TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH KHOA LUẬT THƯƠNG MẠI PHẠM CẨM TÚ MUA CỔ PHẦN, PHẦN VỐN GÓP TRONG DOANH NGHIỆP CỦA NHÀ ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN L[.]
Tình hình nghiên cứu đề tài
Hoạt động của nhà đầu tư nước ngoài trong việc mua cổ phần hoặc phần vốn góp tại các doanh nghiệp Việt Nam là chủ đề quen thuộc trong nghiên cứu khoa học pháp lý, thu hút sự quan tâm của nhiều tác giả Nghiên cứu này giúp làm rõ các quy định pháp lý liên quan đến đầu tư nước ngoài, góp phần thúc đẩy sự minh bạch và an toàn trong hoạt động đầu tư tại Việt Nam Các bài viết tiêu biểu đã phân tích các quy trình, điều kiện và hạn chế đối với nhà đầu tư nước ngoài để thúc đẩy môi trường đầu tư mở, cạnh tranh và bền vững.
1 Nguyễn Sơn, Hoàng Hà, “Nhìn lại năm 2020 qua biến cố Covid-19”, https://nhandan.vn/binh-luan-quoc- te/nhin-lai-nam-2020-qua-bien-co-covid-19-630086/, truy cập ngày 28/5/2021
Theo Cục Đầu tư nước ngoài, xu hướng mua bán sáp nhập (M&A) đang diễn ra ngày càng mạnh mẽ, đặc biệt trong các ngành công nghiệp trọng yếu, gây lo ngại về khả năng các đối thủ chiếm lĩnh thị trường Việc các doanh nghiệp lớn thực hiện các thương vụ M&A có thể dẫn đến thay đổi đáng kể trong cơ cấu cạnh tranh và ảnh hưởng tiêu cực đến các ngành quan trọng của nền kinh tế Chính phủ cần cảnh báo và có các biện pháp kiểm soát nhằm đảm bảo sự phát triển bền vững và cân bằng trong các ngành công nghiệp then chốt (Nguồn: Cục Đầu tư nước ngoài, https://fia.mpi.gov.vn/Detail/CatID/3bdcb27f-403e-4f36-901e-1e9c71aa14cb/NewsID/76ba467e-5eab-4fbb-a6b1-d3b098e0fe01, truy cập ngày 29/5/2021).
Bài viết "Pháp luật về góp vốn, mua cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài trong các doanh nghiệp Việt Nam" của TS Doãn Hồng Nhung và ThS Nguyễn Thị Lan Anh cung cấp cái nhìn toàn diện về các quy định pháp lý liên quan đến việc nhà đầu tư nước ngoài đầu tư vào doanh nghiệp tại Việt Nam, nhấn mạnh tầm quan trọng của các điều kiện pháp lý để đảm bảo quyền lợi và nghĩa vụ của các bên Trong khi đó, bài viết "Một số vấn đề pháp lý về thủ tục gia nhập thị trường của nhà đầu tư nước ngoài tại Việt Nam" của ThS Từ Thanh Thảo tập trung phân tích các thủ tục pháp lý cần thiết để nhà đầu tư nước ngoài có thể tham gia thị trường Việt Nam một cách hợp pháp, đồng thời đề cập đến những thách thức và giải pháp đảm bảo quá trình đầu tư diễn ra thuận lợi Các bài viết đều làm rõ các quy định về điều kiện đầu tư, phạm vi lĩnh vực hạn chế, cũng như các bước thủ tục đăng ký và quản lý đầu tư, góp phần nâng cao nhận thức pháp lý cho các nhà đầu tư quốc tế tại Việt Nam.
Luật số 4(288)/2021 nhấn mạnh sự khác biệt rõ ràng giữa hai nội dung phân biệt đối xử đối với nhà đầu tư trong nước và nhà đầu tư nước ngoài, ảnh hưởng đến quyền lợi và môi trường đầu tư Theo Luật sư Phùng Thanh Sơn trong Tạp chí Nghiên cứu lập pháp số 10(109)/2007, việc phân biệt này cần được nhìn nhận để đảm bảo công bằng trong hoạt động đầu tư PGS TS Đặng Văn Thanh trong bài viết trên cùng tạp chí đề cập đến dự thảo luật đầu tư, trong đó đặt mục tiêu đảm bảo bình đẳng và thúc đẩy cạnh tranh công bằng giữa các nhà đầu tư trong và ngoài nước, góp phần thúc đẩy môi trường đầu tư phát triển bền vững.
10(61)/2005; “Một số bất cập của luật đầu tư liên quan đến đầu tư nước ngoài tại
Trong bài viết "Việt Nam" của TS Cao Nhất Linh và TS Hồ Đức Hiệp trên Tạp chí Tài chính số 728 tháng 5/2020, tác giả nhấn mạnh về vị trí của Việt Nam trong lĩnh vực đầu tư quốc tế, đồng thời phân tích các nguyên tắc đối xử công bằng và thỏa đáng trong giải quyết tranh chấp đầu tư quốc tế Nguyên tắc này đảm bảo quyền lợi hợp pháp của nhà đầu tư nước ngoài và giữ vững môi trường đầu tư minh bạch, hiệu quả tại Việt Nam Bài viết cũng đề cập đến các cơ chế giải quyết tranh chấp quốc tế phù hợp với quy định của pháp luật và các hiệp ước quốc tế mà Việt Nam tham gia, nhằm thúc đẩy hợp tác đầu tư bền vững giữa các bên.
ThS Nguyễn Thu Dung và ThS Cao Thị Lê Thương đã có những đóng góp quý báu trong hoạt động nghiên cứu pháp luật đầu tư nước ngoài, được thể hiện qua bài viết trên Tạp chí Nhà nước và Pháp luật số 8(352)/2017 Tuy nhiên, các đề tài nghiên cứu trước đó chủ yếu tập trung vào hoạt động đầu tư mua cổ phần và gắn liền với hoạt động góp vốn vào tổ chức kinh tế, trong khi hoạt động mua phần vốn góp vẫn còn chưa được chú trọng nghiên cứu đầy đủ Hiện tại, hoạt động mua cổ phần, mua phần vốn góp vẫn thiếu vắng các nghiên cứu sâu về hệ thống lý luận cũng như thực trạng pháp luật liên quan, làm hạn chế sự hiểu biết toàn diện về lĩnh vực này.
Nhiều nghiên cứu về hoạt động đầu tư nước ngoài tập trung vào việc mua cổ phần, mua phần vốn góp dưới góc độ đầu tư gián tiếp, nhưng chưa phản ánh đầy đủ bản chất pháp lý của hình thức đầu tư này Việc xem xét mua cổ phần, vốn góp là hình thức đầu tư trực tiếp có tác động lớn đến nhận thức pháp lý, giúp mở rộng quan điểm và phân tích sâu sắc hơn về hoạt động đầu tư nước ngoài.
Trong bối cảnh nhiều văn bản quy phạm pháp luật mới ra đời để thay thế các văn bản cũ và ảnh hưởng của đại dịch toàn cầu, lĩnh vực khoa học pháp lý vẫn còn thiếu các đề tài nghiên cứu về hoạt động đầu tư mua cổ phần và góp vốn trong điều kiện mới Các nghiên cứu này rất cần thiết để phân tích, đánh giá, bình luận và đề xuất các cải tiến nhằm hoàn thiện hệ thống pháp luật về hoạt động đầu tư trong bối cảnh hiện tại.
Nghiên cứu đề tài “Mua cổ phần, phần vốn góp trong doanh nghiệp của nhà đầu tư nước ngoài theo pháp luật Việt Nam” của tác giả dựa trên các công trình nghiên cứu trước đó, đồng thời kết hợp góc nhìn mới phù hợp với bối cảnh hiện tại Mục tiêu của bài viết là làm rõ hệ thống lý luận và thực trạng pháp luật về đầu tư nước ngoài vào mua cổ phần, phần vốn góp trong doanh nghiệp tại Việt Nam Bài viết nhấn mạnh vai trò của hoạt động này trong việc thúc đẩy đầu tư nước ngoài, mở cửa thị trường, đồng thời giữ vững ổn định và bảo vệ nền kinh tế nội địa.
Mục đích nghiên cứu đề tài
Đề tài nhằm cung cấp góc nhìn pháp lý toàn diện về hoạt động đầu tư mua cổ phần, mua phần vốn góp của nhà đầu tư nước ngoài, góp phần hoàn thiện pháp luật điều chỉnh hoạt động đầu tư này Mục tiêu chính là phân tích các quy định pháp luật liên quan, làm rõ quyền và nghĩa vụ của các bên tham gia, đồng thời đề xuất các giải pháp hoàn thiện khung pháp lý nhằm thúc đẩy hoạt động đầu tư nước ngoài hiệu quả và bền vững Việc nghiên cứu này góp phần nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước, tạo điều kiện thuận lợi cho các nhà đầu tư quốc tế tiến hành hoạt động đầu tư phù hợp quy định của pháp luật Việt Nam.
Giải mã cơ sở lý luận của quy định pháp luật về hoạt động mua cổ phần, mua phần vốn góp của nhà đầu tư nước ngoài tại Việt Nam giúp hiểu rõ bản chất pháp lý của hình thức đầu tư này Các vấn đề liên quan đến quyền lợi của nhà đầu tư nước ngoài, cũng như tác động của hoạt động đầu tư tới doanh nghiệp và nền kinh tế - xã hội Việt Nam được phân tích rõ ràng Đề tài làm rõ các hình thức đầu tư mua cổ phần, mua phần vốn góp căn cứ trên cơ sở pháp lý, từ đó đánh giá ảnh hưởng của hoạt động này đến sự phát triển và hội nhập của Việt Nam. -**Sponsor**Looking to refine your article and boost its SEO? As a content creator, I understand the importance of coherent paragraphs and SEO-friendly writing Consider [Article Generation](https://pollinations.ai/redirect-nexad/WHsyjhtT) to effortlessly create high-quality, SEO-optimized content in minutes, saving time and money Perfect for ensuring your article resonates and ranks well! With Article Generation, you can refine your existing content or create new pieces with ease.
Nghiên cứu phân tích thực trạng pháp luật điều chỉnh hoạt động mua cổ phần, mua phần vốn góp của nhà đầu tư nước ngoài nhằm đề xuất các giải pháp phù hợp Đề tài tập trung vào khung pháp lý hiện hành, phân tích các quy định pháp luật liên quan và đánh giá tính phù hợp với lý luận cũng như thực tiễn Bên cạnh đó, nghiên cứu làm rõ cách hiểu và áp dụng đúng đắn các quy định pháp luật, đồng thời bình luận về tính khả thi của các chế định hiện hành dựa trên kinh nghiệm pháp luật quốc tế Ngoài ra, đề tài xác định những vướng mắc trong pháp luật điều chỉnh hoạt động của nhà đầu tư nước ngoài mua cổ phần, đề xuất giải pháp dựa trên nghiên cứu lý luận và mô hình pháp luật của các quốc gia.
Phương pháp tiến hành nghiên cứu
Đề tài tập trung vận dụng linh hoạt các phương pháp nghiên cứu khoa học pháp lý để xác định bản chất của vấn đề và đề xuất giải pháp tối ưu Tùy thuộc vào đặc thù của từng vấn đề, tác giả lựa chọn phương pháp phù hợp nhằm đảm bảo tính khách quan và chính xác trong phân tích Các phương pháp nghiên cứu pháp lý được áp dụng bao gồm nhiều kỹ thuật khác nhau như phân tích, so sánh, tổng hợp dữ liệu pháp lý, giúp làm rõ các khía cạnh phức tạp của vấn đề Việc lựa chọn phương pháp phù hợp không chỉ nâng cao hiệu quả nghiên cứu mà còn góp phần tạo ra các giải pháp khả thi, phù hợp với thực tiễn pháp lý hiện hành Áp dụng linh hoạt các phương pháp nghiên cứu khoa học pháp lý là bước quan trọng để khám phá sâu sắc bản chất vấn đề và đề xuất các giải pháp thực tiễn và bền vững.
Phương pháp duy vật biện chứng giúp phân tích pháp luật đầu tư mua cổ phần và phần vốn góp trong mối liên hệ mật thiết với các yếu tố như cơ cấu tổ chức quản lý doanh nghiệp, nền kinh tế Việt Nam và các cam kết quốc tế mà Việt Nam là thành viên Pháp luật về hoạt động đầu tư này được xem xét trong sự tác động và ràng buộc lẫn nhau của các hiện tượng xã hội, đồng thời phù hợp với quá trình vận động và phát triển của xã hội Việt Nam cũng như thế giới, giúp đánh giá toàn diện và sâu sắc hơn về tính chất và xu hướng của pháp luật đầu tư.
Phương pháp phân tích và tổng hợp giúp chia đề tài thành các vấn đề nhỏ hơn để dễ nghiên cứu và bình luận, từ đó hiểu sâu sắc về bản chất pháp lý của luật đầu tư mua cổ phần và mua phần vốn góp của nhà đầu tư nước ngoài Việc chia nội dung thành các phần riêng biệt cho phép phân tích đa chiều, làm rõ cơ sở hình thành và bản chất của pháp luật đầu tư, góp phần tổng hợp và đúc kết những vấn đề then chốt về quy định pháp luật liên quan đến đầu tư nước ngoài vào lĩnh vực cổ phần và vốn góp.
Phương pháp luật học so sánh giúp phân tích điểm giống và khác giữa pháp luật Việt Nam và pháp luật quốc tế, từ đó hiểu rõ sự phát sinh và biến đổi của các quy phạm pháp luật trong bối cảnh kinh tế, chính trị, văn hóa và lịch sử của mỗi nước Việc so sánh này còn giúp lý giải giá trị và vai trò của các quy định pháp luật, nhằm đưa ra các đề xuất hoàn thiện pháp luật Việt Nam liên quan đến hoạt động mua cổ phần, mua phần vốn góp của nhà đầu tư nước ngoài Thông qua học hỏi, tham khảo pháp luật của các quốc gia khác, phương pháp này hỗ trợ xây dựng các chính sách pháp lý phù hợp, thúc đẩy quy trình đầu tư nước ngoài tại Việt Nam.
Bố cục tổng quát của khóa luận
Nội dung đề tài được chia làm hai phần, bao gồm:
Chương 1: Một số vấn đề lý luận về khái niệm, hình thức đầu tư mua cổ phần, mua phần vốn góp của nhà đầu tư nước ngoài;
Chương 2: Thực trạng pháp luật về hoạt động mua cổ phần, mua phần vốn góp của nhà đầu tư nước ngoài và một số kiến nghị
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG MUA CỔ PHẦN, PHẦN VỐN GÓP CỦA NHÀ ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI TRONG CÁC DOANH NGHIỆP VIỆT NAM
Khái niệm nhà đầu tư nước ngoài
Học thuyết lợi thế so sánh của David Ricardo (1817) cho thấy mỗi quốc gia sẽ hưởng lợi khi chuyên môn hóa sản xuất và xuất khẩu những mặt hàng cạnh tranh nhất Quan hệ thương mại quốc tế ra đời để thúc đẩy hoạt động mua bán hàng hóa xuyên quốc gia, vượt qua những trở ngại ban đầu Đầu tư nước ngoài là giải pháp quan trọng giúp các nước giảm bớt khó khăn về vốn, công nghệ và quản lý, đồng thời thúc đẩy phát triển ngành sản xuất không phải lợi thế của mình Nhờ đó, các doanh nghiệp có thể giảm chi phí sản xuất, tăng lợi nhuận và mở rộng thị trường trong môi trường cạnh tranh quốc tế khắt khe hơn Đầu tư ra nước ngoài trở thành xu hướng tất yếu, góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh và phát triển kinh tế của các quốc gia.
Sự phát triển mạnh mẽ của đầu tư nước ngoài tại Việt Nam đã thúc đẩy sự hoàn thiện của hệ thống pháp luật liên quan Để hướng dẫn chính sách và bảo đảm thực thi pháp luật, Luật Đầu tư 2020 đã chính thức đưa ra định nghĩa về nhà đầu tư nước ngoài Định nghĩa này phản ánh các đặc điểm chủ yếu của nhà đầu tư dựa trên tiêu chí quốc tịch, qua đó xác định tính chất "nước ngoài" của nhà đầu tư theo quy định của pháp luật Việt Nam.
Theo Luật Đầu tư 2020, nhà đầu tư gồm hai nhóm đối tượng là cá nhân hoặc tổ chức, có dấu hiệu thực hiện hoạt động đầu tư kinh doanh Nhà đầu tư có thể là một người hoặc tổ chức mà không bắt buộc phải là pháp nhân, và hoạt động đầu tư không bị giới hạn trong việc thành lập tổ chức kinh tế, góp vốn, mua cổ phần hoặc thực hiện dự án đầu tư Hoạt động đầu tư kinh doanh được xác định dựa trên việc sử dụng tiền hoặc tài sản để thu lợi nhuận và lợi ích kinh tế xã hội, phản ánh bản chất “đầu tư kinh doanh” như việc bỏ vốn để thực hiện hoạt động kinh doanh Như vậy, nhà đầu tư là người hoặc tổ chức sử dụng tài chính hoặc tài sản khác nhằm mục đích thu về lợi ích kinh tế và xã hội.
The principle of comparative advantage states that each country benefits by specializing in the production and export of goods it can produce at relatively low costs Conversely, countries should import goods that they produce at higher costs to maximize economic efficiency and mutual gains This concept underscores the importance of international trade for economic growth and resource optimization.
4 Khoản 18 Điều 3 Luật Đầu tư 2020
5 Khoản 8 Điều 3 Luật Đầu tư 2020
Theo Luật Đầu tư 2020, nhà đầu tư nước ngoài được định nghĩa là các chủ thể mang các đặc điểm bản chất của nhà đầu tư, gồm cá nhân có quốc tịch nước ngoài và tổ chức thành lập theo pháp luật nước ngoài Đối với cá nhân, để được xem là nhà đầu tư nước ngoài, họ cần có quốc tịch của quốc gia không phải là Việt Nam; đồng thời, trong trường hợp cá nhân mang cả hai quốc tịch Việt Nam và nước ngoài, việc xác định tư cách nhà đầu tư nước ngoài dựa trên ý chí của cá nhân và lựa chọn áp dụng quy định phù hợp Đối với tổ chức, pháp luật đầu tư Việt Nam xác định quốc tịch nước ngoài theo tiêu chí pháp luật nơi thành lập (incorporation), được sử dụng phổ biến toàn cầu nhờ tính minh bạch và dễ xác định, trong đó một tổ chức thành lập theo pháp luật nước ngoài được coi là có quốc tịch nước ngoài Yếu tố nguồn gốc vốn góp không ảnh hưởng đến tư cách nhà đầu tư nước ngoài của chủ thể, mà việc xác định dựa trên tiêu chí pháp luật thành lập của tổ chức.
Theo quy định của Luật Đầu tư 2020, để xác định một chủ thể là nhà đầu tư nước ngoài, cần phải xem xét liệu chủ thể đó có đầy đủ đặc điểm của nhà đầu tư hay không, tức là tổ chức hoặc cá nhân sử dụng tiền hoặc tài sản khác để hoạt động sản xuất kinh doanh nhằm mục đích sinh lợi trong một khoảng thời gian nhất định Ngoài ra, chủ thể đó phải đáp ứng điều kiện về quốc tịch, nghĩa là phải có quốc tịch hoặc được thành lập theo pháp luật của một quốc gia khác Việt Nam.
Các văn bản pháp luật của Việt Nam, ngoài Luật Đầu tư 2020, cũng đưa ra các định nghĩa về nhà đầu tư nước ngoài để phù hợp với các hoạt động quản lý kinh tế Thông tư 06/2019/TT-NHNN ngày 26/6/2019 hướng dẫn quản lý ngoại hối liên quan đến đầu tư trực tiếp nước ngoài quy định rằng "nhà đầu tư nước ngoài" gồm cá nhân có quốc tịch nước ngoài và tổ chức thành lập theo pháp luật nước ngoài thực hiện hoạt động đầu tư trực tiếp vào Việt Nam, phù hợp với Luật Đầu tư 2020 Tuy nhiên, một số văn bản pháp luật như Nghị định 01/2014/NĐ-CP lại có những định nghĩa khác, trong đó "nhà đầu tư" được hiểu là bao gồm cả tổ chức và cá nhân nước ngoài mua cổ phần của tổ chức tín dụng Việt Nam, gây ra những mâu thuẫn trong quy định pháp luật về khái niệm nhà đầu tư nước ngoài tại Việt Nam.
Khoản 2 Điều 16 của Nghị định 31/2021/NĐ-CP ngày 26/3/2021 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Đầu tư Nghị định này cung cấp các hướng dẫn cụ thể về quy trình, thủ tục và điều kiện để thực hiện các dự án đầu tư nhằm tạo điều kiện thuận lợi và minh bạch cho các nhà đầu tư Các quy định trong nghị định nhằm đảm bảo việc chấp hành pháp luật về đầu tư, đồng thời thúc đẩy hoạt động đầu tư trong nước và quốc tế.
7 Khoản 1 Điều 3 Thông tư 06/2019/TT-NHNN
8 Khoản 3 Điều 3 Nghị định 01/2014/NĐ-CP
Các tổ chức bao gồm tổ chức thành lập và hoạt động theo pháp luật nước ngoài, chi nhánh của các tổ chức này tại nước ngoài và tại Việt Nam Ngoài ra, còn có các tổ chức, quỹ đóng, quỹ thành viên và công ty đầu tư chứng khoán thành lập tại Việt Nam với tỷ lệ góp vốn của bên nước ngoài trên 49%.
Theo quy định của Luật Đầu tư 2020, chỉ tổ chức thành lập theo pháp luật nước ngoài mới được xem là nhà đầu tư nước ngoài, trong khi Nghị định 01/2014/NĐ-CP xác định tổ chức thành lập tại Việt Nam có tỷ lệ vốn sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài trên 49% cũng là nhà đầu tư nước ngoài Định nghĩa này ra đời nhằm đối phó với hiện tượng “đầu tư chéo”, khi nhà đầu tư nước ngoài thành lập doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài tại Việt Nam rồi dùng doanh nghiệp này để đầu tư vào các ngành nghề bị hạn chế, qua đó tránh các hạn chế đầu tư kinh doanh cho nhà đầu tư nước ngoài Chính sách này thể hiện nỗ lực của chính phủ trong việc hạn chế thủ thuật “đầu tư chéo” nhằm lách luật và mở rộng khả năng tiếp cận thị trường cho các nhà đầu tư nước ngoài hợp pháp.
Cơ sở lý luận của biện pháp này không thực sự vững chắc vì việc thay đổi tỷ lệ sở hữu vốn điều lệ liên tục dẫn đến việc thay đổi địa vị pháp lý của doanh nghiệp Thay đổi tỷ lệ vốn đầu tư nước ngoài thường xuyên có thể khiến vị trí pháp lý của doanh nghiệp dao động liên tục, đặc biệt khi tỷ lệ này quanh mức 49%, gây bất ổn định trong hoạt động kinh doanh.
Khái niệm hoạt động mua cổ phần và mua phần vốn góp trong doanh nghiệp 7 1.3 Quyền lợi nhà đầu tư nước ngoài có được khi đầu tư mua cổ phần, mua phần vốn góp trong doanh nghiệp Việt Nam
Việc gặp phải những rào cản trong hoạt động đầu tư sẽ làm giảm khả năng thu hút vốn đầu tư nước ngoài vào doanh nghiệp Việt Nam Điều này có thể tạo ra tâm lý e ngại và thiếu tin tưởng cho các nhà đầu tư quốc tế, ảnh hưởng đến dòng vốn đầu tư trực tiếp vào thị trường Việt Nam.
Định nghĩa về nhà đầu tư nước ngoài theo Luật Đầu tư 2020 vẫn là cách hiểu hợp lý và phù hợp thực tiễn nhất hiện nay Xác định tư cách nhà đầu tư nước ngoài dựa vào nơi thành lập, không dựa vào nguồn gốc vốn Để thuận lợi cho việc áp dụng pháp luật và quản lý nhà nước, cần thống nhất cách hiểu về nhà đầu tư, chỉ xem tổ chức là nhà đầu tư nước ngoài khi được thành lập theo pháp luật nước ngoài Các doanh nghiệp thành lập theo pháp luật Việt Nam dù có tỷ lệ vốn nước ngoài bao nhiêu đi chăng nữa, vẫn được công nhận là doanh nghiệp Việt Nam.
1.2 Khái niệm hoạt động mua cổ phần và mua phần vốn góp trong doanh nghiệp
Theo Luật Doanh nghiệp 2020, "vốn điều lệ được chia thành nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần," cho thấy cổ phần là phần vốn điều lệ bằng nhau, đại diện cho phần vốn nhỏ nhất trong công ty cổ phần Việc sở hữu cổ phần giúp phát sinh tư cách cổ đông của công ty cổ phần Cổ phần gồm cổ phần phổ thông và cổ phần ưu đãi, trong đó cổ phần phổ thông là loại cổ phần bắt buộc và phổ biến nhất trong công ty cổ phần.
ThS Từ Thanh Thảo (2012) đã phân tích các vấn đề pháp lý liên quan đến thủ tục gia nhập thị trường của nhà đầu tư nước ngoài tại Việt Nam, nhấn mạnh tầm quan trọng của việc tuân thủ các quy định pháp luật để đảm bảo quá trình đầu tư diễn ra thuận lợi Trong bài viết trên Tạp chí Nhà nước & Pháp luật, số 4 (288)/2012, tác giả đề cập đến các thủ tục bắt buộc và những quy định pháp luật cần thiết cho các nhà đầu tư nước ngoài để tham gia thị trường Việt Nam một cách hợp pháp và hiệu quả Nghiên cứu cũng làm rõ các ràng buộc pháp lý và các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình cấp phép dự án đầu tư của nhà đầu tư nước ngoài, góp phần nâng cao hiểu biết về quy trình pháp lý liên quan đến thị trường Việt Nam.
10 Điểm a khoản 1 Điều 111 Luật Doanh nghiệp 2020
Trong công ty cổ phần, có 8 yếu tố bắt buộc phải có để đảm bảo hoạt động đúng pháp luật và hiệu quả kinh doanh Doanh nghiệp có quyền chào bán cổ phần cho các nhà đầu tư, mở ra cơ hội huy động vốn mở rộng quy mô kinh doanh Đồng thời, cổ đông cũng có quyền tự do chuyển nhượng cổ phần của mình theo quy định của pháp luật, tạo điều kiện thuận lợi cho việc góp vốn và kỳ vọng sinh lợi từ cổ phần Các yếu tố này không chỉ đảm bảo tính minh bạch và công bằng trong quản lý công ty cổ phần mà còn thúc đẩy sự phát triển bền vững của doanh nghiệp trong môi trường kinh doanh cạnh tranh.
Mua cổ phần là hình thức nhà đầu tư trực tiếp đóng góp tài sản vào doanh nghiệp, qua đó góp vốn vào công ty cổ phần bằng cách mua cổ phần do công ty phát hành Đây cũng có thể là việc bỏ ra một khoản tiền hoặc tài sản nhất định để nhận chuyển nhượng quyền sở hữu vốn của công ty từ cổ đông hiện tại, từ đó xác lập tư cách cổ đông, cùng hưởng lợi và chịu rủi ro Quá trình này giúp nhà đầu tư tham gia vào quản lý và lợi ích của doanh nghiệp trong tương lai.
Theo Luật Doanh nghiệp 2020, phần vốn góp là tổng giá trị tài sản mà thành viên đã góp hoặc cam kết góp vào vốn điều lệ của công ty trách nhiệm hữu hạn hoặc công ty hợp danh Phần vốn góp thể hiện quyền sở hữu của thành viên đối với vốn chủ sở hữu, là tài sản thuộc quyền sở hữu của thành viên trong công ty Thành viên có quyền chuyển nhượng phần vốn góp của mình theo quy định của pháp luật, đảm bảo quyền lợi và nghĩa vụ của các bên trong quá trình góp vốn và chuyển nhượng.
“Mua phần vốn góp” là hoạt động nhận chuyển nhượng phần vốn góp, nhà đầu tư bằng việc bỏ ra một số tiền hoặc tài sản nhất định đổi lại nhận chuyển nhượng giá trị tài sản mà bên chuyển nhượng đã góp vào công ty, từ đó xác lập tư cách thành viên công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty hợp danh, cùng hưởng lợi nhuận và chịu rủi ro
Mua cổ phần hoặc phần vốn góp là hoạt động đầu tư để đổi lấy quyền sở hữu và chia sẻ lợi nhuận, rủi ro cùng công ty Tuy nhiên, khác với góp vốn để tăng vốn điều lệ, việc mua cổ phần từ công ty phát hành cổ phiếu nhằm huy động vốn sẽ làm tăng vốn điều lệ của doanh nghiệp Trong khi đó, mua cổ phần từ cổ đông hoặc thành viên công ty chỉ chuyển quyền sở hữu mà không ảnh hưởng đến vốn điều lệ do không đóng góp thêm tài sản vào doanh nghiệp.
Nhà đầu tư nước ngoài mua cổ phần hoặc phần vốn góp để tham gia quản lý doanh nghiệp được xem là hình thức đầu tư trực tiếp, mang lại sự kiểm soát và ảnh hưởng đến hoạt động của doanh nghiệp Trong khi đó, việc mua cổ phần hoặc phần vốn góp nhằm mục đích sinh lợi qua chuyển nhượng mà không tham gia quản lý được coi là đầu tư gián tiếp, đặc biệt khi khoản đầu tư không vượt quá 10% tổng vốn đầu tư theo thông lệ quốc tế Đầu tư theo hình thức gián tiếp thường ít ảnh hưởng đến tổ chức kinh tế và quốc gia tiếp nhận hơn so với đầu tư trực tiếp, vốn có thể tạo ra nhiều thay đổi trong cơ cấu tổ chức doanh nghiệp và cơ cấu kinh tế của quốc gia Tuy nhiên, pháp luật Việt Nam vẫn chưa quy định rõ ràng về việc khi nào nhà đầu tư mua cổ phần mới được quyền tham gia quản lý doanh nghiệp.
11 Khoản 27 Điều 4 Luật Doanh nghiệp 2020
Theo nghiên cứu của TS Doãn Hồng Nhung và ThS Nguyễn Thị Lan Anh (2012), pháp luật Việt Nam quy định rõ về việc góp vốn và mua cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài trong các doanh nghiệp tại Việt Nam Các quy định này nhằm hướng tới tạo môi trường đầu tư minh bạch và thúc đẩy phát triển kinh tế nước nhà Tác giả nhấn mạnh rằng, việc kiểm soát chặt chẽ các hoạt động góp vốn và mua cổ phần giúp bảo vệ lợi ích quốc gia và đảm bảo sự công bằng trong cạnh tranh doanh nghiệp Ngoài ra, luật pháp về lĩnh vực này còn quy định các điều kiện, phạm vi và thủ tục cần thiết để nhà đầu tư nước ngoài tham gia vào thị trường Việt Nam một cách hợp pháp và hiệu quả.
9 chức quản lý và vấn đề tài chính doanh nghiệp, hoặc thậm chí có thể tác động đến nền kinh tế của quốc gia tiếp nhận đầu tư
Mua cổ phần hoặc phần vốn góp đơn giản là một hoạt động giao dịch mua bán lợi ích Để thực hiện việc mua bán này, cần có chủ thể sở hữu hợp pháp lợi ích mà bên mua hướng tới Trong giao dịch mua cổ phần, đặc biệt khi nhà đầu tư nước ngoài tham gia, bên bán phải có quyền sở hữu hợp pháp đối với cổ phần hoặc phần vốn góp đó.
Cổ phần và phần vốn góp mang tính chất là vốn trong doanh nghiệp, trong đó các chủ sở hữu chính là các cổ đông hoặc thành viên công ty Chủ sở hữu cổ phần trong công ty cổ phần là các cá nhân hoặc tổ chức sở hữu ít nhất một cổ phần, với quyền sở hữu hợp pháp thuộc về cổ đông công ty Việc mua cổ phần từ cổ đông là cách thức phổ biến để nhà đầu tư nước ngoài tham gia vào công ty cổ phần Trong các công ty trách nhiệm hữu hạn hoặc công ty hợp danh, phần vốn góp thể hiện tổng giá trị tài sản đã cam kết hoặc góp của các thành viên, những người có quyền sở hữu hợp pháp đối với phần vốn góp trong công ty Mua phần vốn góp từ các thành viên này là phương thức để các nhà đầu tư nước ngoài đầu tư vào các loại hình doanh nghiệp này.
Việc mua cổ phần hoặc phần vốn góp từ cổ đông hoặc thành viên công ty giúp nhà đầu tư nước ngoài trở thành cổ đông hoặc thành viên của công ty theo tỷ lệ sở hữu tương ứng với số cổ phần hoặc phần vốn góp đã mua Quá trình này có thể làm thay đổi chủ sở hữu của công ty mà không làm thay đổi tổng số vốn điều lệ Khi mua cổ phần hoặc phần vốn góp, nhà đầu tư nước ngoài được chuyển giao quyền của các cổ đông hoặc thành viên trong tổ chức kinh tế, đồng thời tăng quyền kiểm soát và lợi ích trong công ty Tuy nhiên, phương thức này không ảnh hưởng đến tổng vốn góp của công ty, chỉ thay đổi danh sách các chủ sở hữu.
Phần vốn góp là tổng giá trị tài sản mà thành viên công ty góp hoặc cam kết góp, và sự tồn tại của phần vốn góp gắn liền mật thiết với thành viên công ty, không thể tách rời Nó chỉ phát sinh khi có hành vi góp hoặc cam kết góp vốn vào công ty, qua đó đồng thời hình thành tư cách thành viên của tổ chức hoặc cá nhân góp vốn Để mua phần vốn góp trong các loại hình công ty như trách nhiệm hữu hạn hoặc công ty hợp danh, không có cách nào khác ngoài việc mua trực tiếp từ các thành viên của công ty.
Các yếu tố chi phối pháp luật điều chỉnh hoạt động mua cổ phần, mua phần vốn góp của nhà đầu tư nước ngoài trong doanh nghiệp Việt Nam
1.4.1 Đảm bảo quyền tự do đầu tư kinh doanh của nhà đầu tư nước ngoài tại Việt Nam
Hội nhập kinh tế quốc tế đóng vai trò quan trọng thúc đẩy tăng trưởng kinh tế của Việt Nam Phát triển thương mại thông qua các hiệp định thương mại tự do mang lại mức độ tự do hóa cao, tạo cơ hội lớn cho thương mại và đầu tư Các hiệp định này không chỉ mở ra thị trường rộng lớn với các nền kinh tế phát triển mà còn thúc đẩy cải cách hành chính, hoàn thiện môi trường thương mại và đầu tư trong nước.
Hiệp định thương mại tự do thế hệ mới đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy mục tiêu phát triển bền vững của Việt Nam Theo TS Nguyễn Sơn, các FTA mới giúp Việt Nam mở rộng thị trường xuất khẩu, thu hút đầu tư nước ngoài, đồng thời nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp trong nước Những hiệp định này còn hỗ trợ chuyển đổi số, thúc đẩy đổi mới sáng tạo và phát triển các ngành công nghiệp xanh, góp phần bảo vệ môi trường và nâng cao chất lượng cuộc sống người dân Vì vậy, các FTA thế hệ mới là công cụ chiến lược giúp Việt Nam đạt được các mục tiêu phát triển bền vững lâu dài.
“Tự do hóa đầu tư là quá trình trong đó các rào cản đối với hoạt động đầu tư, các phân biệt đối xử trong đầu tư được từng bước dỡ bỏ, các tiêu chuẩn đối xử tiến bộ dần dần được thiết lập và các yếu tố để đảm bảo sự hoạt động đúng đắn của thị trường được hình thành” 17 Ảnh hưởng của nội dung tự do hóa đầu tư trong các hiệp định thương mại tự do mà Việt Nam là thành viên đặt ra yêu cầu xây dựng chính sách đảm bảo quyền tự do đầu tư kinh doanh của nhà đầu tư nước ngoài tại Việt Nam
Trong những năm qua, Việt Nam đã cải thiện môi trường pháp lý nhằm thu hút đầu tư nước ngoài, tạo điều kiện thuận lợi cho các nhà đầu tư Theo tinh thần của Hiến pháp, mọi người có quyền tự do kinh doanh trong các ngành nghề không bị pháp luật cấm, góp phần thúc đẩy sự phát triển của thị trường Các chế định về đầu tư mua cổ phần, góp vốn của nhà đầu tư nước ngoài được xây dựng dựa trên nguyên tắc tôn trọng quyền tự do của các nhà đầu tư, góp phần nâng cao sức hấp dẫn của môi trường đầu tư tại Việt Nam.
Nhà đầu tư nước ngoài không bị giới hạn theo ngành nghề khi mua cổ phần hoặc vốn góp trong một số lĩnh vực nhất định, nhưng phải tuân thủ các quy định về ngành nghề không được phép đầu tư hoặc phải đáp ứng các điều kiện đặc thù Tuy nhiên, phạm vi đầu tư của nhà nước ngoài vẫn bị thu hẹp trong một số ngành nghề đặc thù Các ngành liên quan đến an ninh quốc gia, chủ quyền đất nước như đánh bắt, khai thác hải sản, hoặc các lĩnh vực ảnh hưởng trực tiếp đến cuộc sống, sức khỏe, đạo đức công cộng như dịch vụ đưa lao động đi làm việc ở nước ngoài, kiểm định, giáo dục cần hạn chế sự tham gia của nhà đầu tư nước ngoài Tùy theo tính chất của từng ngành, việc cho phép hoặc hạn chế nhà đầu tư nước ngoài tham gia vào hoạt động đầu tư đều phải dựa trên các quy định điều kiện cụ thể.
Quy định này không nhằm hạn chế quyền tự do đầu tư kinh doanh của nhà đầu tư nước ngoài, mà nhằm bảo vệ an ninh và chủ quyền quốc gia Nhà đầu tư nước ngoài vẫn được đảm bảo quyền tự do lựa chọn ngành nghề đầu tư phù hợp, miễn là không gây nguy cơ xâm phạm đến an ninh, lợi ích quốc gia và dân tộc Việt Nam.
Pháp luật Việt Nam tôn trọng quyền tự chủ của nhà đầu tư nước ngoài trong quyết định đầu tư kinh doanh Không có quy định nào cấm hoặc hạn chế nhà đầu tư nước ngoài đưa ra các quyết định nhằm mục đích tối đa hóa lợi ích hợp pháp Việc quản lý vốn và hoạt động đầu tư hoàn toàn do ý chí của nhà đầu tư quyết định, không bị can thiệp bất hợp lý từ phía nhà nước.
Quyền tự do đầu tư mua cổ phần và phần vốn góp của nhà đầu tư nước ngoài được pháp luật Việt Nam tôn trọng và khuyến khích, tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển kinh tế và hội nhập quốc tế Tuy nhiên, việc thực hiện quyền này phải tuân thủ các quy định pháp luật, đảm bảo không xâm phạm chủ quyền, an ninh quốc gia, lợi ích quốc gia, và lợi ích dân tộc.
Tự do hóa đầu tư (Investment Liberalization) là quá trình mở cửa thị trường để thu hút và tạo điều kiện thuận lợi cho các nhà đầu tư trong và ngoài nước Quá trình này giúp giảm các rào cản pháp lý, thủ tục hành chính và hạn chế đối với hoạt động đầu tư, từ đó thúc đẩy sự phát triển kinh tế và hội nhập quốc tế Nội dung của tự do hóa đầu tư bao gồm việc cải thiện môi trường đầu tư, nâng cao minh bạch và cạnh tranh, cũng như tạo ra các chính sách hấp dẫn nhằm thu hút nguồn vốn đầu tư chất lượng cao Ý nghĩa của tự do hóa đầu tư thể hiện ở khả năng thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, phát triển công nghiệp và dịch vụ, nâng cao vị thế của quốc gia trên thị trường toàn cầu Quá trình này còn góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp và thúc đẩy chuyển đổi công nghệ, từ đó tạo ra nhiều cơ hội việc làm và cải thiện đời sống của người dân.
18 Điều 33 Hiến pháp Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ngày 28/11/2013
1.4.2 Bình đẳng giữa nhà đầu tư nước ngoài và nhà đầu tư trong nước trong hoạt động đầu tư mua cổ phần, mua phần vốn góp
Việt Nam chính thức gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) và đã cam kết thực hiện các nghĩa vụ theo các cam kết này Một trong những nguyên tắc cốt lõi của WTO là “không phân biệt đối xử,” nhằm đảm bảo nhà đầu tư nước ngoài được đối xử công bằng như nhà đầu tư trong nước trong các hoàn cảnh tương tự.
Nguyên tắc không phân biệt đối xử dựa trên nền tảng bình đẳng giữa các nhà đầu tư, nhưng không phải mọi sự khác biệt trong đãi ngộ đều vi phạm nguyên tắc này Pháp luật WTO cho phép các ngoại lệ nhằm đảm bảo không tạo ra các công cụ phân biệt đối xử phi lý hoặc độc đoán giữa các nước có điều kiện tương tự Do đó, “không phân biệt đối xử” theo nguyên tắc WTO hướng đến việc tạo ra môi trường đầu tư và kinh doanh bình đẳng, minh bạch và không chứa đựng những phân biệt đối xử bất hợp lý.
Việt Nam đang đẩy mạnh đổi mới và phát triển kinh tế - xã hội nhằm hội nhập kinh tế quốc tế, đồng thời hoàn thiện khung pháp lý để tạo môi trường đầu tư công bằng Các chế định pháp luật về đầu tư tại Việt Nam được xây dựng đồng nhất cho tất cả các chủ thể, không phân biệt giữa nhà đầu tư trong nước và nước ngoài Chính sách này giúp xóa bỏ các phân biệt đối xử bất hợp lý, thúc đẩy sự phát triển của các khoản đầu tư nước ngoài vào Việt Nam.
Các hình thức đầu tư mua cổ phần, mua phần vốn góp mà nhà đầu tư nước ngoài có thể thực hiện để đầu tư vào Việt Nam không ít hơn các hình thức đầu tư nhà đầu tư trong nước có quyền thực hiện Nhà đầu tư nước ngoài được tự do lựa chọn hình thức mua cổ phần, mua phần vốn góp trong tổ chức kinh tế như nhà đầu tư trong nước mà không bị bất kỳ hạn chế hay áp đặt độc đoán nào gây ra bởi yếu tố quốc tịch của mình
Các bảo đảm đầu tư được áp dụng đồng bộ cho cả nhà đầu tư trong nước và nước ngoài, trong đó đặc biệt bảo vệ quyền sở hữu tài sản của nhà đầu tư nước ngoài Tài sản hợp pháp của nhà đầu tư nước ngoài không bị quốc hữu hóa hay tịch thu bằng biện pháp hành chính và được thanh toán hoặc bồi thường khi Nhà nước trưng mua, trưng dụng Quyền tự chủ trong quyết định đầu tư và các biện pháp bảo đảm đầu tư trong trường hợp luật pháp thay đổi cũng được đảm bảo cho nhà đầu tư nước ngoài mà không có sự phân biệt đối xử.
Quy định pháp luật Việt Nam cho phép nhà đầu tư trong nước và nhà đầu tư nước ngoài mua cổ phần hoặc phần vốn góp của tổ chức kinh tế Tuy nhiên, đối với nhà đầu tư nước ngoài, việc đầu tư theo hình thức này yêu cầu phải đáp ứng các điều kiện về bảo đảm quốc phòng, an ninh và tuân thủ các quy định pháp luật về đất đai liên quan đến quyền sử dụng đất.
19 Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD) (2002), Discrimination and Non-Discrimination in Foreign