại như bảng sau:
Quan điểm Người nghiên cứu Nội dung khái niệm
Các bên có
liên quan
Blomm &
Gundlanch (2001)
Trách nhiệm của DN đối với các bên có liên quan
là nghĩa vụ vượt lên trên cả khía cạnh về pháp luật Nghĩa vụ này được hiểu là việc tối đa hóa ảnh hưởng tích cực lâu dài của DN với xã hội và tối thiểu hóa các mối nguy hiểm tiềm tàng
(1988)
Đây là toàn bộ nghĩa vụ đối với xã hội vượt lên trên cả nghĩa vụ về pháp luật và kinh tế
nhiệm về kinh tế (tối đa hóa lợi nhuận), trách nhiệm pháp lý (tuân thủ theo các quy chế và pháp luật), trách nhiệm đạo đức (tuân theo tiêu chuẩn đạo đức), trách nhiệm từ thiện (cống hiến cho xã
25 Анашкина Ю А Подходы к определению корпоративной социальной ответственности и ее роли в решении социальных проблем // Молодой ученый — 2009 — №9 — С 43-45 (Anashkina, Yu A Tiếp cận khái niệm trách nhiệm xã hội của công ty và vai trò của nó trong việc giải quyết các vấn đề xã hội // Tạp chí Nhà khoa học trẻ - 2009 - Số 9 - tr 43-45
26 Lê Đăng Doanh, Một số vấn đề về trách nhiệm xã hội ở DN Việt Nam, Tạp chí Triết học, câp nhật: 10:31'
SA - Thứ hai, 13/07/2009
27 http://oreal.kaist.ac.kr/TNXHDN_2006_KAIST.pdf (Bản dịch ra tiếng Việt của Nguyễn Thị Ngọc Mai- Trung tâm nghiên cứu Hàn Quốc)
Trang 35hội)
trách nhiệm với những gì mà mình mắc nợ với toàn thể xã hội và những thành viên tạo dựng nên xã hội
Nguyên tắc
đạo đức
Mc Farland (1982) Là việc thừa nhận thực tế các cá nhân, tổ chức, các
chế độ xã hội phụ thuộc lẫn nhau và DN phải hoạt động dựa theo tiêu chuẩn các giá trị về đạo đức và nguyên lý kinh tế
Quản lý rủi
ro
Mohr et.al (2001) Là hoạt động tối thiểu hóa hoặc loại bỏ trước các
mối hiểm nguy phát sinh trong xã hội cũng như tối
đa hóa hiệu quả nhất định trong thời gian dài Tinh thần
dân chủ của
DN
viên của cộng đồng địa phương, mang đầy đủ cả trách nhiệm và quyền lợi với tư cách pháp nhân
nhiệm về kinh tế, đạo đức và trách nhiệm tự chọn khác được đặt ra với DN
Trang 36Tóm lại, định nghĩa TNXHDN có nội hàm khác biệt tương đối lớn, phụ thuộc vào phương pháp tiếp cận; điều kiện kinh tế - xã hội và văn hóa đạo đức kinh doanh, loại hình DN và lĩnh vực sản xuất kinh doanh Tuy nhiên, điểm chung trong các định nghĩa TNXHDN là hoạt động của DN xuyên suốt quá trình từ ban hành quyết định và thực hiện hoạt động kinh doanh phải góp phần là cải thiện và nâng cao các giá trị và lợi ích hướng đến các trụ cột chính: Đối tác, người tiêu dùng, NLĐ, cộng đồng xã hội và môi trường
1.1.3 Bản chất trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp
1.1.3.1 Mô hình Kim tự pháp của A Carroll về trách nhiệm xã hội của doanh
nghiệp
TNXHDN, theo đó TNXHDN đáp ứng các kỳ vọng về đạo đức, pháp luật và kinh tế
mà xã hội đòi hỏi đối với tổ chức tại thời điểm đó
Dựa vào giả thuyết này, xây dựng mô hình TNXHDN hiện đại Theo mô hình này, TNXH là trách nhiệm đa tầng theo mô hình một kim tự tháp (hình 1.1)
Phần đáy của kim tự tháp là trách nhiệm kinh tế Đây là chức năng cơ bản và mang tính nền tảng của mọi DN trong nền kinh tế thị trường Trách nhiệm kinh tế là tiền đề để DN thực hiện tốt các chức năng còn lại Thật vậy, thông qua hoạt động sản xuất kinh doanh của DN, của cải xã hội mới gia tăng, đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của xã hội, tạo công ăn việc làm, giải quyết thất nghiệp Khi và chỉ khi DN thực hiện tốt trách nhiệm kinh tế, kinh doanh hiệu quả, có lợi nhuận thì giá trị sức
28 Archie B Carroll (Đại học Tổng hợp Georgia, Mỹ) The Pyramid of Corporate Social Responsibility:
Toward the Moral Management of Organizational Stakeholders Business Horizons 34(4), 39-48 (Mô hình Kim tự tháp của Trách nhiệm xã hội DN: Hướng tới quản lý đạo đức của các bên liên quan tổ chức Business Horizons 34 (4), 39-48)
https://www.researchgate.net/publication/4883660_The_Pyramid_of_Corporate_Social_Responsibility_Tow ard_the_Moral_Management_of_Organizational_Stakeholders_Business_Horizons_344_39-48
Trang 37lao động của NLĐ mới được tính toán chi trả phù hợp, tiền lương và các khoản thưởng được cải thiện Khi DN kinh doanh có lợi nhuận không chỉ cổ đông, nhà đầu
tư được lợi mà nguồn thu thuế vào ngân sách nhà nước được đảm bảo Nói cách khác, bất kỳ mô hình kinh doanh, lĩnh vực kinh doanh nào, mỗi DN thực hiện tốt trách nhiệm kinh tế của mình cho xã hội là TNXH
Trách nhiệm pháp lý được hiểu là việc tuân thủ các quy định pháp luật liên quan hoạt động kinh doanh trong nền kinh tế thị trường Các quy định pháp luật kinh doanh trong nền kinh tế thị trường được ban hành hướng đến mục tiêu bảo vệ trật tự thị trường, bảo vệ cạnh tranh lành mạnh, trung thực, minh bạch; bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng; công bằng trong thực thi nghĩa vụ thuế và các nghĩa vụ tài chính khác của DN đối với nhà nước… Xét cho cùng các quy định pháp luật của nhà nước cũng hướng đến mục tiêu duy trì một xã hội tự do kinh doanh, kinh doanh công bằng, minh bạch Thực hiện tốt các trách nhiệm pháp lý trong kinh doanh chính là TNXHDN
Trách nhiệm đạo đức, đến lượt nó, đòi hỏi doanh nhân phải hành động đáp ứng sự kỳ vọng của cộng đồng trong xã hội nhưng dựa trên các tiêu chuẩn hiện hành của đạo đức Trong hoạt động kinh doanh không phải tất cả các quan hệ đều được điều chỉnh bởi các quy phạm pháp luật, do vậy ngoài việc tuân thủ pháp luật các quy tắc đạo đức trong kinh doanh của nhóm cộng đồng doanh nhân tại địa phương, thời điểm cụ thể Mặt khác, DN phải hoạt động kinh doanh một cách minh bạch, hợp lý và linh dộng dù luật pháp không yêu cầu
Trách nhiệm từ thiện (không bắt buộc) khuyến khích các DN có trách nhiệm phải hành động để bảo đảm và duy trì phúc lợi chung của xã hội thông qua sự tham gia tự nguyện của DN vào các chương trình xã hội Trách nhiệm thứ tư này buộc
DN sử dụng nguồn lực có sẵn của mình trong các lĩnh vực như giáo dục, văn hóa nghệ thuật, cộng đồng v.v để thực hiện các hoạt động xã hội cần thiết Trách nhiệm đạo đức và trách nhiệm từ thiện là hai trách nhiệm thể hiện ý thức tự nguyện hơn so với các trách nhiệm khác của DN
Biết rằng, việc mô hình hóa TNXHDN như một “kim tự tháp tự nó giải quyết toàn bộ các vấn đề liên quan đến TNXH, nhưng cho phép chúng ta hệ thống hóa chúng trong một chừng mực nhất định các chức năng TNXHDN
1.1.3.2 Mức trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp S.E Seliverstov và S.V
Bratyuschenko
Trang 38Chia sẻ với quan điểm của Archie B Carroll, S Seliverstov và
vi TNXH), trong đó có ba cấp độ (Hình 1.2)
Hình 1.2 Mức TNXHDN
i) Tuân thủ pháp luật Đây là mức độ đầu tiên, cơ bản, đồng thời là thành phần
cần thiết cấu thành nội hàm TNXH Nếu luật pháp không được tôn trọng và tuân thủ, thì không đề cập đến bất cứ TNXH nào
Thật vậy, trong mọi xã hội có nhà nước, pháp luật luôn là các chuẩn mực ứng
xử điều chỉnh hành vi tất cả các chủ thể tham gia tất cả các quan hệ xã hội Hoạt động kinh doanh của doanh nhân và DN không nằm ngoài “vùng phủ sóng” của pháp luật Hay nói cách khác, pháp luật là tiền đề để thực hiện hoạt động kinh doanh nhưng đồng thời là mục tiêu chuẩn mực để doanh nhân và DN hướng đến và tuân thủ
Tuân thủ pháp luật và chuẩn mực đầu tiên, quan trọng nhất của DN trong việc thể hiện trách nhiệm của mình đối với nhà nước, xã hội, cộng đồng, người tiêu dùng
và khách hàng
29 Братющенко, С.В Корпоративная социальная ответственность бизнеса как институт государственно-частного партнерства и эффективной региональной и социальной политики // С.В Братющенко, В.Е Селиверстов // Регион: экономика и социология - 2007 - №4 - С 189-206 Bratushenko, S.V Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp trong kinh doanh như chế định đối tác công tư và chính sách hiệu quả về vùng miền và xã hội // S.V Bratushenko, V.E Seliverstov // Khu vực: Kinh tế và Xã hội học - 2007 - №4 - tr 189-206
Tự nguyện
Bắt buộc
Theo mong đợi của xã hội
Theo yêu cầu xã hội Tuân thủ pháp
luật
Tham gia công việc
XH không
vụ lợi
Tham gia công việc XH kỳ vọng lợi ích riêng
Trang 39- Trong quan hệ với nhà nước, DN phải thực hiện các nghĩa vụ luật định như nghĩa vụ nộp thuế, phí, lệ phí và các nghĩa vụ tài chính khác cho ngân sách nhà nước Ngoài ra, để phục vụ công tác quản lý nhà nước, điều tiết vĩ mô nền kinh tế, DN phải thực hiện nhiều quy định khác trong lĩnh vực kế toán, kiểm toán, thống kê, đăng ký kinh doanh, công bố thông tin
- Trong quan hệ với đối tác, khách hàng và người tiêu dùng DN phải tuân thủ các quy định pháp luật về hợp đồng trong hoạt động kinh doanh; pháp luật về cạnh tranh, kiểm soát độc quyền, pháp luật bảo vệ người tiêu dùng
- Trong quan hệ với NLĐ, DN và NSDLĐ phải tuân thủ các quy định pháp luật lao động, bảo hiểm xã hội, pháp luật an sinh xã hội
- Trong hệ với môi trường sống xung quanh, DN phải tuân thủ các quy định pháp luật về bảo vệ môi trường, quản lý và sử dụng hiệu quả tài nguyên thiên nhiên
Như vậy, trong một xã hội hiện đại và môi trường kinh doanh văn minh, tuân thủ pháp luật và tiêu chuẩn tối thiếu của DN và tiền đề để DN thực hiện tốt các nội dung TNXHDN còn lại
ii) Mức thứ hai và thứ ba là những bộ phận cấu thành của TNXH mang tính tự nguyện Mức thứ hai và ba chỉ khác nhau ở động cơ của hành vi TNXH Cấp độ thứ
hai là việc thực hiện các hành vi TNXH vì lợi ích kinh tế của chính DN, như xây dựng và phát triển thương hiệu, cải thiện hình ảnh của DN, gia tăng tính thiện cảm sản về phẩm DN trong mắt người tiêu dùng, thu hút NLĐ, tăng tính hấp dẫn đầu tư, tạo điều kiện thuận lợi hơn cho sự tồn tại và phát triển của công ty
Mức độ thứ ba bao gồm những loại hành vi TNXH không nhằm thu được lợi ích kinh tế Những hành động đó có thể mang lại lợi ích kinh tế, nhưng điều này không phải là mục tiêu của họ
1.1.4 Quá trình phát triển nhận thức về trách nhiệm xã hội của doanh
nghiệp
Theo một số nhà khoa học quá trình phát triển của khái niệm về TNXHDN (ở
• Giai đoạn đầu tiên (những năm 60 đến giữa 70 thế kỷ XX)
Đặc trưng của TNXHDN trong giai đoạn này là hình thành và phát triển các tổ chức từ thiện và hoạt động từ thiện, nhân đạo mang tính truyền thống Các công ty thực hiện hoạt động kinh doanh và hoạt động xã hội một cách độc lập Khi thực
30 Перекрестов Д Г., Поварич И П., Шабашев В А (2011) корпоративная социальная ответственность: вопросы теории и практики, Издательство Академия Естествознания, ISBN: 978-5- 91327-148-8(Perekrestov DG, Povarich IP, Shabashev VA (2011) Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp: Các vấn đề về lý thuyết và thực hành, Nhà xuất bản Hàn lâm Tri thức tự nhiên, ISBN: 978-5-91327-148-8)
Trang 40hiện hoạt động xã hội (từ thiện, nhân đạo), các công ty chú trọng hỗ trợ cho nhóm
dễ bị tổn thương nhất như trẻ em, người tàn tật hoặc tài trợ cho các tổ chức văn hóa, tôn giáo… Đối tượng thụ hưởng các khoản trợ giúp này không theo một tiêu chí thống nhất, phần lớn căn cứ vào mối thiện cảm cá nhân của các ông chủ DN Trợ giúp được thực hiện theo hình thức hiện vật hoặc tiền
Hoạt động TNXHDN trong giai đoạn này không theo bất kỳ một quy chuẩn từ các hiệp hội hay chính phủ mà chủ yếu mang tính tự nguyện và tự phát Các DN khi thực hiện hoạt động nhân đạo, từ thiện không hướng đến mục tiêu vụ lợi và cũng không gắn liền với hoạt động kinh doanh của DN mình
• Giai đoạn thứ hai (giữa những năm 70 đến đầu những năm 80 thế kỷ XX)
Trong giai đoạn thứ hai các biểu hiện của TNXHDN vẫn là các hoạt động từ thiện, nhân đạo và tài trợ nhưng chúng được đưa vào kế hoạch, chiến lược kinh doanh của DN
Trong giai đoạn này, TNXHDN là chỉ là giải pháp mà DN đối phó để cải thiện hình ảnh của mình trước các chỉ trích vấn đề môi trường, tiêu chuẩn chất lượng hàng hóa, sản phầm và an toàn lao động tại nơi làm việc Các DN nỗ lực thông qua các hoạt động từ thiện và nhân đạo để đáp ứng các yêu cầu của chính phủ buộc các công ty phải quan tâm chăm sóc NLĐ, có tránh nhiệm với cộng đồng địa phương Tuy nhiên, khi thực hiện các hoạt động này, DN quyết định tận dụng tối đa các quyền lợi mang lại từ TNXHDN Do vậy, đặc thù của hoạt động TNXHDN trong giai đoạn này là sự chuẩn bị để có được lợi nhuận tối ưu thay vì tối đa
• Giai đoạn thứ ba (từ những năm 80 thế kỷ XX đến nay)
Vào giữa thập niên 80 thế kỷ XX, trong hoạt động từ thiện, nhân đạo đã được thay thế bởi khái niệm “đầu tư xã hội” và “công dân DN” (Corporate Citizenship) TNXHDN được mở rộng nội hàm và phạm vi
Thật vậy, TNXHDN là một hình thức đầu tư xã hội, tức có sự kết hợp giữa mục tiêu thương mại và mục tiêu phi lợi nhuận, giữa các công ty và nhà nước ở lĩnh vực công cộng và công ty tư nhân để giải quyết các vấn đề bất cập về kinh tế - xã hội của các cộng đồng địa phương Để thực hiện TNXHDN, công ty không chỉ cung cấp sản phẩm, tiền bạc hoặc công sức nhân viên của họ, mà còn cả các chương trình hợp tác với tất cả các nguồn lực của họ Trong giai đoạn này, TNXHDN và hoạt động kinh doanh DN gắn kết với nhau; hoạt động TNXHDN giữa các DN, giữa DN với chính quyền địa phương để thực hiện các sứ mệnh chung
Nhận thức về “công dân DN”, trong giai đoạn này xuất hiện các quan điểm nhìn nhận TNXHDN ở góc nhìn mới Theo đó, DN là “một cá thể được nhân cách ngang hàng với tự nhiên” Ở đây, “cá thể được nhân cách” có nghĩa là chủ thể thực