1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận Văn Chính Phủ Điện Tử (E-Government) –Mô Hình Của Thế Giới Và Thực Tiễn Ở Việt Nam Hiện Nay.pdf

92 10 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Chính phủ điện tử (E-Government) – Mô hình của thế giới và thực tiễn ở Việt Nam hiện nay
Tác giả Nguyễn Thị Bích Hường
Người hướng dẫn TS. Cao Vũ Minh
Trường học Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Luật & Quản trị công
Thể loại Luận văn tốt nghiệp cử nhân luật
Năm xuất bản 2021
Thành phố TP.HCM
Định dạng
Số trang 92
Dung lượng 1,62 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • CHƯƠNG 1: CHÍNH PHỦ ĐIỆN TỬ VÀ MÔ HÌNH CỦA MỘT SỐ QUỐC (13)
    • 1.1. Chính phủ điện tử (13)
      • 1.1.1. Khái niệm Chính phủ điện tử (13)
      • 1.1.2. Các giai đoạn phát triển của mô hình Chính phủ điện tử (15)
      • 1.1.3. Đặc điểm của mô hình Chính phủ điện tử (18)
      • 1.1.4. Lợi ích và hạn chế của mô hình Chính phủ điện tử (21)
      • 1.1.5. Các dạng dịch vụ mô hình Chính phủ điện tử cung cấp (24)
      • 1.1.6. Chỉ số phát triển của mô hình Chính phủ điện tử (26)
      • 1.1.7. Mối liên hệ giữa “Chính phủ điện tử” và “Chính phủ số” (28)
    • 1.2. Tình hình phát triển của mô hình Chính phủ điện tử trên thế giới (30)
      • 1.2.1. Tính tất yếu trong việc phát triển mô hình Chính phủ điện tử (30)
      • 1.2.2. Tình hình phát triển của mô hình Chính phủ điện tử trên thế giới (31)
    • 1.3. Mô hình Chính phủ điện tử của một số quốc gia trên thế giới (34)
      • 1.3.1. Nhật Bản (34)
      • 1.3.2. Singapore (37)
      • 1.3.3. Estonia (41)
  • CHƯƠNG 2: CHÍNH PHỦ ĐIỆN TỬ Ở VIỆT NAM – THỰC TRẠNG VÀ HƯỚNG HOÀN THIỆN (45)
    • 2.1. Thực tiễn triển khai mô hình Chính phủ điện tử hiện nay ở Việt Nam (cụ thể là giai đoạn từ năm 2016 – 2020, các dự án triển khai từ năm 2021 trở đi) (48)
      • 2.1.1. Thực tiễn triển khai mô hình Chính phủ điện tử ở trung ương (48)
      • 2.1.2. Thực tiễn triển khai mô hình Chính phủ điện tử ở địa phương (61)
      • 2.1.3. Thực tiễn triển khai mô hình Chính phủ điện tử đối với cá nhân, tổ chức và cán bộ, công chức, viên chức (66)
      • 2.1.4. Thực tiễn triển khai mô hình Chính phủ điện tử đối với doanh nghiệp . 62 2.2. Những ưu điểm, hạn chế của mô hình Chính phủ điện tử ở Việt Nam (69)
      • 2.2.1. Ưu điểm (71)
      • 2.3.1. Về chính sách pháp lý (76)
      • 2.3.2. Về nguồn vốn hoạt động (78)
      • 2.3.3. Về nguồn nhân lực (78)
      • 2.3.4. Về cơ sở hạ tầng (80)
      • 2.3.5. Giải quyết vấn đề thu hẹp khoảng cách “kỹ năng số” (81)
  • KẾT LUẬN (85)

Nội dung

Chính vì vậy, mô hình Chính phủ điện tử ra đời và trở thành xu hướng tất yếu cho sự phát triển của mỗi một quốc gia, nhằm đáp ứng nhu cầu làm việc, sử dụng công nghệ hiện đại hóa với ngư

CHÍNH PHỦ ĐIỆN TỬ VÀ MÔ HÌNH CỦA MỘT SỐ QUỐC

Chính phủ điện tử

1.1.1 Khái niệm Chính phủ điện tử

Chính phủ điện tử là phương thức lãnh đạo và vận hành mới, giúp nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước trong bối cảnh cách mạng công nghiệp 4.0 diễn ra nhanh chóng Ứng dụng công nghệ số trong chính phủ góp phần tạo ra môi trường làm việc hiện đại, minh bạch và tiết kiệm thời gian, chi phí cho người dân và doanh nghiệp Chính phủ điện tử thúc đẩy quá trình chuyển đổi số toàn diện, nâng cao dịch vụ công trực tuyến, đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của xã hội trong thời đại công nghệ số.

“Chính phủ điện tử” là một thuật ngữ xuất phát từ tiếng Anh “E-Government”

Từ những năm đầu thập kỷ 90, nhiều quốc gia công nghiệp phát triển đã bắt đầu triển khai chính phủ điện tử để đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của xã hội Mục tiêu của chương trình này là nâng cao năng lực, khả năng thích ứng của chính phủ và giảm thiểu chi phí hoạt động Hiện tại, vẫn chưa có một khái niệm chính thức về chính phủ điện tử, nhưng nó được xem là giải pháp then chốt để thúc đẩy hiệu quả quản lý nhà nước và cải thiện dịch vụ công.

Chính phủ điện tử là một khái niệm đa chiều, phản ánh cách tiếp cận và nghiên cứu của các tổ chức khác nhau về quản lý nhà nước qua các công nghệ số Tùy thuộc vào phương pháp luận và mục tiêu của từng tổ chức, thuật ngữ “Chính phủ điện tử” có thể được hiểu theo nhiều cách khác nhau, nhưng đều hướng tới nâng cao hiệu quả, minh bạch và tiện lợi trong dịch vụ công.

Chính phủ điện tử, theo Ngân hàng Thế giới (World Bank), là việc các cơ quan chính phủ ứng dụng công nghệ thông tin như mạng diện rộng, internet và mạng di động để chuyển đổi mối quan hệ với công dân, doanh nghiệp và các cơ quan khác Các công nghệ này nhằm nâng cao chất lượng dịch vụ hành chính, thúc đẩy sự tương tác giữa chính phủ và doanh nghiệp, cùng với việc tăng cường quyền và sự tham gia của công dân trong việc truy cập thông tin và quản lý hoạt động của chính phủ Mô hình chính phủ điện tử giúp giảm tham nhũng, nâng cao tính minh bạch và công khai, đồng thời tiết kiệm thời gian và chi phí hoạt động hành chính không cần thiết.

Chính phủ điện tử theo Liên Hợp quốc là việc sử dụng Internet và mạng toàn cầu (World-Wide-Web) nhằm cung cấp thông tin một cách thuận tiện hơn cho công dân Đây là một hình thức hiện đại hóa dịch vụ công, giúp tăng cường tương tác giữa chính phủ và người dân, đồng thời thúc đẩy quản lý hành chính hiệu quả hơn Chính phủ điện tử góp phần nâng cao chất lượng dịch vụ công, giảm thủ tục hành chính rườm rà và tạo điều kiện thuận lợi để công dân tiếp cận các dịch vụ công trực tuyến.

4 http://dic.gov.vn/news/Tin-tong-hop/Xu-huong-phat-trien-chinh-phu-dien-tu-tren-the-gioi-721/ (truy cập ngày 23/4/2021)

5 https://sites.google.com/site/web20vachinhphudientu/chinh-phu-dien-tu/chinh-phu-dien-tu-la-gi (truy cập ngày 26/3/2021)

6 https://sites.google.com/site/web20vachinhphudientu/chinh-phu-dien-tu/chinh-phu-dien-tu-la-gi (truy cập ngày 26/3/2021).

Chính phủ điện tử là trạng thái mà các cơ quan lập pháp, hành pháp và tư pháp số hóa hoạt động nội bộ cũng như bên ngoài, sử dụng hệ thống mạng hiệu quả để nâng cao chất lượng dịch vụ công truyền đến người dân và doanh nghiệp Theo Nhóm nghiên cứu về Chính phủ điện tử, chính phủ điện tử là việc áp dụng công nghệ thông tin và truyền thông nhằm thúc đẩy chính phủ hoạt động hiệu quả, hỗ trợ truy cập dịch vụ công dễ dàng hơn, tăng cường truy cập thông tin và nâng cao trách nhiệm của chính phủ đối với công dân Các hình thức cung cấp dịch vụ trong chính phủ điện tử có thể gồm qua Internet, điện thoại, trung tâm cộng đồng, thiết bị không dây, và các phương tiện liên lạc khác.

Chính phủ điện tử là việc sử dụng công nghệ thông tin trong quá trình cải cách hành chính để nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước Mục tiêu chính của chính phủ điện tử là cung cấp dịch vụ công tốt hơn, nhanh chóng và tiện lợi hơn cho người dân, doanh nghiệp và các chủ thể khác trong xã hội Việc áp dụng công nghệ thông tin giúp Chính phủ điều hành hiệu quả hơn, thúc đẩy sự phát triển bền vững và tăng cường sự minh bạch trong quản lý công.

Trong thực tế, cần phân biệt rõ thuật ngữ “Chính phủ điện tử” với các khái niệm liên quan như “Thương mại điện tử” (E-commerce), “Chính phủ di động” (Mobile Government) và “Quản trị điện tử” (E-Governance), nhằm hiểu đúng và áp dụng hiệu quả các giải pháp công nghệ trong lĩnh vực hành chính công và dịch vụ công cộng.

Thương mại điện tử (E-commerce) là hoạt động mua bán sản phẩm hoặc dịch vụ thông qua các hệ thống điện tử như Internet và mạng máy tính Nó dựa trên các công nghệ tiên tiến như chuyển tiền điện tử, quản lý chuỗi cung ứng, tiếp thị qua Internet, giao dịch trực tuyến, trao đổi dữ liệu điện tử (EDI), hệ thống quản lý tồn kho và tự động hóa thu thập dữ liệu Trong thương mại điện tử hiện đại, mạng World Wide Web đóng vai trò trung tâm trong quy trình giao dịch, bên cạnh các công nghệ khác như email và thiết bị di động Phạm vi hoạt động chủ yếu của thương mại điện tử tập trung vào lĩnh vực kinh doanh và dịch vụ, có ảnh hưởng đáng kể đến nhiều chủ thể trong xã hội và nền kinh tế.

7 https://sites.google.com/site/web20vachinhphudientu/chinh-phu-dien-tu/chinh-phu-dien-tu-la-gi (truy cập ngày 26/3/2021)

8 https://sites.google.com/site/web20vachinhphudientu/chinh-phu-dien-tu/chinh-phu-dien-tu-la-gi (truy cập ngày 26/3/2021)

Chính phủ điện tử ra đời nhằm nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước, đặc biệt trong lĩnh vực hành chính công vụ, nhằm phục vụ tốt hơn cho xã hội và cộng đồng (Nguồn: http://ecommerce.gov.vn/thuong-mai-dien-tu/tin-tuc/khai-niem-thuong-mai-dien-tu, truy cập ngày 14/4/2021).

Chính phủ di động (M-Government) là việc tận dụng tối đa các lợi ích của công nghệ thông tin truyền thông thông qua việc sử dụng các thiết bị di động như điện thoại di động và PDA, giúp cung cấp thông tin đến người dân và doanh nghiệp một cách nhanh chóng và bảo mật Chính phủ di động đã trở thành mô hình hiện đại, thông minh hướng tới xây dựng chính phủ điện tử, góp phần nâng cao hiệu quả và tính tiện lợi trong các dịch vụ công Đây là một dự án bổ sung giúp hoàn thiện mô hình chính phủ điện tử hiện nay, và hai mô hình này hoạt động bổ trợ lẫn nhau trong việc áp dụng công nghệ thông tin để tối ưu hóa quy trình hành chính.

Quản trị điện tử (E-Governance) là một phần quan trọng của Chính phủ điện tử, nhằm cung cấp các dịch vụ công tiện lợi cho người dân nhờ vào công nghệ thông tin và truyền thông Nó giúp tăng cường phạm vi và chất lượng thông tin gửi đến người dân một cách hiệu quả, đồng thời thúc đẩy giao tiếp hai chiều giữa Chính phủ và người dân Khác với Chính phủ điện tử, Quản trị điện tử hướng tới sự tương tác dễ dàng và thuận lợi hơn trong quá trình trao đổi thông tin Để xây dựng thành công Chính phủ điện tử, cần tận dụng các phương pháp từ Quản trị điện tử, ứng dụng chúng vào việc hoạch định và triển khai các dịch vụ công thực tế.

Chính phủ điện tử là khái niệm liên quan đến sự số hóa các dịch vụ công và tương tác giữa chính phủ với người dân, trong khi đó, thương mại điện tử tập trung vào các hoạt động mua bán trực tuyến Chính phủ di động mở rộng phạm vi bằng cách sử dụng công nghệ di động để cung cấp dịch vụ công nhanh chóng và tiện lợi hơn Quản trị điện tử đề cập đến quá trình quản lý chính phủ dựa trên các hệ thống công nghệ thông tin, nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động Tuy nhiên, mỗi khái niệm đều có nội hàm và đặc điểm riêng biệt, góp phần thúc đẩy sự phát triển của xã hội số và cải thiện chất lượng dịch vụ công cộng.

Khi gọi tên hoặc sử dụng các thuật ngữ liên quan, cần phân biệt rõ mối tương quan giữa chúng để tránh nhầm lẫn trong quá trình nghiên cứu và tìm hiểu Điều này giúp đảm bảo sự chính xác và hiệu quả trong việc áp dụng kiến thức vào thực tiễn Việc phân biệt rõ các thuật ngữ sẽ nâng cao chất lượng quá trình học tập và nghiên cứu, đồng thời tối ưu hoá kết quả đạt được.

1.1.2 Các giai đoạn phát triển của mô hình Chính phủ điện tử

Việc xây dựng mô hình Chính phủ điện tử ngày càng trở nên quan trọng và được ưu tiên hàng đầu các quốc gia Chính phủ điện tử mang lại nhiều lợi ích thiết thực cho cơ quan nhà nước và các cấp chính quyền, giúp nâng cao hiệu quả hoạt động hành chính công Nhờ đó, công tác quản lý nhà nước trở nên nhanh chóng, minh bạch và hiệu quả hơn, góp phần thúc đẩy phát triển bền vững của đất nước.

Tình hình phát triển của mô hình Chính phủ điện tử trên thế giới

Công nghệ thông tin và truyền thông phát triển nhanh chóng, nhưng quá trình này chưa đồng đều trong cuộc sống hàng ngày của người dân, đặt ra yêu cầu các quốc gia cần có chính sách rõ ràng để giúp mọi người dễ tiếp cận kịp thời Vai trò của Chính phủ trong kỷ nguyên số là vô cùng quan trọng, đặc biệt trong việc triển khai hệ thống quản lý hành chính điện tử nhằm tăng tính minh bạch, khách quan, hiệu quả và phản hồi nhanh chóng các kiến nghị của người dân Việc mở rộng tiếp cận công nghệ cho các vùng sâu, vùng xa và người không quen dùng công nghệ giúp xóa bỏ giới hạn về không gian và thời gian trong tiếp cận thông tin Để xây dựng mô hình chính phủ điện tử thành công, các quốc gia cần có tầm nhìn dài hạn, xác định rõ mục tiêu và đáp ứng nhu cầu lớn của xã hội, đồng thời khuyến khích người dân tự nguyện, thoải mái tham gia sử dụng các thiết bị số Khi cộng đồng dân cư cùng chung tay xây dựng, chính phủ điện tử mới thật sự phát huy hiệu quả và hướng tới hình thành một chính phủ thông minh.

“con người thông minh” trong tương lai

Trong quá trình toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế diễn ra mạnh mẽ, các quốc gia có điều kiện thuận lợi để hợp tác phát triển Tuy nhiên, sự hội nhập cũng dẫn đến cạnh tranh về lợi ích và thành tựu của các bên Khi sự phụ thuộc lẫn nhau ngày càng tăng, mỗi quốc gia cần tiếp nhận thông tin và chuyển giao công nghệ một cách có chọn lọc để phù hợp với thực tế phát triển, đồng thời tránh trở thành quốc gia "rác thải công nghệ" của thế giới.

1.2.2 Tình hình phát triển của mô hình Chính phủ điện tử trên thế giới

Chính phủ điện tử là mô hình chính phủ hiện đại và xu hướng tất yếu trong quá trình phát triển của mỗi quốc gia, thể hiện qua chỉ số phát triển Chính phủ điện tử (EGDI) của Liên Hợp Quốc Trong những năm gần đây, mô hình này ngày càng phát triển mạnh mẽ, với 65% quốc gia thành viên đạt mức cao hoặc rất cao về EGDI vào năm 2020 Theo dữ liệu của Phòng Cơ quan công và Chính phủ số thuộc Ủy ban Kinh tế – Xã hội Liên Hợp Quốc, từ 193 quốc gia thành viên, xu hướng này càng rõ nét khi số liệu phản ánh sự chuyển mình tích cực của các nền hành chính trong kỷ nguyên số.

Bảng 3 Nhóm các quốc gia dẫn đầu về chỉ số phát triển Chính phủ điện tử của

Quốc gia EGDI Quốc gia EGDI

2 Hàn Quốc 0.9560 9 Hợp chúng quốc Hoa Kỳ

24 https://www.un.org/development/desa/publications/publication/2020-united-nations-e-government-survey (truy cập ngày 17/4/2021)

Theo Báo cáo Khảo sát Chính phủ điện tử của Liên Hợp Quốc năm 2020, Đan Mạch, Hàn Quốc và Estonia nổi bật trong việc triển khai mô hình Chính phủ điện tử nhờ xây dựng từ sớm, chính sách hợp lý, ứng dụng công nghệ tiên tiến và nền kinh tế phát triển vượt trội Các quốc gia này đều có nền tảng vững chắc về công nghệ và chính sách đổi mới, góp phần nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước và dịch vụ công trực tuyến Trong danh sách xếp hạng, có tới 8 quốc gia thuộc châu Âu, 3 quốc gia châu Á, và 2 quốc gia thuộc châu Đại Dương, phản ánh sự đa dạng và tiến bộ của các quốc gia trong khu vực về chuyển đổi số và chính phủ điện tử.

01 quốc gia thuộc châu Mỹ

Ví dụ về chỉ số phát triển Chính phủ điện tử EGDI:

 Đan Mạch: OSI = 0.9706; HCI = 0.9588; TII = 0.9979 -> EGDI 0.9758 (cao hơn so với năm 2018 EGDI = 0.9150)

 Hàn Quốc: OSI = 1.0000; HCI = 0.8997; TII = 0.9684 -> EGDI = 09560 (cao hơn so với năm 2018 EGDI = 0.9010)

Ngoài việc thống kê các quốc gia cụ thể, Tổ chức Liên Hợp Quốc đã tiến hành khảo sát và ghi nhận chỉ số phát triển Chính phủ điện tử (EGDI) trung bình của các khu vực trên thế giới năm 2020 Báo cáo này giúp đánh giá mức độ phát triển công nghệ và dịch vụ công trực tuyến của các khu vực, từ đó đề xuất các giải pháp nâng cao chất lượng dịch vụ Chính phủ điện tử toàn cầu.

Bảng 4 Chỉ số phát triển Chính phủ điện tử của Liên Hợp quốc năm 2020 25 Các khu vực trên thế giới Chỉ số phát triển Chính phủ điện tử

Như vậy, qua bảng khảo sát về chỉ số phát triển Chính phủ điện tử EGDI năm

Theo báo cáo của Liên Hợp Quốc năm 2020, chỉ số EGDI trung bình toàn cầu đã tăng từ 0.55 năm 2018 lên 0.60, thể hiện sự phát triển nhanh chóng và tính tất yếu của mô hình chính phủ điện tử trong sự tiến bộ của các quốc gia Châu Âu đang khẳng định vị thế hàng đầu về khoa học công nghệ nhờ liên tục giữ vững vị trí cao về chỉ số EGDI qua các năm, phản ánh chính sách và chiến lược phát triển phù hợp cùng sự chuẩn bị kỹ lưỡng để triển khai mô hình này vào xã hội Các chỉ số đánh giá mức độ Chính phủ điện tử cũng cho thấy sự tiến bộ rõ rệt trong lĩnh vực này.

Vào ngày 25 tháng 2020, Liên Hợp Quốc đã tổ chức buổi ra mắt báo cáo E-Government của Liên Hợp Quốc năm 2020, nhấn mạnh tầm quan trọng của chuyển đổi số trong chính phủ và cộng đồng toàn cầu (Nguồn: https://www.youtube.com/watch?v=EpTMqJOtKtE) Châu Âu được coi là ví dụ điển hình về tiến bộ trong lĩnh vực chính phủ điện tử, với bốn lĩnh vực ưu tiên giúp xây dựng các thành phần cốt lõi của phát triển kỹ thuật số công cộng, từ đó làm mẫu cho các quốc gia khác học hỏi và áp dụng các chiến lược chuyển đổi số hiệu quả.

Lấy người dùng làm trung tâm là yếu tố hàng đầu trong việc đánh giá sự hiện diện của các dịch vụ trực tuyến, đảm bảo khả năng sử dụng dễ dàng và tính thân thiện cao của các thiết bị di động, từ đó nâng cao trải nghiệm người dùng một cách toàn diện.

Hai là, tính minh bạch: về mặt thực tiễn trong quá trình cung cấp dịch vụ đến quá trình cung cấp dữ liệu, thông tin đến người dùng

Tính di động xuyên biên giới đề cập đến khả năng truy cập dịch vụ của người dùng khi họ ở tại các quốc gia khác nhau trong khu vực châu Âu Điều này thể hiện mức độ sẵn có và tiện lợi của các dịch vụ cho khách hàng trên toàn bộ khu vực, giúp nâng cao trải nghiệm người dùng và thúc đẩy sự thống nhất trong dịch vụ xuyên biên giới.

Các yếu tố hỗ trợ chính cho quản trị điện tử hiệu quả dựa trên các điều kiện tiên quyết như nhận dạng kỹ thuật số và sổ đăng ký cốt lõi Ví dụ điển hình trong Chính phủ điện tử là việc Cục Doanh thu trong nước của Philippine (BiR) đã triển khai kế hoạch xác nhận thanh toán điện tử qua SMS nhằm tăng cường hiệu quả và chống lại gian lận.

Hệ thống “Phát thanh điện tử” cung cấp dịch vụ xác nhận thanh toán trực tiếp cho người nộp thuế trong vòng 38 giờ sau khi ngân hàng đại lý nhận được khoản thanh toán, đảm bảo quá trình nộp thuế nhanh chóng và minh bạch Tuy nhiên, còn tồn tại các vấn đề như nhận hối lộ và các hoạt động đưa ra hóa đơn giả mạo nhằm lừa đảo người nộp thuế, gây ảnh hưởng đến uy tín của hệ thống Hệ thống đã được thử nghiệm thành công vào năm trước, mở ra hướng đi mới trong công cuộc cải cách thuế và nâng cao hiệu quả thu ngân sách nhà nước.

2002 và dự định sẽ tiếp tục triển khai dự án trên quy mô toàn quốc vào năm 2003

Ngoài mô hình sử dụng thanh toán điện tử qua SMS của Philippin, Sri Lanka đã triển khai khả năng thanh toán qua đài phát thanh thông qua các chương trình của công ty truyền thanh, góp phần mở rộng phương thức thanh toán điện tử đa dạng và hiệu quả hơn.

Dự án “phương tiện trung gian” kết nối Chính phủ với người dân đã sử dụng đài phát thanh như một giao diện trung gian giữa nông dân và Internet, giúp nâng cao khả năng tiếp cận thông tin của cộng đồng nông thôn Hàng ngày, đài phát thanh tổ chức chương trình trực tiếp vào khung giờ cố định, trong đó người phát thanh và nhóm người dùng Internet phản hồi các yêu cầu và câu hỏi của người nghe đài, tạo cầu nối hiệu quả giữa chính quyền và người dân Bên cạnh đó, đài phát thanh cộng đồng Kothmale đang xây dựng một cơ sở dữ liệu nông thôn, bao gồm các thông tin công cộng do người nghe yêu cầu, phục vụ nhu cầu thông tin không trực tuyến của cộng đồng.

Với sự phát triển vượt bậc của mô hình Chính phủ điện tử trên toàn cầu, IDC (International Data Corporation) nhận định rằng các quốc gia đang đẩy mạnh ứng dụng công nghệ số để nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước và cải thiện trải nghiệm người dân Chính phủ điện tử giúp tối ưu hóa dịch vụ công, gia tăng tính minh bạch và thúc đẩy phát triển kinh tế số Các chiến lược chuyển đổi số ngày càng được triển khai rộng rãi nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của công dân trong thời đại số hóa Thúc đẩy chính phủ điện tử không chỉ mang lại lợi ích về mặt quản lý mà còn góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia trong nền kinh tế toàn cầu.

26 https://e-estonia.com/estonia-holds-leading-role-on-e-government-in-latest-european-commission-report/ (truy cập ngày 22/4/2021)

27 Patricia J Pascual (2003), Chính phủ điện tử - E-primers, NXB Hà Nội , tr 10 – 11

Dự báo về chi tiêu cho công nghệ thông tin và truyền thông toàn cầu từ 2020 đến 2023 cho thấy sự mở rộng đáng kể trong ứng dụng công nghệ số vào phát triển quốc gia Các ngành công nghệ mới như robot, trí tuệ nhân tạo AI, AR/VR đã chiếm hơn 25% GDP của ngành công nghệ thông tin và truyền thông, thúc đẩy tăng trưởng mạnh mẽ trên thị trường Nhu cầu và tỷ lệ đóng góp của lĩnh vực này vào GDP ngày càng tăng, chiếm tỷ trọng lớn trong nền kinh tế mỗi quốc gia.

Bảng 5 Công nghệ chi tiêu từ năm 2018 – 2023 30 Công nghệ chi tiêu $

Mô hình Chính phủ điện tử của một số quốc gia trên thế giới

1.3.1.1 Sơ lược sự phát triển 31

29 https://www.idc.com/promo/global-ict-spending/forecast (truy cập ngày 22/4/2021)

30 https://www.idc.com/promo/global-ict-spending/forecast (truy cập ngày 22/4/2021)

31 https://vietnamhoinhap.vn/article/kinh-nghiem-phat-trien-chinh-phu-dien-tu-o-nhat-ban -n-21278 (truy cập ngày 16/4/2021)

Phát triển mô hình Chính phủ điện tử tại Nhật Bản bắt đầu từ chiến lược “Nhật Bản điện tử” năm 2001, chú trọng vào các lĩnh vực chính như thiết lập chính phủ điện tử, nâng cao hạ tầng mạng tốc độ cao, thúc đẩy thương mại điện tử và đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao Mục tiêu của chính phủ là tất cả thủ tục hành chính phải được cung cấp qua Internet vào năm 2003, đồng thời triển khai các chiến lược công nghệ thông tin nhằm đưa Nhật Bản trở thành quốc gia kết nối hàng đầu thế giới Chiến lược điện tử Nhật Bản II (2003) đã xây dựng các cổng thông tin điện tử hành chính nhằm cung cấp dịch vụ một cửa cho người dân, và đến năm 2010, mục tiêu xử lý 50% các ứng dụng trực tuyến đã được đặt ra để tăng cường hiệu quả của các dịch vụ công Chính phủ Nhật Bản đã thực hiện nhiều dự án giúp người già và những người không có điều kiện tiếp cận Internet nâng cao kỹ năng sử dụng công nghệ thông tin qua các tổ chức cộng đồng và trường đại học, góp phần rút ngắn “khoảng cách số” và phát triển xã hội và công nghệ đồng bộ Một sáng kiến quan trọng góp phần xây dựng nền tảng vững chắc cho mô hình chính phủ điện tử là hệ thống hướng đến công dân, với việc thành lập hệ thống số hóa và bổ nhiệm Giám đốc thông tin của Chính phủ từ năm 2013, cùng các mạng lưới như LAN, điện toán đám mây Kasumigaseki, dịch vụ LGWAN và các hệ thống ứng dụng giúp kết nối thông tin xuyên suốt từ trung ương đến địa phương, giảm thiểu chi phí và mở rộng khả năng truy cập Internet cho người dân mọi lúc, mọi nơi để thực hiện các thủ tục hành chính một cách miễn phí.

Chính phủ Nhật Bản triển khai mô hình “Bài đăng của tôi” qua hộp thư điện tử cá nhân, giúp người dân nhận các thông tin cần thiết từ cơ quan chính phủ hoặc tổ chức tư nhân đã đăng ký, gửi trực tiếp qua tài khoản cá nhân Người dùng có thể lưu trữ hồ sơ và báo cáo trên tài khoản riêng của mình, tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp phát triển dịch vụ chăm sóc khách hàng và củng cố niềm tin giữa nhà nước và tư nhân Việc áp dụng thành công mô hình này đã tăng cường sự kết nối đồng bộ và ổn định trong hệ thống dịch vụ công và tư nhân, hạn chế tác động của quá trình tự do hóa kinh tế.

Hiện nay, người dân Nhật Bản có thể dễ dàng truy cập thông tin qua các kênh như điện thoại di động, máy tính và truyền hình cáp, phục vụ nhu cầu tìm kiếm tại nhà hoặc các cửa hàng tiện lợi Cửa hàng tiện lợi đã trở thành nét văn hóa đặc trưng của Nhật Bản, hoạt động 24/7 và có mặt khắp cả nước từ khu vực nông thôn đến thành phố lớn, với các thương hiệu nổi bật như Family Mart, Seven-Eleven và Circle K Chính phủ Nhật Bản đã tận dụng mô hình này để triển khai dịch vụ công, cho phép người dân chuyển tiền, đặt vé và thanh toán hóa đơn điện nước qua các Ki-ốt hành chính tại các cửa hàng tiện lợi, hoạt động như máy ATM với hệ thống xác thực bằng mã số định danh và mật khẩu cá nhân.

Chính phủ Nhật Bản đang tiến hành nâng cao và chuyển đổi từ mô hình "Chính phủ điện tử" sang mô hình "Chính phủ số" thông qua các dự án triển khai hiện đại Quá trình này nhằm thúc đẩy sử dụng công nghệ số để cải thiện dịch vụ công, tăng cường hiệu quả quản lý nhà nước và nâng cao trải nghiệm của người dân Việc chuyển đổi này thể hiện cam kết của Nhật Bản trong việc ứng dụng công nghệ số để phát triển chính phủ thông minh, hướng tới nền hành chính hiện đại, hiệu quả hơn.

Chính phủ thông minh hướng tới "Chuyển đổi số thân thiện với con người" như một mục tiêu chiến lược của Nhật Bản Các nguyên tắc cơ bản trong định hướng xã hội số gồm mở, minh bạch, công bằng, đạo lý, an toàn và an tâm, cùng với liên tục, ổn định, tăng cường Chính phủ Nhật Bản tập trung giải quyết các vấn đề xã hội, đảm bảo linh hoạt, nhanh chóng trong triển khai các dự án, đồng thời thúc đẩy sự bao trùm, đa dạng và sự xâm nhập vào cuộc sống hàng ngày của người dân Mục tiêu là tạo ra giá trị mới, đạt được sự nhảy vọt trong phát triển, góp phần vào cộng đồng quốc tế Trong tương lai không xa, nếu thành công trong việc triển khai các dự án này, mô hình Chính phủ "lý tưởng" của Nhật Bản sẽ trở thành hiện thực, mở ra hành trình chuyển đổi số toàn diện và bền vững.

Chính phủ Nhật Bản luôn đặt nguyên tắc “hướng đến người dân” làm kim chỉ nam trong quá trình xây dựng và triển khai Chính phủ điện tử Các chính sách và kế hoạch của Nhật Bản đều dựa trên ý kiến và nguyện vọng của người dân, nhằm đảm bảo dịch vụ công được cung cấp một cách hiệu quả và thân thiện.

Việt Nam đang triển khai chuyển đổi số thân thiện, lấy người dân làm trung tâm, tạo điều kiện cho tất cả mọi người dễ dàng tiếp cận thông tin thông qua nhiều kênh khác nhau Việc triển khai số định danh cá nhân và cổng thông tin cá nhân giúp người dân cảm thấy thoải mái, tin tưởng vào các dịch vụ trực tuyến và yên tâm về an toàn thông tin cá nhân Đồng thời, đề án “một cửa” điện tử hiệu quả góp phần tiết kiệm chi phí và thời gian đi lại của người dân và doanh nghiệp Chính phủ điện tử hướng tới mô hình lấy người dân làm trung tâm, dựa trên nền tảng hoạt động của doanh nghiệp, điều này đòi hỏi sự nhất trí từ hai phía để đảm bảo quá trình chuyển đổi số diễn ra thuận lợi và bền vững.

Chính phủ điện tử Nhật Bản phát triển theo mô hình từ dưới lên, nơi chính quyền trung ương đặt ra các quy định và hướng dẫn pháp lý để đảm bảo các cấp chính quyền địa phương tuân theo Các cơ quan trung ương cung cấp các quy trình cụ thể cho việc xây dựng mô hình và phương tiện công nghệ thông tin, từ đó các đô thị, quận và văn phòng quốc gia có thể tự đầu tư và phát triển phần mềm phù hợp với nhu cầu và đặc điểm địa phương Mô hình này tạo sự thống nhất từ dưới lên, đồng thời cho phép các địa phương chủ động, sáng tạo, tránh sự cứng nhắc và phù hợp với tốc độ tương tác khác nhau giữa người dân, doanh nghiệp và chính quyền ở mỗi vùng.

Chính phủ Nhật Bản xây dựng theo mô hình “Chính phủ mở”, hoạt động liên tục 24/7 trong suốt năm, với mọi thông tin và thủ tục hành chính được công khai trên nền tảng trực tuyến, tin học hóa rõ ràng để nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước Các dự án triển khai thành công đã góp phần vào sự phát triển của chính phủ điện tử tại Nhật Bản, đồng thời được các chuyên gia như ông Hiroaki Yoshida của Fujitsu chia sẻ như việc điện tử hóa các báo cáo chứng khoán, xây dựng hệ thống dự toán ngân sách hàng năm, đăng ký bất động sản và đăng ký việc làm, giúp đáp ứng tối đa nhu cầu của người dân và tạo điều kiện thuận lợi cho việc quản lý và đánh giá hoạt động của chính phủ.

1.3.2.1 Sơ lược sự phát triển

33 https://www.vietnamplus.vn/nhat-chia-se-kinh-nghiem-phat-trien-chinh-phu-dien-tu/112434.vnp (truy cập ngày 17/4/2021)

Singapore coi chính phủ trong cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 là "Chính phủ thông minh" (Smart Government), bao gồm các yếu tố chiến lược, giám sát, giải trình, tư duy lại và niềm tin Trong đó, việc đề cao trách nhiệm giải trình và tư duy lại là yếu tố cốt lõi, giúp quốc gia này xây dựng chính sách hỗ trợ thương mại, thuế cạnh tranh và bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ mạnh mẽ Nhờ đó, Singapore sở hữu lực lượng lao động chất lượng cao, có khả năng thích ứng linh hoạt với mọi thay đổi, luôn sẵn sàng đón đầu và khai thác tối đa các thành tựu của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0.

Singapore là một trong những quốc gia đầu tiên xây dựng thành công Chính phủ điện tử từ những năm 1980, với nhiều chương trình quốc gia về ứng dụng công nghệ thông tin trong phát triển chính phủ số Nhờ quá trình hoàn thiện liên tục, hệ thống cơ sở dữ liệu dùng chung tích hợp các dịch vụ công giúp cán bộ, công chức, viên chức, cá nhân và tổ chức truy cập dễ dàng qua một cổng thông tin duy nhất để thực hiện các thủ tục hành chính Chính phủ Singapore đã chủ động đầu tư vào hạ tầng số bằng cách ký kết các dự án về công nghệ 4.0, bắt đầu với mạng cáp quang từ năm 2010, mạng di động 4G từ 2011 và nghiên cứu, đánh giá tác động của mạng 5G để chuẩn bị triển khai từ năm 2019 Gần đây, kế hoạch nghiên cứu, đổi mới và doanh nghiệp năm 2020 cùng chỉ số SSIRI giúp doanh nghiệp đánh giá hoạt động kinh doanh, đề xuất các giải pháp nâng cao lợi nhuận, tăng sức cạnh tranh toàn ngành Các dự án này nhằm mục đích nâng cao hiệu quả hoạt động của ngành công nghiệp, xây dựng năng lực và hỗ trợ tài chính cho các hoạt động phát triển dài hạn của đất nước.

Trong quá trình xây dựng mô hình Chính phủ điện tử tại quốc gia này, điểm nổi bật là việc thực hiện “Kế hoạch hành động Chính phủ điện tử” (E-Government Action Plan), nhằm thúc đẩy hiệu quả quản lý nhà nước và nâng cao dịch vụ công trực tuyến Kế hoạch này giúp xây dựng hệ thống chính phủ số bài bản, đồng thời tăng cường chuyển đổi số trong các cơ quan nhà nước, tạo điều kiện thuận lợi cho người dân và doanh nghiệp Việc triển khai các sáng kiến trong khuôn khổ kế hoạch này đã góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động của chính quyền điện tử, đồng thời thúc đẩy phát triển kinh tế số và xã hội số đất nước.

34 Đặng Hoàng Linh (2020), “Mức độ sẵn sàng với cách mạng công nghiệp 4.0 của Việt Nam và kinh nghiệm của một số nước”, Quản lý Nhà nước, (291), tr 97 – 101

35 Đặng Hoàng Linh (2020), “Mức độ sẵn sàng với cách mạng công nghiệp 4.0 của Việt Nam và kinh nghiệm của một số nước”, Quản lý Nhà nước, (291), tr 97 – 101

Dưới góc độ kế hoạch phát triển, e-GAP (Electronic Government Adoption Program) được chia thành nhiều giai đoạn khác nhau, trong đó e-GAP I bắt đầu triển khai từ năm 2000 đến 2003 với mục tiêu khai thác toàn bộ tiềm năng của công nghệ web trong việc tạo điều kiện thuận lợi cho các hoạt động giao dịch, cung cấp dịch vụ giữa người dân, doanh nghiệp và Chính phủ Các định hướng chính của giai đoạn này gồm đẩy mạnh cung cấp dịch vụ điện tử để nâng cao hiệu quả và chất lượng dịch vụ công, góp phần thúc đẩy hiện đại hóa chính quyền điện tử tại Việt Nam.

502 Bad GatewayUnable to reach the origin service The service may be down or it may not be responding to traffic from cloudflared

502 Bad GatewayUnable to reach the origin service The service may be down or it may not be responding to traffic from cloudflared

CHÍNH PHỦ ĐIỆN TỬ Ở VIỆT NAM – THỰC TRẠNG VÀ HƯỚNG HOÀN THIỆN

Ngày đăng: 08/03/2023, 11:30

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
18. Quyết định 280/1997/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về việc xây dựng mạng tin học diện rộng để truyền nhận thông tin trong các cơ quan nhà nước ban hành ngày 29/4/1997 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định 280/1997/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về việc xây dựng mạng tin học diện rộng để truyền nhận thông tin trong các cơ quan nhà nước
Năm: 1997
20. Quyết định số 112/2001/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Đề án Tin học hóa quản lý hành chính nhà nước giai đoạn 2001 – 2005 ban hành ngày 25/7/2001 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định số 112/2001/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Đề án Tin học hóa quản lý hành chính nhà nước giai đoạn 2001 – 2005
Năm: 2001
21. Quyết định số 95/2002/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Kế hoạch tổng thể về ứng dụng và phát triển công nghệ thông tin ở Việt Nam đến năm 2005 ban hành ngày 17/7/2002 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kế hoạch tổng thể về ứng dụng và phát triển công nghệ thông tin ở Việt Nam đến năm 2005
Năm: 2002
22. Quyết định số 43/2008/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Kế hoạch ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động của cơ quan hành chính nhà nước năm 2008 ban hành ngày 24/3/2008 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định số 43/2008/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Kế hoạch ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động của cơ quan hành chính nhà nước năm 2008 ban hành ngày 24/3/2008
Năm: 2008
27. Quyết định số 456/QĐ-BTC của Bộ Tài chính về việc ban hành Quy chế tiếp nhận, xử lý, phát hành và quản lý văn bản điện tử tại Bộ Tài chính ban hành ngày 28/3/2019 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quy chế tiếp nhận, xử lý, phát hành và quản lý văn bản điện tử tại Bộ Tài chính
Tác giả: Bộ Tài chính
Năm: 2019
30. Quyết định số 414/QĐ-UBQGCPĐT ngày 21/10/2020 của Chủ tịch Ủy ban Quốc gia về Chính phủ điện tử ban hành kèm theo Quy chế hoạt động của Ủy ban Quốc gia về Chính phủ điện tử Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định số 414/QĐ-UBQGCPĐT ngày 21/10/2020 của Chủ tịch Ủy ban Quốc gia về Chính phủ điện tử ban hành kèm theo Quy chế hoạt động của Ủy ban Quốc gia về Chính phủ điện tử
Năm: 2020
34. Thông tư số 124/TT-BTC của Bộ Tài chính quy định về quản lý, sử dụng kinh phí thực hiện hỗ trợ đối với người cai nghiện ma túy tự nguyện, ban hành ngày 20/12/2018 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư số 124/TT-BTC của Bộ Tài chính quy định về quản lý, sử dụng kinh phí thực hiện hỗ trợ đối với người cai nghiện ma túy tự nguyện
Tác giả: Bộ Tài chính
Nhà XB: Bộ Tài chính
Năm: 2018
35. Chỉ thị số 218/CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ về một số biện pháp cải tiến lề lối làm việc của Chính phủ và chế độ thông tin, báo cáo ban hành ngày 07/4/1997 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chỉ thị số 218/CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ về một số biện pháp cải tiến lề lối làm việc của Chính phủ và chế độ thông tin, báo cáo
Tác giả: Thủ tướng Chính phủ
Năm: 1997
37. Chỉ thị số 16/CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ về việc tăng cường năng lực tiếp cận cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 4 ban hành ngày 04/5/2017 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chỉ thị số 16/CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ về việc tăng cường năng lực tiếp cận cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 4
Tác giả: Thủ tướng Chính phủ
Năm: 2017
40. Nguyễn Thị Kiều Anh, (2011), Chính phủ điện tử (E-Government) – Mô hình của thế giới và những bài học đối với Việt Nam, Khóa luận tốt nghiệp, trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chính phủ điện tử (E-Government) – Mô hình của thế giới và những bài học đối với Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Thị Kiều Anh
Nhà XB: Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh
Năm: 2011
41. Bùi Ngọc Hiền (2021), “Kinh nghiệm của một số quốc gia trong chuyển đổi số và hàm ý chính sách cho Việt Nam”, Quản lý nhà nước, (301) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh nghiệm của một số quốc gia trong chuyển đổi số và hàm ý chính sách cho Việt Nam
Tác giả: Bùi Ngọc Hiền
Nhà XB: Quản lý nhà nước
Năm: 2021
42. Đặng Xuân Hoan (2020), “Đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ, công chức đáp ứng yêu cầu xây dựng Chính phủ điện tử”, Quản lý nhà nước, (291) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ, công chức đáp ứng yêu cầu xây dựng Chính phủ điện tử
Tác giả: Đặng Xuân Hoan
Nhà XB: Quản lý nhà nước
Năm: 2020
43. Đặng Hoàng Linh (2020), “Mức độ sẵn sàng với cách mạng công nghiệp 4.0 của Việt Nam và kinh nghiệm của một số nước”, Quản lý Nhà nước, (291) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mức độ sẵn sàng với cách mạng công nghiệp 4.0 của Việt Nam và kinh nghiệm của một số nước
Tác giả: Đặng Hoàng Linh
Nhà XB: Quản lý Nhà nước
Năm: 2020
44. Nguyễn Đức Long (2019), “Triển khai chính quyền điện tử nhằm xây dựng nền hành chính chuyên nghiệp hiện đại, phục vụ nhân dân”, Quản lý nhà nước (276) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Triển khai chính quyền điện tử nhằm xây dựng nền hành chính chuyên nghiệp hiện đại, phục vụ nhân dân
Tác giả: Nguyễn Đức Long
Nhà XB: Quản lý nhà nước
Năm: 2019
45. Nguyễn Quỳnh Nga (2020), “Xây dựng chính quyền điện tử và thành phố thông minh ở Thành phố Hà Nội”, Tổ chức nhà nước, (04) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xây dựng chính quyền điện tử và thành phố thông minh ở Thành phố Hà Nội
Tác giả: Nguyễn Quỳnh Nga
Nhà XB: Tổ chức nhà nước
Năm: 2020
47. Nguyễn Ngọc Tâm Quyên, (2011), “Chính phủ điện tử, kinh nghiệm của một số nước trên thế giới và bài học với Việt Nam”, Khóa luận tốt nghiệp, trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chính phủ điện tử, kinh nghiệm của một số nước trên thế giới và bài học với Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Ngọc Tâm Quyên
Nhà XB: Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh
Năm: 2011
48. Nguyễn Hữu Thọ (2021), “Chuyển giao dịch vụ Hành chính công cho các doanh nghiệp, tổ chức xã hội đảm nhiệm – thực trạng và những vấn đề đặt ra”, Tổ chức Nhà nước, (02) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chuyển giao dịch vụ Hành chính công cho các doanh nghiệp, tổ chức xã hội đảm nhiệm – thực trạng và những vấn đề đặt ra
Tác giả: Nguyễn Hữu Thọ
Nhà XB: Tổ chức Nhà nước
Năm: 2021
49. Nguyễn Trọng Thừa (2020), “Tăng cường sự tham gia của người dân trong quá trình thực hiện cải cách hành chính ở nước ta”, Tổ chức Nhà nước, (01) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tăng cường sự tham gia của người dân trong quá trình thực hiện cải cách hành chính ở nước ta
Tác giả: Nguyễn Trọng Thừa
Nhà XB: Tổ chức Nhà nước
Năm: 2020
50. Patricia J. Pascual (2003), Chính phủ điện tử - (E-primers), NXB Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chính phủ điện tử - (E-primers)
Tác giả: Patricia J. Pascual
Nhà XB: NXB Hà Nội
Năm: 2003
62. Trang mạng Cải cách để phát triển thuộc Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn: http://cchc.mard.gov.vn/ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cải cách để phát triển thuộc Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn
67. Cổng Thông tin điện tử, Sở Thông tin và Truyền thông tỉnh Điện Biên: http://dic.gov.vn/ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cổng Thông tin điện tử, Sở Thông tin và Truyền thông tỉnh Điện Biên
Tác giả: Sở Thông tin và Truyền thông tỉnh Điện Biên
69. Trang mạng Nền tảng điều hành và quản trị doanh nghiệp hợp nhất: https://amis.misa.vn/ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nền tảng điều hành và quản trị doanh nghiệp hợp nhất
80. Cổng Giao tiếp điện tử Thành phố Hà Nội: https://hanoi.gov.vn/ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cổng Giao tiếp điện tử Thành phố Hà Nội
81. Cơ sở dữ liệu Thủ tục hành chính Thành phố Hồ Chí Minh: https://thutuchanhchinh.hochiminhcity.gov.vn/ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở dữ liệu Thủ tục hành chính Thành phố Hồ Chí Minh
84. Trang mạng Kinh tế và Đô thị - Cơ quan ngôn luận của Ủy ban nhân dân Thành phố Hà Nội: http://kinhtedothi.vn/ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh tế và Đô thị
Nhà XB: Ủy ban nhân dân Thành phố Hà Nội
93. Cổng thông tin điện tử quốc gia về Đăng ký doanh nghiệp: https://dangkykinhdoanh.gov.vn/ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cổng thông tin điện tử quốc gia về Đăng ký doanh nghiệp
110. Trang mạng Khám phá nghiên cứu khoa học, kỹ thuật và y tế ScienceDirect: https://www.sciencedirect.com/ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khám phá nghiên cứu khoa học, kỹ thuật và y tế
103. Trang mạng Tuổi trẻ Thủ đô: http://tuoitrethudo.com/ Link
104. Trang mạng Bnews: https://bnews.vn/  Tiếng nước ngoài Link
105. Trang Youtube chính thức của United Nations – tổ chức Liên Hợp quốc: https://www.youtube.com/channel/UC5O114-PQNYkurlTg6hekZw Link
106. Trang mạng chính thức của United Nations – tổ chức Liên Hợp quốc: https://www.un.org/ Link
107. Trang mạng kỹ thuật số của Estonia: https://e-estonia.com/ Link
108. Trang mạng Công ty tình báo thị trường hàng đầu IDC: https://www.idc.com/ Link
109. Trang mạng Phòng nghiên cứu Statista: http://statista.com/ Link
87. Trang mạng Bộ Thông tin và Truyền thông: https://mic.gov.vn/ Link
88. Cổng thông tin điện tử tỉnh Quảng Ninh: http://quangninh.gov.vn/ Link
89. Trang mạng Báo Quảng Ninh điện tử: https://baoquangninh.com.vn/ Link
91. Trang mạng Văn bản pháp luật: http://luatvietnam.vn/ Link
92. Trang mạng Phần mềm Hóa đơn điện tử E-invoice: https://einvoice.vn/ Link
94. Trang mạng Liên hiệp các Tổ chức hữu nghị Việt Nam: http://vufo.org.vn/ Link
95. Trang mạng Bộ Nội vụ - Tạp chí điện tử Tổ chức Nhà nước: http://tcnn.vn/ Link
96. Cổng Thông tin điện tử Bộ Khoa học và Công nghệ: https://most.gov.vn/ Link
97. Trang mạng Tạp chí Công thương: http://tapchicongthuong.vn/ Link
98. Trang mạng: https://www.dichthuatadong.com/ Link
99. Trang mạng Trung tâm công nghệ thông tin và truyền thông tỉnh Quảng Ngãi: http://nuian.vn/ Link
100. Trang mạng Doanh trí – Diễn đàn pháp lý cho doanh nghiệp: http://doanhtri.net/ Link
101. Trang mạng Báo Thừa Thiên Huế: https://baothuathienhue.vn/ Link
102. Trang mạng An ninh Thủ đô: https://anninhthudo.vn/ Link

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w