1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Luận văn pháp luật về định đoạt phần vốn góp trong công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên theo pháp luật việt nam và một số kiến nghị hoàn thiện

52 11 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Luận văn pháp luật về định đoạt phần vốn góp trong công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên theo pháp luật Việt Nam và một số kiến nghị hoàn thiện
Tác giả Trương Minh Thông
Người hướng dẫn Thạc sĩ Nguyễn Thị Phương Hà
Trường học Trường Đại Học Luật TP. Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Luật thương mại
Thể loại Luận văn tốt nghiệp
Năm xuất bản 2021
Thành phố Tp. Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 52
Dung lượng 875 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • CHƯƠNG 1. CÁC QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ QUYỀN ĐỊNH ĐOẠT PHẦN VỐN GÓP TRONG CÔNG TY TRÁCH NHIỆM HỮU HẠN HAI THÀNH VIÊN TRỞ LÊN (12)
    • 1.1 Một số vấn đề lý luận chung về quyền định đoạt phần vốn góp trong công (12)
      • 1.1.1 Phần vốn góp của thành viên trong vốn điều lệ của công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên (12)
      • 1.1.2 Cơ sở pháp lý về quyền định đoạt phần vốn góp trong công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên (15)
    • 1.2 Quy định của pháp luật về quyền định đoạt phần vốn góp trong công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên (17)
      • 1.2.1 Chủ thể và đối tượng của quyền định đoạt phần vốn góp trong công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên (17)
      • 1.2.2 Quy định của pháp luật về quyền chuyển nhượng phần vốn góp trong công (20)
      • 1.2.3 Quy định của pháp luật về quyền yêu cầu công ty mua lại phần vốn góp (25)
      • 1.2.4 Quy định của pháp luật về quyền để lại thừa kế và tặng cho phần vốn góp (28)
      • 1.2.5 Quy định của pháp luật về quyền trả nợ bằng phần vốn góp trong công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên (30)
  • CHƯƠNG 2. CÁC BẤT CẬP VÀ KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN CHO CÁC (33)
    • 2.1 Bất cập và kiến nghị đối với các quy định liên quan đến phạm vi quyền của các chủ thể và đối tượng chuyển nhượng (33)
    • 2.2 Bất cập và kiến nghị đối với các quy định về quyền định đoạt phần vốn góp trong công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên (37)
      • 2.2.2 Bất cập và kiến nghị đối với các quy định về quyền yêu cầu công ty mua lại phần vốn góp trong công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên (43)
      • 2.2.3 Bất cập và kiến nghị đối với các quy định về quyền tặng cho, để thừa kế, trả nợ bằng phần vốn góp trong công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên (46)
  • KẾT LUẬN (32)

Nội dung

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP HỒ CHÍ MINH KHOA LUẬT THƯƠNG MẠI TRƯƠNG MINH THÔNG PHÁP LUẬT VỀ ĐỊNH ĐOẠT PHẦN VỐN GÓP TRONG CÔNG TY TRÁCH NHIỆM HỮU HẠN HAI THÀNH VIÊN TRỞ LÊN THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM VÀ MỘT SỐ[.]

CÁC QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ QUYỀN ĐỊNH ĐOẠT PHẦN VỐN GÓP TRONG CÔNG TY TRÁCH NHIỆM HỮU HẠN HAI THÀNH VIÊN TRỞ LÊN

Một số vấn đề lý luận chung về quyền định đoạt phần vốn góp trong công

1.1.1 Phần vốn góp của thành viên trong vốn điều lệ của công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên

Công ty TNHH hai thành viên trở lên hoàn toàn là sản phẩm của quá trình lập pháp, khác biệt rõ rệt so với các loại hình công ty khác Nhiều ý kiến cho rằng mô hình công ty cổ phần không phù hợp với nhà đầu tư vừa và nhỏ do các quy định phức tạp, không cần thiết cho các công ty có quy mô nhỏ, ít thành viên và thường quen biết nhau Bên cạnh đó, chế độ chịu trách nhiệm vô hạn của công ty đối nhân không phù hợp với tất cả các nhà đầu tư, khiến công ty TNHH hai thành viên trở lên trở thành lựa chọn phù hợp hơn.

Loại hình công ty TNHH hai thành viên trở lên được xây dựng dựa trên sự kết hợp giữa các ưu điểm của công ty cổ phần và công ty hợp danh, phù hợp theo quy định tại khoản 2 Điều 46 của Luật Doanh nghiệp năm 2020 Công ty TNHH hai thành viên trở lên có tư cách pháp nhân kể từ ngày được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp, mang đặc tính pháp lý “tự chịu trách nhiệm bằng tài sản của mình” Khi mới thành lập, tài sản của doanh nghiệp chủ yếu là nguồn vốn góp của các nhà đầu tư, chính là vốn điều lệ của doanh nghiệp tại thời điểm thành lập Vốn điều lệ của công ty là tổng giá trị tài sản các thành viên đã góp hoặc cam kết góp khi thành lập công ty và chịu trách nhiệm tài chính dựa trên phần vốn này Trừ những ngành nghề có yêu cầu về vốn pháp định theo quy định của pháp luật, Luật Doanh nghiệp năm 2020 không quy định mức tối thiểu về vốn điều lệ, do đó các thành viên có thể xác định vốn điều lệ phù hợp với nhu cầu và mong muốn của mình.

7Bùi Ngọc Cường, Giáo trình Luật Thương mại, Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam, Hà Nội, 2010, Tập

8Nguyễn Vinh Hưng, tlđd (2), tr 40

9Điểm c khoản 1 Điều 74 Bộ luật dân sự 2015

10 Phạm Hoài Huấn (chủ biên) (2015), Luật Doanh nghiệp Việt Nam - Tình huống - Dẫn giải -

Bình luận, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, tr 24

Vốn điều lệ của công ty TNHH hai thành viên trở lên theo khoản 34 Điều 4 LDN 2020 có thể có giá trị rất lớn hoặc chỉ là số tiền nhỏ, tùy thuộc vào góp vốn của các thành viên Để thành lập công ty, các thành viên phải thực hiện góp vốn bằng các tài sản hợp pháp như Đồng Việt Nam, ngoại tệ tự do chuyển đổi, vàng, quyền sử dụng đất, sở hữu trí tuệ, công nghệ, bí quyết kỹ thuật hoặc các tài sản định giá được bằng Đồng Việt Nam Thời hạn góp vốn là 90 ngày kể từ ngày nhận Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp, không tính thời gian vận chuyển hay thủ tục chuyển quyền sở hữu tài sản Trong trường hợp góp vốn không đủ hoặc không thực hiện như đã cam kết, thành viên đó phải chịu trách nhiệm tài chính phù hợp với tỷ lệ góp vốn đã cam kết Khi góp vốn, người góp trở thành thành viên của công ty từ thời điểm thanh toán đầy đủ phần vốn, và thông tin của họ được ghi rõ trong sổ đăng ký thành viên, trừ trường hợp cam kết góp vốn khi thành lập Thành viên sẽ không còn quyền sở hữu tài sản góp vốn sau khi góp, mà chỉ nhận phần vốn tương ứng và được cấp giấy chứng nhận phần vốn góp, phần vốn này chính là tài sản mà thành viên có thể chuyển nhượng trong công ty.

Phần vốn góp khác biệt so với các loại tài sản khác vì không chỉ đại diện cho giá trị bằng tiền mà còn thể hiện tư cách thành viên, quyền và nghĩa vụ tương ứng Cá nhân và tổ chức khi thực hiện góp vốn cần hiểu rõ các quyền lợi và nghĩa vụ của mình nhằm đảm bảo quyền lợi hợp pháp và tăng cường hoạt động của doanh nghiệp Vốn góp là yếu tố quan trọng phản ánh năng lực tài chính và uy tín của thành viên trong doanh nghiệp.

Bài viết của Bùi Thị Thanh Thảo (2014) trên Tạp chí Khoa học pháp lý tập trung vào việc góp ý hoàn thiện các quy định về quyền định đoạt phần vốn góp của thành viên công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên Tác giả nhấn mạnh tầm quan trọng của việc xây dựng các quy định rõ ràng nhằm bảo vệ quyền lợi của các thành viên và thúc đẩy hoạt động kinh doanh hiệu quả Nội dung bài viết góp phần nâng cao nhận thức về pháp lý liên quan đến vốn góp, đồng thời đề xuất các giải pháp cụ thể để hoàn thiện khung pháp lý cho loại hình công ty này Những phân tích của tác giả hướng tới việc đảm bảo tính minh bạch và công bằng trong quản lý vốn góp của các thành viên trong công ty trách nhiệm hữu hạn.

Việc góp vốn để thành lập Công ty TNHH hai thành viên trở lên đồng nghĩa với việc các thành viên trở thành thành viên công ty và được hưởng quyền lợi cũng như nghĩa vụ theo quy định pháp luật Các quyền của thành viên bao gồm quyền nhận lợi nhuận tương ứng với phần vốn góp, quyền hưởng các giá trị tài sản còn lại khi công ty phá sản hoặc giải thể, và quyền góp thêm vốn khi công ty tăng vốn điều lệ Bên cạnh đó, thành viên còn có quyền tham dự họp Hội đồng thành viên, thảo luận, đề xuất và biểu quyết các vấn đề quan trọng của công ty, trong đó số phiếu biểu quyết tỷ lệ thuận với phần vốn góp Mức sở hữu phần vốn góp càng lớn thì quyền chi phối các quyết định của công ty càng cao Về nghĩa vụ, thành viên cần góp đủ, đúng hạn vốn cam kết, chịu trách nhiệm về các khoản nợ trong phạm vi vốn góp, và tuân thủ điều lệ cũng như quyết định của Hội đồng thành viên Một điểm đặc biệt của loại hình này là thành viên chỉ chịu trách nhiệm tài chính trong phạm vi vốn góp; khi góp vốn, họ không còn quyền sở hữu tài sản góp ban đầu mà chỉ nhận phần vốn tương ứng, phần tài sản này sẽ trở thành tài sản của công ty để hoạt động kinh doanh và thực hiện các nghĩa vụ tài chính Trong trường hợp tài sản của công ty không đủ để trả nợ, thành viên không phải dùng tài sản cá nhân để bù đắp, đảm bảo nguyên tắc hạn chế trách nhiệm tài chính của thành viên trong công ty TNHH hai thành viên trở lên.

Khi thành lập công ty TNHH hai thành viên trở lên, các thành viên cần góp vốn hoặc cam kết góp vốn để hình thành tài sản công ty Việc góp vốn đảm bảo nguồn lực tài chính cần thiết cho hoạt động của công ty và xác định quyền lợi của各 thành viên trong công ty Tổng giá trị tài sản của công ty được hình thành dựa trên số vốn góp của các thành viên, góp phần tạo nền tảng vững chắc cho sự phát triển bền vững của doanh nghiệp.

Điều 50 của Luật Doanh nghiệp 2020 quy định rằng góp vốn sẽ hình thành vốn điều lệ của công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên Thành viên góp vốn chính là người sở hữu phần vốn góp, qua đó trở thành thành viên của công ty và có quyền tham gia quản trị, hưởng lợi về tài sản và các quyền lợi liên quan đến thành viên công ty Việc góp vốn đúng quy định giúp doanh nghiệp hoạt động ổn định và phát triển bền vững theo pháp luật.

1.1.2 Cơ sở pháp lý về quyền định đoạt phần vốn góp trong công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên

Theo pháp lý, quyền định đoạt là đặc điểm thể hiện quyền sở hữu, cho phép chủ sở hữu quyết định “số phận” pháp lý của tài sản Điều 192 Bộ luật Dân sự 2015 quy định rằng quyền định đoạt là quyền chuyển giao, từ bỏ, tiêu dùng hoặc tiêu hủy tài sản Trong đó, phần vốn góp trong công ty TNHH hai thành viên trở lên được xác định là quyền tài sản vô hình của chủ sở hữu, không thể thực hiện định đoạt theo cách thức thực tế, nhưng vẫn có thể định đoạt về mặt pháp lý thông qua các giao dịch như bán, tặng, trao đổi hoặc thừa kế Theo điểm e khoản 1 Điều 49 Luật Doanh nghiệp 2020, chủ sở hữu có thể chuyển nhượng, tặng cho hoặc sử dụng phần vốn góp theo các hình thức phù hợp pháp luật và điều lệ công ty Ngoài các hình thức này, các thành viên còn có thể định đoạt vốn góp bằng phương thức thế chấp, trao đổi hoặc góp vốn vào doanh nghiệp khác để đảm bảo quyền lợi và linh hoạt trong quản lý tài sản của mình.

Một trong những căn cứ chính của Luật Đầu tư 2020 quy định về quyền định đoạt phần vốn góp của thành viên trong công ty TNHH hai thành viên trở lên chính là quyền của thành viên dựa trên việc họ đã đóng góp tài sản, thời gian và công sức để thành lập công ty Khi góp vốn, các thành viên đã tích cực bỏ ra tài sản, thời gian và công sức, điều này thể hiện rõ quyền lợi và nghĩa vụ của họ trong quá trình hình thành và phát triển doanh nghiệp Do đó, việc xác định quyền định đoạt phần vốn góp của thành viên dựa trên những đóng góp thực tế này nhằm đảm bảo quyền lợi hợp pháp của từng thành viên trong công ty TNHH hai thành viên trở lên.

17 Trường đại học Luật thành phố Hồ Chí Minh, tlđd (3), tr 172

18 Trường đại học Luật thành phố Hồ Chí Minh, tlđd (3), tr 173

Theo Nguyễn Văn Hùng (2014), thủ tục chuyển nhượng vốn trong công ty trách nhiệm hữu hạn đóng vai trò quan trọng trong quá trình chuyển nhượng quyền sở hữu Tài liệu phục vụ hội thảo về Luật Doanh nghiệp này nhấn mạnh rằng việc thực hiện đúng quy trình chuyển nhượng giúp đảm bảo quyền lợi các bên liên quan và tuân thủ pháp luật Các bước chuyển nhượng vốn cần được thực hiện theo đúng quy định pháp luật để tránh các rắc rối pháp lý về sau Đồng thời, các vướng mắc thường gặp trong quá trình thực thi luật chuyển nhượng vốn yêu cầu các doanh nghiệp cần có kiến thức rõ ràng và chính xác về các quy trình pháp lý liên quan.

Định đoạt thực tế là hành vi của chủ thể nhằm quyết định sự tồn tại thực tế của tài sản Th typically, việc này được thể hiện qua hành vi vật chất tác động trực tiếp vào bản thể của tài sản, khiến cho tài sản không còn tồn tại trên thực tế hoặc không còn trong quyền sở hữu của chủ thể nữa Xem thêm tại Trường đại học Luật thành phố Hồ Chí Minh, tlđd (3), tr 173.

Quyền định đoạt phần vốn góp của thành viên công ty là quyền “tối thượng” nhằm bảo vệ quyền lợi của chủ sở hữu, cho phép họ chuyển nhượng hoặc yêu cầu mua lại vốn góp của mình Tuy nhiên, theo quy định của luật doanh nghiệp, quyền này có những hạn chế nhất định, chỉ được thực hiện theo các hình thức luật định như chuyển nhượng qua thừa kế hoặc khi không muốn tiếp tục làm thành viên công ty Các quy định của Luật Doanh nghiệp 2020 về hạn chế định đoạt phù hợp với tính chất “công ty đóng” của công ty TNHH hai thành viên trở lên, nhằm duy trì tính ổn định, bảo vệ cơ cấu tổ chức và mục đích kinh doanh của công ty Việc giới hạn quyền định đoạt giúp tránh những thay đổi đột ngột về thành viên, ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh và vốn điều lệ, góp phần đảm bảo sự bền vững và phát triển lâu dài của doanh nghiệp.

Trong trường hợp không phải là thành viên của công ty, người sở hữu phần vốn góp vẫn có quyền định đoạt phần vốn này dựa trên quyền của chủ sở hữu vốn Quyền của chủ sở hữu vốn không chỉ cho phép các thành viên công ty mà còn những người không phải thành viên được xác lập quyền định đoạt vốn góp qua các hình thức hợp pháp như thừa kế, tặng cho, trả nợ bằng phần vốn góp Tuy nhiên, nếu người sở hữu phần vốn góp không được Hội đồng thành viên chấp thuận trở thành thành viên công ty hoặc pháp luật không quy định quyền này, họ có thể gặp hạn chế trong việc định đoạt phần vốn góp của mình.

Trường đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh không có căn cứ pháp lý để bảo vệ quyền lợi của mình, dẫn đến việc xâm phạm quyền sở hữu hợp pháp của các cá nhân hoặc tổ chức liên quan Việc này làm ảnh hưởng đến quyền lợi chính đáng của các bên có liên quan và có thể gây ra tranh chấp pháp lý Do đó, cần có các quy định rõ ràng nhằm đảm bảo quyền sở hữu hợp pháp và xử lý các vi phạm theo đúng quy định của pháp luật.

Quy định của pháp luật về quyền định đoạt phần vốn góp trong công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên

1.2.1 Chủ thể và đối tượng của quyền định đoạt phần vốn góp trong công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên

Chủ sở hữu phần vốn góp có thể thực hiện quyền định đoạt thông qua chuyển nhượng, tặng cho hoặc các hình thức khác theo quy định của pháp luật và Điều lệ công ty Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp, người nhận chuyển nhượng hoặc tặng cho không trở thành thành viên công ty như người thừa kế không muốn tham gia hoặc đối tượng không thuộc diện thừa kế hợp pháp và không được Hội đồng thành viên chấp thuận Điều này dẫn đến khả năng của các chủ thể chưa là thành viên công ty hoặc không thể trở thành thành viên trong việc định đoạt phần vốn góp của mình Trong công ty TNHH hai thành viên trở lên, phần vốn góp là tổng giá trị tài sản đã góp hoặc cam kết góp của từng thành viên Vấn đề đặt ra là quyền định đoạt phần vốn góp trong thời hạn cam kết sẽ được thể hiện như thế nào Cụ thể, cần xác định rõ các chủ thể có quyền định đoạt phần vốn góp và đối tượng của quyền này trong công ty TNHH hai thành viên trở lên.

1.2.1.1 Chủ thể có quyền định đoạt phần vốn góp trong công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên

Quyền của chủ sở hữu và quyền của thành viên công ty tạo điều kiện cho các chủ thể có quyền định đoạt phần vốn góp trong công ty TNHH hai thành viên trở lên Các chủ thể này bao gồm các thành viên góp vốn và các cá nhân, tổ chức có liên quan đến việc sở hữu và quản lý vốn góp trong công ty Việc xác định rõ quyền của từng chủ thể giúp đảm bảo quyền lợi hợp pháp cũng như thúc đẩy hoạt động kinh doanh hiệu quả của công ty TNHH hai thành viên trở lên điều này góp phần nâng cao tính minh bạch và sự công bằng trong quản lý vốn góp của công ty.

Thành viên công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên có quyền định đoạt phần vốn góp của mình trong công ty, gồm các hình thức chuyển nhượng, tặng cho và yêu cầu mua lại, theo quy định pháp luật và Điều lệ công ty So với các chủ thể chưa phải là thành viên, thành viên công ty có phạm vi quyền định đoạt rộng hơn do họ không chỉ là chủ sở hữu vốn mà còn mang tư cách là thành viên, tạo nên sự khác biệt về quyền hạn Chủ sở hữu doanh nghiệp, dựa trên ý chí của chính mình, đã đóng góp ý tưởng, tài sản, thời gian và công sức để hình thành doanh nghiệp, nên có quyền lợi cao hơn các chủ thể chỉ là chủ sở hữu vốn nhưng không là thành viên Pháp luật quy định phạm vi quyền định đoạt hẹp hơn cho các cá nhân, tổ chức không là thành viên nhằm nâng cao vị thế của thành viên công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên, đồng thời khẳng định vai trò của họ trong quản lý và điều hành doanh nghiệp.

Vào thứ hai, các cá nhân hoặc tổ chức sở hữu phần vốn góp nhưng chưa trở thành thành viên chính thức của công ty Các trường hợp này bao gồm người nhận chuyển nhượng đã hoàn tất thủ tục chuyển quyền sở hữu nhưng chưa được xác nhận là thành viên, người hưởng thừa kế hoặc người được tặng cho phần vốn góp đang trong quá trình thủ tục gia nhập công ty, cũng như người nhận thanh toán phần vốn góp từ thành viên dùng để trả nợ và đang làm thủ tục trở thành thành viên Ngoài ra, còn có những trường hợp chủ sở hữu phần vốn góp không muốn trở thành thành viên của công ty, như người được hưởng thừa kế từ chối tham gia công ty.

Theo quy định tại khoản 4 và điểm b khoản 7 Điều 53 của Luật Doanh nghiệp 2020, việc tặng cho không thuộc đối tượng thừa kế theo pháp luật và không được Hội đồng thành viên chấp thuận trở thành thành viên công ty, hay người nhận thanh toán do thành viên dùng phần vốn góp để trả nợ mà không có sự chấp thuận của Hội đồng thành viên Thành viên công ty có thể thực hiện hành vi pháp lý đơn phương hoặc qua các giao dịch để chuyển quyền sở hữu phần vốn góp của mình cho các chủ thể nêu trên, tuy nhiên, khi chưa được xác nhận tư cách thành viên hoặc chưa trở thành thành viên chính thức, quyền định đoạt phần vốn góp của họ sẽ bị hạn chế nhất định Đối với các chủ thể không trở thành thành viên công ty, họ có thể định đoạt phần vốn góp của mình bằng cách yêu cầu công ty mua lại hoặc chuyển nhượng theo quy định của pháp luật, và các trường hợp này sẽ được phân tích tại Chương 2 của tài liệu.

1.2.1.2 Đối tượng của quyền định đoạt phần vốn góp trong công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên

Phần vốn góp trong công ty TNHH hai thành viên trở lên được xác định dựa trên tổng giá trị tài sản mà mỗi thành viên đã góp hoặc cam kết góp vào công ty Thành viên phải thực hiện góp vốn đúng loại tài sản và đủ số lượng theo cam kết, trong vòng 90 ngày kể từ ngày được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp, không kể thời gian vận chuyển hay thủ tục nhập khẩu và chuyển quyền sở hữu Phần vốn góp gồm cả vốn đã thực góp và vốn cam kết góp, đặt ra câu hỏi về quyền định đoạt của thành viên đối với phần vốn cam kết góp trong công ty.

Theo quy định của Bộ luật Dân sự 2015 về tài sản hình thành trong tương lai, tài sản chưa hình thành được xem là một loại của tài sản hình thành trong tương lai Phần vốn cam kết góp có thể được xem là tài sản hình thành trong tương lai bởi vì nó là quyền tài sản và chưa được hình thành tại thời điểm cam kết góp Tại thời điểm cam kết, thành viên chỉ thỏa thuận về nghĩa vụ góp vốn, thời hạn góp, và tài sản dùng để thực hiện nghĩa vụ Các khoản vốn góp này có thể là tài sản đã hiện hữu như bất động sản, động sản, tiền, hoặc chưa hiện hữu như nợ chưa thu hồi, vay ngân hàng, hoặc tiền mượn.

Theo Khoản 2 Điều 108 Bộ luật Dân sự 2015, phần vốn góp cam kết vào doanh nghiệp dù được thể hiện qua tài sản đã hiện hữu hay chưa, vẫn chưa được chuyển vào doanh nghiệp và sẽ được thực hiện trong vòng 90 ngày kể từ ngày cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp, thể hiện tính “hình thành trong tương lai” Do đó, phần vốn cam kết góp vào công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên được xác định là tài sản hình thành trong tương lai, và các thành viên có quyền định đoạt đối với loại tài sản này Đồng thời, Khoản 2 Điều 47 Luật Doanh nghiệp 2020 quy định rằng trong thời hạn thực hiện nghĩa vụ góp vốn, thành viên có quyền và nghĩa vụ tương ứng với tỷ lệ vốn góp đã cam kết, bao gồm quyền định đoạt phần vốn góp của mình, nhằm đảm bảo quyền lợi và trách nhiệm của các thành viên trong quá trình góp vốn vào công ty.

1.2.2 Quy định của pháp luật về quyền chuyển nhượng phần vốn góp trong công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên

Chuyển nhượng phần vốn góp trong công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên không chỉ đơn thuần là việc chuyển giao giá trị tài sản mà còn liên quan đến việc chuyển giao tư cách thành viên Do đặc điểm là một loại hình công ty “đóng”, hình thành dựa trên sự quen biết và tin cậy giữa các thành viên, đồng thời có hạn chế trong việc tiếp cận của người ngoài, các quy định của Luật Doanh nghiệp đã thể hiện quyền quyết định của thành viên đối với phần vốn góp không chỉ phụ thuộc vào ý chí cá nhân mà còn gắn liền với quyền tự định đoạt tư cách thành viên.

Theo Từ điển Tiếng Việt, “chuyển nhượng là chuyển quyền sở hữu,” bao gồm các hình thức như thừa kế, tặng cho, hoặc trả nợ bằng phần vốn góp Tuy nhiên, quy định của Luật Doanh nghiệp năm 2020 tại Điều 49, khoản 1, điểm e, nhấn mạnh rằng việc định đoạt phần vốn góp phải theo quy định pháp luật và Điều lệ công ty, qua đó thể hiện cách hiểu chuyển nhượng không chỉ đơn thuần là chuyển quyền sở hữu Các điều khoản về chuyển nhượng phần vốn góp (Điều 52) và xử lý phần vốn góp trong trường hợp đặc biệt (Điều 53) cho thấy cách hiểu trên còn thiếu chính xác Bên cạnh đó, mục đích của các bên trong hoạt động chuyển nhượng phần vốn góp là hướng tới lợi nhuận và bên chuyển nhượng sẽ nhận lại bồi hoàn giá trị phần vốn góp còn lại.

26 Bùi Thị Thanh Thảo, tlđd (14), tr 21

27 Hoàng Phê (2003), Từ điển Tiếng Việt, Nhà xuất bản Hồng Đức, tr 188

Chuyển nhượng vốn trong công ty trách nhiệm hữu hạn liên quan đến việc chuyển quyền sở hữu phần vốn góp của chủ sở hữu cho tổ chức hoặc cá nhân khác, nhằm mục đích đầu tư có lợi nhuận Các giao dịch chuyển nhượng vốn nhằm mục đích thừa kế, tặng cho hoặc trả nợ không nhằm mục đích lợi nhuận, thể hiện rằng chuyển nhượng phần vốn góp là việc chuyển quyền sở hữu vốn và nhận lại giá trị phần vốn theo thỏa thuận của các bên.

Việc chuyển nhượng phần vốn góp trong công ty TNHH hai thành viên trở lên là một giao dịch dân sự, nhằm chuyển giao quyền sở hữu phần vốn góp từ bên chuyển nhượng sang bên nhận chuyển nhượng Bên chuyển nhượng là chủ sở hữu hợp pháp của phần vốn góp, bao gồm cả thành viên công ty và các chủ thể không phải thành viên Khi thực hiện giao dịch, bên nhận chuyển nhượng sẽ trở thành thành viên công ty, sở hữu phần vốn góp và có quyền tham gia quản lý công ty Theo khoản 3 Điều 17 Luật Doanh nghiệp 2020, các đối tượng như cơ quan nhà nước, đơn vị lực lượng vũ trang, hoặc các đối tượng không được phép góp vốn theo luật liên quan thì không được nhận chuyển nhượng phần vốn góp trong công ty TNHH hai thành viên trở lên Như vậy, các cá nhân, tổ chức không thuộc các trường hợp trên hoàn toàn có thể nhận chuyển nhượng phần vốn góp trong công ty TNHH hai thành viên trở lên.

Quy định về hoạt động chuyển nhượng vốn trong công ty TNHH hai thành viên trở lên thể hiện rõ nét tính “đóng” của loại hình doanh nghiệp này Theo Điều 52 của Luật Doanh nghiệp 2020, hoạt động chuyển nhượng phần vốn góp được quy định chặt chẽ, ngoại trừ một số trường hợp đặc biệt theo khoản luật định Điều này nhằm bảo vệ quyền lợi của các thành viên và duy trì sự ổn định trong quản lý công ty Các quy định cụ thể giúp đảm bảo tính minh bạch và kiểm soát chặt chẽ hoạt động chuyển nhượng vốn vào công ty TNHH hai thành viên trở lên.

Theo Điều 51, khoản 6 và khoản 7 của Luật Doanh nghiệp 2020, thành viên công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên có quyền chuyển nhượng phần hoặc toàn bộ vốn góp của mình Trước khi chuyển nhượng cho người ngoài, họ phải chào bán phần vốn này cho các thành viên còn lại theo tỷ lệ phần vốn góp của mỗi người, cùng điều kiện chào bán Quy định ưu tiên chuyển nhượng cho các thành viên còn lại giúp đảm bảo tính chất đối nhân của công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên, phù hợp với đặc điểm của loại hình doanh nghiệp này.

“Thông thường, giữa các thành viên của công ty đã có mối quan hệ

29 Bùi Thị Mỹ Khanh (2012), tlđd (28), tr 12

Trong quá trình thành lập và hoạt động của công ty trách nhiệm hữu hạn, việc ưu tiên chuyển nhượng vốn góp cho các thành viên còn lại dựa trên tỷ lệ vốn sở hữu là quy định hợp lý, nhằm duy trì sự tin cậy và ổn định trong nội bộ công ty Cơ cấu vốn góp không chỉ phản ánh quyền lực của chủ sở hữu mà còn ảnh hưởng đến quản trị, chính sách và hiệu quả điều hành, do đó việc thay đổi cơ cấu do chuyển nhượng vốn cần cân nhắc kỹ lưỡng để tránh gây mất ổn định và ảnh hưởng đến lợi ích của các bên liên quan Theo quy định của Luật Doanh nghiệp 2020, chủ sở hữu vốn góp phải chào bán phần vốn cho tất cả các thành viên còn lại với cùng một điều kiện, bao gồm giá cả, phương thức và thời hạn thanh toán; nếu sau 30 ngày các thành viên không mua hết phần vốn này, chủ sở hữu có thể chuyển nhượng cho người không phải thành viên với cùng điều kiện Quy định này giúp hạn chế các hành vi cố tình làm giá để dễ dàng bán ra bên ngoài, từ đó giữ vững tính ổn định và công bằng trong quá trình chuyển nhượng vốn góp của công ty.

31 Nguyễn Vinh Hưng, tlđd (2), tr 41

CÁC BẤT CẬP VÀ KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN CHO CÁC

Ngày đăng: 08/03/2023, 11:35

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
6. Nguyễn Vinh Hưng (2016), “Công ty TNHH hai thành viên trở lên trong môi trường kinh doanh hiện nay”, Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp, số 16 (320)/2016, tr. 40 - 45 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công ty TNHH hai thành viên trở lên trong môi trường kinh doanh hiện nay
Tác giả: Nguyễn Vinh Hưng
Nhà XB: Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp
Năm: 2016
7. Trường đại học Luật thành phố Hồ Chí Minh (2016), Giáo trình Pháp luật về chủ thể kinh doanh, Nhà xuất bản Hồng Đức - Hội luật gia Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Pháp luật về chủ thể kinh doanh
Tác giả: Trường đại học Luật thành phố Hồ Chí Minh
Nhà XB: Nhà xuất bản Hồng Đức - Hội luật gia Việt Nam
Năm: 2016
8. Bùi Ngọc Cường, Giáo trình Luật Thương mại, Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam, Hà Nội, 2010, Tập I Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Luật Thương mại
Tác giả: Bùi Ngọc Cường
Nhà XB: Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam
Năm: 2010
9. Phạm Hoài Huấn (chủ biên) (2015), Luật Doanh nghiệp Việt Nam - Tình huống - Dẫn giải - Bình luận, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật Doanh nghiệp Việt Nam - Tình huống - Dẫn giải - Bình luận
Tác giả: Phạm Hoài Huấn
Nhà XB: Nhà xuất bản Chính trị quốc gia
Năm: 2015
11. Nguyễn Văn Hùng (2014) “Thủ tục chuyển nhượng vốn trong công ty trách nhiệm hữu hạn”, tài liệu phục vụ hội thảo: Luật Doanh nghiệp và những vướng mắc trong thực thi, tr.51 - 57 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thủ tục chuyển nhượng vốn trong công ty trách nhiệm hữu hạn
Tác giả: Nguyễn Văn Hùng
Năm: 2014
13. Bùi Thị Mỹ Khanh (2012), Chuyển nhượng vốn trong công ty TNHH - những vấn đề lý luận và thực tiễn, Khoá luận tốt nghiệp, Trường Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chuyển nhượng vốn trong công ty TNHH - những vấn đề lý luận và thực tiễn
Tác giả: Bùi Thị Mỹ Khanh
Nhà XB: Trường Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh
Năm: 2012
19. Đỗ Văn Đại, Luật hợp đồng Việt Nam - Bản án và bình luận bản án, Nhà xuất bản Hồng Đức - Hội luật gia Việt NamBản án, quyết định của Toà án Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật hợp đồng Việt Nam - Bản án và bình luận bản án
Tác giả: Đỗ Văn Đại
Nhà XB: Nhà xuất bản Hồng Đức
10. Bùi Thị Thanh Thảo (2014), “Góp ý hoàn thiện các quy định về quyền định đoạt phần vốn góp của thành viên công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên”, Tạp chí Khoa học pháp lý, số 2 (81)/2014, tr. 20 - 28 Khác
18. Hoàng Anh Tuấn (2009), Một vài suy nghĩ về hợp đồng chuyển đổi hình thức công ty vô hiệu, Tạp chí Khoa học Đại học quốc gia Hà Nội, số 25/2009, tr.265 - 268 Khác
20. Bản án số 22/2018/KDTM-PT ngày 30 tháng 11 năm 2018 của Toà án nhân dân Thành phố Hải Phòng về việc Tranh chấp chuyển nhượng vốn góp giữa Thành viên công ty với nhau Khác
21. Bản án số 1002/2019/KDTM-ST ngày 19/08/2019 của Toà án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh về việc Tranh chấp giữa các thành viên với nhau liên quan đến hoạt động của công ty về hợp đồng chuyển nhượng vốn góp Khác
22. Bản án số 22/2018/KDTM-PT ngày 30/11/2018 của Toà án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng về việc Tranh chấp chuyển nhượng vốn góp giữa thành viên công ty với nhau Khác
23. Bản án số 08/2021/KDTM-PT ngày 10/02/2021 của Toà án nhân dân cấp cao tại Đà NẵngTài liệu internet Khác

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w