Xuất xứ hàng hóa được hiểu như “quốc tịch” của hàng hóa và quy tắc xuất xứ là những quy định trong pháp luật quốc gia và các điều ước quốc tế xác định “quốc tịch” của hàng hóa, tức là xá
Tính cấp thiết của đề tài
Việt Nam là thành viên chính thức của WTO từ năm 2007, bên cạnh việc thực hiện các cam kết của WTO về thương mại hàng hóa, thương mại dịch vụ và quyền sở hữu trí tuệ, Việt Nam còn tham gia vào các thỏa thuận thương mại trong khu vực ASEAN, các thỏa thuận liên khu vực và song phương khác về cắt giảm thuế, phi thuế đối với hàng hóa xuất nhập khẩu nhằm tạo thuận lợi cho việc trao đổi hàng hóa, dịch vụ và đầu tư nước ngoài Các Hiệp định thương mại tự do này (FTAs) được ký kết nhằm tạo thuận lợi và thúc đẩy trao đổi thương mại, đầu tư giữa Việt Nam và các quốc gia thành viên Hiệp định Tính đến tháng 05/2021, ngoài các Hiệp định thương mại đa biên của WTO, Việt Nam đã ký kết 15 Hiệp định thương mại tự do trong khu vực ASEAN, liên khu vực và song phương 1 Trong đó không chỉ ký kết FTAs với các quốc gia ASEAN mà Việt Nam còn mở rộng ký kết với các đối tác ngoài khối như:
EU, Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, Úc, New Zealand
Xuất xứ hàng hóa được hiểu như “quốc tịch” của hàng hóa và quy tắc xuất xứ là những quy định trong pháp luật quốc gia và các điều ước quốc tế xác định “quốc tịch” của hàng hóa, tức là xác định sản phẩm xuất khẩu giữa các quốc gia thành viên của FTAs có được xem là có “xuất xứ” hay không, bởi vì nếu được xem là có xuất xứ, chúng có thể được mua bán trao đổi với mức thuế suất ưu đãi hoặc miễn thuế Việc thực hiện các cam kết theo các FTAs nói chung và cam kết về quy tắc xuất xứ hàng hóa nói riêng đã thúc đẩy nền kinh tế Việt Nam phát triển một cách nhanh chóng, tăng đáng kể thị phần hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam tại thị trường các quốc gia là thành viên, mang lại nhiều thuận lợi và cơ hội cho doanh nghiệp Việt Nam trong việc mở rộng thị trường, bán sản phẩm xuất khẩu cũng như có được nguồn nguyên vật liệu đa dạng nhập khẩu từ nước ngoài phục vụ cho hoạt động sản xuất sản phẩm xuất khẩu Khác với việc xuất nhập khẩu hàng hóa và hưởng ưu đãi thuế trong khuôn
1 Tổng hợp các FTA của Việt Nam tính đến tháng 05/2021 Cổng thông tin điên tử Trung tâm WTO và Hội nhập Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam Ngày 01/05/2021
2 khổ WTO, lợi thế rất lớn mà các FTAs mang lại đó chính là mức thuế quan ưu đãi đặc biệt được hưởng trên cơ sở đáp ứng quy tắc xuất xứ hàng hóa ưu đãi Trên thực tế, các quy tắc xuất xứ ưu đãi tại các FTAs được thiết kế một cách đặc biệt để ngăn chặn việc hàng hóa không có xuất xứ được hưởng ưu đãi thuế quan giữa các nước thành viên FTAs Nói cách khác, không phải mọi hàng hóa từ tất cả các quốc gia trên thế giới khi xuất khẩu vào thị trường các quốc gia thuộc FTAs này đều được hưởng ưu đãi về thuế quan đặc biệt mà chỉ khi sản phẩm xuất khẩu của quốc gia thành viên được sản xuất bằng toàn bộ nguyên vật liệu có sẵn tại quốc gia đó; trường hợp phải sử dụng phần nguyên vật liệu nhập khẩu thì sản phẩm xuất khẩu đó phải được “chuyển đổi cơ bản hay đáng kể” so với các nguyên vật liệu nhập khẩu đầu vào Chỉ khi đáp ứng yêu cầu sản xuất toàn bộ hoặc chuyển đổi cơ bản hay đáng kể thì sản phẩm xuất khẩu có xuất xứ từ quốc gia thành viên FTAs mới được hưởng những ưu đãi thuế quan đặc biệt
Trong điều kiện hội nhập kinh tế hiện nay, phần lớn sản phẩm xuất khẩu được cấu thành từ nhiều nguyên vật liệu nhập khẩu từ nước ngoài, trải qua nhiều công đoạn gia công, chế biến và luôn có sự tham gia của hai quốc gia trở lên Vấn đề khó đặt ra là làm sao phân biệt sản phẩm xuất khẩu từ một quốc gia thành viên của FTAs được coi là có xuất xứ từ quốc gia đó để được hưởng mức thuế ưu đãi đặc biệt đã thỏa thuận tại các FTAs?
Vì các lý do trên, tác giả chọn đề tài: “QUY TẮC XUẤT XỨ HÀNG HOÁ TRONG CÁC THỎA THUẬN VỀ TỰ DO HÓA THƯƠNG MẠI GIỮA VIỆT NAM VỚI NƯỚC NGOÀI – LIÊN HỆ VIỆC THỰC HIỆN QUY TẮC XUẤT XỨ ƯU ĐÃI TẠI VIỆT NAM” để làm khóa luận tốt nghiệp Việc nghiên cứu, tìm hiểu quy tắc xuất xứ hàng hóa nói chung và quy tắc xuất xứ ưu đãi nói riêng là một yêu cầu cơ bản, có ý nghĩa thực tiễn lớn nhằm phục vụ việc thực hiện cam kết cắt giảm thuế đã thỏa thuận trong các FTAs mà Việt Nam tham gia, và cũng nhằm thực hiện cam kết của WTO về giảm thiểu hàng rào thuế và phi thuế
Phạm vi, mục đích và đối tượng nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu
Trong luận văn này, tác giả sẽ làm rõ một số vấn đề lý luận chung, cơ bản về quy tắc xuất xứ hàng hóa và tập trung nghiên cứu sâu về quy tắc xuất xứ ưu đãi qua việc phân tích các điều khoản tương ứng của các FTAs mà Việt Nam tham gia, chủ yếu là các quy tắc xuất xứ ưu đãi trong ASEAN theo Hiệp định thương mại hàng hóa ASEAN (ATIGA), từ đó so sánh với các quy tắc xuất xứ ưu đãi trong quan hệ ngoại khối của ASEAN với các đối tác thương mại chính là Nhật Bản, Hồng Kông, Hàn Quốc, Trung Quốc, Úc, New Zealand, Ấn Độ theo các FTAs là AJCEP, AHKFTA, AKFTA, ACFTA, AANZFTA, AIFTA Đồng thời, tác giả còn tìm hiểu sơ bộ về các quy tắc xuất xứ ưu đãi trong một số các FTAs thế hệ mới như EVFTA, CPTPP, RCEP; trong phạm vi thời gian hạn chế, tác giả cũng sẽ cố gắng liên hệ việc thực hiện các quy tắc xuất xứ ưu đãi tại các FTAs này trong hệ thống pháp luật Việt Nam.
Mục đích nghiên cứu
Thứ nhất, trình bày cơ sở pháp lý và phân tích từng quy tắc xuất xứ hàng hóa trong Hiệp định ATIGA nhằm cung cấp một kiến thức cơ bản về xuất xứ hàng hóa trong khu vực ASEAN
Thứ hai, chỉ ra sự khác biệt trong quy định về quy tắc xuất xứ hàng hóa của từng FTAs giữa ASEAN với đối tác ngoài khối và liên hệ việc thực hiện các quy tắc xuất xứ ưu đãi của Việt Nam Bên cạnh đó, tác giả còn phân tích một số quy định đặc biệt trong các Hiệp định thương mại tự do “thế hệ mới” hiện nay.
Đối tượng nghiên cứu
Các quy tắc về xuất xứ hàng hóa theo các FTAs và pháp luật của Việt Nam luôn bao gồm hai mảng nôi dung: (i) các quy định về tiêu chí xác định xuất xứ hàng hóa và (ii) các quy định kiểm tra việc xác định xuất xứ của hàng hóa Trong đề tài này, tác giả sẽ chỉ tập trung phân tích và làm rõ mảng nội dung thứ nhất (i), còn mảng nội
4 dung thứ hai (ii), tác giả chỉ đề cập trong mối liên hệ với quy định về tiêu chí xác định nguồn gốc xuất xứ của hàng hóa.
Phương pháp nghiên cứu
Để hỗ trợ cho quá trình nghiên cứu đề tài, tác giả đã sử dụng hai phương pháp sau:
Thứ nhất, phương pháp phân tích – tổng hợp: tác giả đã tiến hành chia nhỏ từng tiêu chí của quy tắc xuất xứ hàng hóa trong các Hiệp định để làm rõ hơn về điều kiện áp dụng và đưa ra một số ví dụ cụ thể Sau đó, tác giả đã tổng hợp lại các tiêu chí giúp người đọc biết được đặc điểm chung của các quy tắc xuất xứ hàng hóa
Thứ hai, phương pháp so sánh: tác giả tiến hành so sánh, đánh giá để làm rõ điểm tương đồng và khác biệt đối với từng tiêu chí của quy tắc xuất xứ hàng hóa trong các FTAs Tác giả sẽ vận dụng các kiến thức lý luận cơ bản về xuất xứ hàng hóa, đưa vào trong bối cảnh ASEAN để phân tích các quy tắc xuất xứ ưu đãi trong ASEAN, trên cơ sở đó thực hiện việc so sánh với các quy tắc xuất xứ ưu đãi trong các FTAs khác.
Ý nghĩa của đề tài
Luận văn của tác giả sẽ là tài liệu tham khảo ở mức độ cơ bản về xuất xứ và quy tắc xác định xuất xứ hàng hóa hữu ích cho sinh viên nhất là các sinh viên chuyên về luật thương mại, kinh doanh quốc tế, các công ty đang thực hiện kinh doanh dịch vụ xuất nhập khẩu hàng hóa của Việt Nam và nhóm người khác quan tâm về xuất xứ hàng hóa Bằng cách hiểu và sử dụng các quy tắc xuất xứ khi mà có ngày càng nhiều các FTAs, nhu cầu hiều rõ hơn về xuất xứ ngày càng tăng chứ không chỉ là tham vọng xuất khẩu tốt hơn Thực tế sẽ có nhiều tình huống mà người mua tại Việt nam (hoặc tại một nước đối tác của FTAs) muốn biết liệu sản phẩm họ mua có xuất xứ theo quy tắc xuất xứ hiện hành hay không vì họ có ý định sử dụng những nguyên liệu đầu vào này để sản xuất hàng hóa có xuất xứ
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUY TẮC XUẤT XỨ HÀNG HÓA – QUY TẮC XUẤT XỨ ƯU ĐÃI
Tổng quan về xuất xứ hàng hóa
1.1.1 Các khái niệm cơ bản về xuất xứ hàng hóa (Origin of goods):
Xuất xứ hàng hóa là gì? Trên thực tế, các cụm từ: “Xuất xứ hàng hóa”, “Made in …”, “Sản xuất tại …”, “Lắp ráp tại …” … thường được sử dụng một cách rộng rãi và có thể gây nhầm lẫn thông qua việc ghi nhãn trên bao bì sản phẩm
Hiệp định GATT 1994 và các Hiệp định thương mại đa biên khác về thương mại hàng hóa của WTO có nhiều điều khoản liên quan đến xuất xứ hàng hóa; theo Điều I của Hiệp định GATT 1994, xuất xứ hàng hóa được hiểu là “quốc tịch” của hàng hóa Hiệp định GATT 1994 cũng có một điều khoản riêng (Điều IX) quy định về nhãn xuất xứ hàng hóa; sau vòng đàm phán Uruguay, điều này được phát triển thành một Hiệp định đa biên riêng về quy tắc xuất xứ hàng hóa Hiệp định này không đưa ra định nghĩa xuất xứ hàng hóa bởi các quốc gia thành viên đều hiểu xuất xứ hàng hóa là “quốc tịch” hay nước xuất xứ của hàng hóa trong trao đổi thương mại thuộc phạm vi điều chỉnh của Điều I GATT 1994 (Quy định chung về Đãi ngộ tối huệ quốc)
Vì vậy, Hiệp định này chỉ định nghĩa về quy tắc xuất xứ hàng hóa thuộc phạm vi điều chỉnh của Điều I GATT 1994 2
Phần lớn các quốc gia thành viên của WTO kể cả Việt Nam đều là thành viên của Tổ chức Hải quan Thế giới (WCO), trong đó Phụ lục K của Công ước Kyoto quy định: “Nước xuất xứ của hàng hóa là nước tại đó hàng hóa được chế biến hoặc sản xuất, phù hợp với tiêu chuẩn được đặt ra nhằm mục đích áp dụng trong Biểu thuế hải quan, những hạn chế về số lượng hoặc các biện pháp khác liên quan đến thương mại” 3
Phù hợp với Công ước Kyoto, khoản 14 Điều 3 Luật Thương mại 2005 của Việt nam định nghĩa “Xuất xứ hàng hóa là nước hoặc vùng lãnh thổ nơi sản xuất ra toàn
3 Định nghĩa E1./F2 chương 1 phụ lục K ban hành kèm theo Công ước Kyoto về đơn giản hóa và hài hòa thủ tục hải quan sửa đổi, bổ sung
6 bộ hàng hóa hoặc nơi thực hiện công đoạn chế biến cơ bản cuối cùng đối với hàng hóa trong trường hợp có nhiều nước hoặc vùng lãnh thổ tham gia vào quá trình sản xuất ra hàng hóa đó”
Tính đến thời điểm hiện tại, chưa có một văn bản quy phạm pháp luật nào được ban hành để hướng dẫn cho việc ghi nhãn về xuất xứ hàng hóa Để giải quyết vấn đề này, Tổng cục Hải quan đã đề xuất những góp ý như sau 4 :
(i) Đối với hàng hóa xuất khẩu đáp ứng được các tiêu chí xuất xứ Việt Nam theo quy định tại Nghị định 31/2018/NĐ-CP và Thông tư 05/2018/TT-BCT thì trên hàng hóa, bao bì hàng hóa xuất khẩu ghi các cụm từ “Origin: Vietnam”, “Made in Vietnam”, “Produced in Vietnam”, “Product of Vietnam”
(ii) Ngược lại, đối với hàng hóa xuất khẩu không đáp ứng tiêu chí xuất xứ Việt Nam theo quy định tại hai văn bản quy phạm pháp luật nêu trên thì hàng hóa, bao bì không được ghi các cụm từ “Origin Vietnam”, “Made in Vietnam”, “Producted in
Vietnam”, “Products of Vietnam” mà phải ghi các cụm từ như “Lắp ráp tại Việt Nam”, “Hoàn tất tại Việt Nam”, “Lắp ráp bởi tên Công ty/Tập đoàn”, “Chế biến bởi Công ty/Tập đoàn”, “Sản phẩm của Công ty/Tập đoàn”
Khoản 1 Điều 3 Nghị định 31/2018/NĐ-CP cũng quy định: “Xuất xứ hàng hóa là nước, nhóm nước, hoặc vùng lãnh thổ nơi sản xuất ra toàn bộ hàng hóa hoặc nơi thực hiện công đoạn chế biến cơ bản cuối cùng đối với hàng hóa trong trường hợp có nhiều nước, nhóm nước, hoặc vùng lãnh thổ tham gia vào quá trình sản xuất ra hàng hóa đó” 5
Như vậy, xuất xứ hàng hóa là một khái niệm mang tính chất tương đối, bởi một hàng hóa không phải lúc nào cũng được tạo ra hoàn toàn tại một quốc gia hay vùng lãnh thổ mà nó có thể được tạo ra ở nhiều quốc gia, vùng lãnh thổ khác nhau Trên
4 Thái Bình – Cuộc chiến chống gian lận xuất xứ và những vấn đề đặt ra – Bài cuối: Còn nhiều vướng mắc liên quan đến ghi xuất xứ, ghi nhãn hàng xuất khẩu Tạp chí điện tử của Tổng cục Hải quan Việt Nam Ngày 14/07/2020
5 Khoản 1 Điều 3 Nghị định 31/2018/NĐ-CP ngày 08/03/2018 của Chính phủ quy định chi tiết Luật quản lý ngoại thương về xuất xứ hàng hóa
7 thực tế, việc xác định quốc gia hoặc vùng lãnh thổ nào là xuất xứ của hàng hóa trong thương mại khá phức tạp và không phải lúc nào cũng thống nhất với nhau bởi chính sách thương mại của các quốc gia và các thỏa thuận thương mại tự do khu vực, liên khu vực cũng có sự phân biệt đối xử khác nhau
Phù hợp với định nghĩa về xuất xứ hàng hóa nêu trên, sau đây là các khái niệm quan trọng, trực tiếp liên quan đến việc xác định xuất xứ hàng hóa bao gồm: hàng hóa có xuất xứ, hàng hóa không có xuất xứ và quy tắc xuất xứ hàng hóa
Hàng hóa có xuất xứ (Originating Goods):
Theo Điều 26 Hiệp định ATIGA, hàng hóa nhập khẩu vào lãnh thổ của một quốc gia thành viên từ một quốc gia thành viên khác được coi là có xuất xứ và đủ điều kiện để hưởng ưu đãi thuế quan nếu hàng hóa đó đáp ứng một trong các quy định về xuất xứ thuần túy hoặc được sản xuất toàn bộ tại lãnh thổ một quốc gia thành viên xuất khẩu theo quy định tại điểm k Điều 27 Hiệp định ATIGA (bao gồm hàng hóa có xuất xứ thuần túy hoặc được sản xuất toàn bộ từ các sản phẩm được quy định từ điểm (a) đến điểm (j) điều này) 6
Quy định chung của WTO về quy tắc xuất xứ hàng hóa
WTO có một Hiệp định riêng về quy tắc xuất xứ hàng hóa (ROO) Trong suốt
25 năm qua, WTO đã cố gắng đưa ra các khái niệm cơ bản về quy tắc xuất xứ hàng hóa không ưu đãi trong các FTAs nhưng đều thất bại Thời gian gần đây, thế giới và nhiều quốc gia thành viên WTO trong đó có Việt Nam thường thực thi các FTAs, đó là quy tắc xuất xứ ưu đãi Một mặt WTO không thể thống nhất khái niệm về quy tắc xuất xứ không ưu đãi trong thương mại hàng hóa ở cấp độ toàn cầu; mặt khác WTO cho phép thành viên áp dụng ngoại lệ phân biệt đối xử thuế quan theo Điều XXIV GATT khi thỏa thuận thiết lập các khu vực mậu dịch tự do hay liên minh thuế quan Trong mục này, tác giả sẽ làm rõ các yêu cầu, quy định chung của WTO về hài hòa quy tắc xuất xứ hàng hóa trong hệ thống pháp luật của quốc gia thành viên hay thỏa thuận quy tắc xuất xứ ưu đãi trong các FTAs.
1.2.1 Mục đích của Hiệp định quy tắc xuất xứ (ROO):
Hiệp định về Quy tắc xuất xứ (Rule of Origin – ROO) là một Hiệp định thương mại đa biên không tách rời Hiệp định GATT 1994 và Hiệp định ROO này ràng buộc tất cả các thành viên của tổ chức WTO 15 Vậy tại sao trong khi các quốc gia thành viên vẫn đang xây dựng các quy định về xuất xứ hàng hóa trong hệ thống pháp luật quốc gia nhưng vẫn phải cam kết thực hiện quy định của Hiệp định này? Sở dĩ nếu mỗi quốc gia quy định một quy tắc xác định xuất xứ riêng sẽ khiến cho hoạt động thương mại quốc tế nói chung và xuất nhập khẩu hàng hóa nói riêng bị cản trở rất nhiều, ngoài ra việc cho các quốc gia tự do quy định các quy tắc xuất xứ mà không dựa trên một quy tắc chung điều này làm cho các quốc gia có thể sử dụng các quy
15 Điều II.2 Hiệp định thành lập Tổ chức Thương mại thế giới (Hiệp định Marrakesh)
15 định này để thực hiện việc phân biệt đối xử trong chính sách thương mại của họ hoặc dùng các quy định này như một rào cản thương mại 16 để bảo hộ cho hàng nội địa Do đó, để tránh tình trạng lạm dụng quy tắc xuất xứ cũng như đẩy nhanh quá trình xuất nhập khẩu hàng hóa, các quốc gia đã thống nhất với nhau thực thi Hiệp định ROO Hiệp định này không chỉ đề cập đến các quy định chung về quy tắc xuất xứ hàng hóa mà còn quy định các nguyên tắc nền tảng để các quốc gia thành viên dựa vào đó xây dựng nên các nguyên tắc cụ thể về quy tắc xuất xứ hàng hóa trong pháp luật quốc gia mình cũng như là trong các Hiệp định thương mại tự do mà mình là thành viên
1.2.2 Yêu cầu của Chương trình hài hòa hóa quy tắc xuất xứ:
1.2.2.1 Nghĩa vụ điều chỉnh pháp luật quốc gia về xuất xứ hàng hóa:
Hiệp định ROO quy định những nguyên tắc cho quy tắc xuất xứ không ưu đãi Các thành viên WTO phải tuân thủ những nguyên tắc này đến khi hoàn thành Chương trình hài hòa hóa quy tắc xuất xứ để đảm bảo sự minh bạch và rõ ràng trong việc áp dụng quy tắc xuất xứ không ưu đãi 17 Theo đó, các quốc gia thành viên phải thực hiện hai nghĩa vụ sau đây:
Minh bạch hóa trong xây dựng, ban hành quy tắc xuất xứ Thật vậy, các quốc gia thành viên WTO cam kết rằng các quy định pháp luật và thực tiễn khi áp dụng các quy tắc xuất xứ sẽ được minh bạch hóa, các quy tắc này sẽ được quy định cụ thể trong các văn bản quy phạm pháp luật của các quốc gia giúp các doanh nghiệp trong và ngoài nước có thể tiếp cận được quy tắc xuất xứ một cách dễ dàng
Bảo đảm chính xác trong quản lý, áp dụng tiêu chí xác định xuất xứ Các quốc gia thành viên WTO có nghĩa vụ bảo đảm rằng các quy tắc xuất xứ do quốc gia mình ban hành phải được quy định một cách khách quan, dễ hiểu và phải được áp dụng một cách công bằng, không phân biệt đối xử giữa các quốc gia thành viên WTO
16 Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh Giáo trình Luật Thương mại quốc tế phần I Chủ biên: TS Trần Việt Dũng Nxb Hồng Đức – Hội Luật gia Việt Nam
17 Hatem Mabrouk Would harmonizing preferential rules of origin aid trade liberalization? Master thesis University of Dundee September 2014
Ngoài ra, các quy tắc xuất xứ phải được quy định và áp dụng một cách nhất quán để tránh trường hợp “quy định một đằng, áp dụng một nẻo”
1.2.2.2 Nguyên tắc về hài hòa quy tắc xuất xứ hàng hóa:
Căn cứ theo Điều 9 Hiệp định ROO, để thực hiện chương trình hài hòa hóa quy tắc xuất xứ hàng hóa, các quốc gia thành viên cần đảm bảo các nguyên tắc sau:
Nguyên tắc thứ nhất cũng là nguyên tắc cơ bản yêu cầu quy tắc xuất xứ phải thể hiện rõ nước xuất xứ của hàng hóa: đối với hàng hóa có xuất xứ thuần túy hoặc được sản xuất toàn bộ: nước xuất xứ của hàng hóa là nước sản xuất ra toàn bộ hàng hóa Nhưng đối với hàng hóa có xuất xứ không thuần túy hoặc không được sản xuất toàn bộ: nước xuất xứ của hàng hóa lại là nước thực hiện công đoạn chế biến cơ bản cuối cùng
Nguyên tắc thứ hai: quy tắc xuất xứ không được hạn chế, bóp méo hoặc làm rối loạn thương mại quốc tế Quy tắc xuất xứ không được đặt ra những yêu cầu quá chặt chẽ đến mức không cần thiết hoặc không liên quan đến quá trình sản xuất, chế biến Theo đó, quy tắc xuất xứ không được sử dụng như một công cụ chính sách thương mại 18 mà quy tắc xuất xứ chỉ được áp dụng như một biện pháp kỹ thuật nhằm xác định nguồn gốc của hàng hóa
Nguyên tắc thứ ba: quy tắc xuất xứ phải được áp dụng một cách nhất quán, thống nhất, khách quan và hợp lý Khi áp dụng các quy tắc này đối với hàng xuất khẩu không được khó khăn hơn so với hàng nhập khẩu và tương tự như vậy các quốc gia không được phân biệt đối xử khi áp dụng quy tắc xuất xứ đối với các quốc gia thành viên WTO
1.2.2.3 Cam kết của thành viên về quy tắc xuất xứ ưu đãi:
Các quốc gia thành viên khi ban hành quy tắc xuất xứ cần đảm bảo 19 :
18 Các câu hỏi liên quan đến Hiệp định về Quy tắc Xuất xứ của WTO Cổng thông tin điện tử của Trung tâm WTO và Hội Nhập Phòng Thương Mại và Công Nghiệp Việt Nam
19 Phụ lục II Hiệp định ROO
(i) Thứ nhất, khi áp dụng tiêu chí chuyển đổi mã số HS của hàng hóa (CTC), phải quy định rõ nhóm sản phẩm nào được áp dụng tiêu chí ấy trong biểu thuế và nếu có quy định về ngoại lệ thì phải chỉ ra cụ thể sản phẩm nào được áp dụng ngoại lệ
(ii) Thứ hai, khi áp dụng tiêu chí tỉ lệ phần trăm giá trị khu vực (LVC hoặc RVC), phải quy định rõ các phương pháp tính phần trăm
(iii) Thứ ba, khi áp dụng tiêu chí công đoạn gia công, chế biến cụ thể, phải quy định rõ đối với từng nhóm hàng hóa muốn được hưởng ưu đãi về thuế quan hoặc phi thuế quan phải trải qua những công đoạn gia công, chế biến nhất định nào
Quy tắc xuất xứ ưu đãi trong các thỏa thuận về tự do hóa thương mại giữa Việt Nam với nước ngoài
1.3.1 Giới thiệu chung về quy tắc xuất xứ ưu đãi:
Quy tắc xuất xứ ưu đãi không giống như nhiều luật và quy định khác điều chỉnh hoạt động thương mại quốc tế Cụ thể một sản phẩm được định giá như thế nào tại
20 Các câu hỏi liên quan đến Hiệp định về Quy tắc Xuất xứ của WTO Cổng thông tin điện tử của Trung tâm WTO và Hội Nhập Phòng Thương Mại và Công Nghiệp Việt Nam
18 thời điểm nhập khẩu phải tuân theo các hướng dẫn đa phương của WTO và cách một sản phẩm được phân loại theo hệ thống hài hòa HS phải tuân theo công ước đang được áp dụng cho hầu hết hoạt động thương mại quốc tế Về cơ bản, không có hệ thống đa phương nào để xác định xuất xứ ưu đãi, có nghĩa là quy tắc xuất xứ ưu đãi xuất hiện duy nhất trong các FTAs Hơn nữa, không thể chỉ đơn giản áp dụng xác định xuất xứ cho một sản phẩm cụ thể được quy định trong một FTA cho bất kỳ một FTA nào khác
Mục đích của quy tắc xuất xứ không ưu đãi để xác định quốc gia xuất xứ của một hàng hóa, vì những lý do khác với các FTAs, nhằm mục đích ghi nhãn, dán nhãn, thống kê thương mại Nói cách khác khi việc cắt giảm hoặc loại bỏ thuế quan không được xem xét thì đó là khi các quy tắc xuất xứ không ưu đãi được áp dụng
Vậy tại sao lại có sự tồn tại quy tắc xuất xứ ưu đãi? Đối với các sản phẩm hàng hóa được sản xuất trong nước để xuất khẩu mà không trải qua nhiều công đoạn gia công, hoặc dù có qua gia công, chế biến nhưng không được cấu tạo từ nguyên vật liệu nhập khẩu đầu vào thì việc chứng minh hàng hóa đó được sản xuất toàn bộ trong phạm vi quốc gia xuất khẩu khá dễ dàng Ngược lại, các sản phẩm xuất khẩu phải trải qua nhiều công đoạn gia công, chế biến và phụ thuộc vào nguyên vật liệu nhập khẩu đầu vào từ các quốc gia khác nhau trong quá trình tạo nên sản phẩm thì việc chứng minh nước xuất khẩu sản phẩm cuối cùng là nước được hưởng xuất xứ rất phức tạp Theo quy chế đãi ngộ Tối huệ quốc của WTO (Most Favoured Nation – MFN), bất kỳ quốc gia thành viên WTO dành một ưu đãi thuế quan hoặc ưu đãi phi thuế quan đối với một quốc gia thành viên WTO khác thì quốc gia ấy cũng phải dành sự ưu đãi không kém thuận lợi hơn cho quốc gia thành viên thứ ba, đây là cơ sở để áp dụng thuế quan ưu đãi WTO trên cấp độ toàn cầu Ví dụ: Hoa Kỳ đánh thuế 10% đối với cá tra, cá ba sa của Việt Nam thì đối với mặt hàng cá tra, cá ba sa đến từ các quốc gia thành viên khác, Hoa Kỳ cũng phải đánh thuế 10% và không được tạo ra một sự ưu đãi hơn cho các quốc gia thành viên khác Tuy nhiên, Điều XXIV Hiệp định GATT
1994 lại có quy định về ngoại lệ của quy chế đãi ngộ MFN, mặc dù quy chế này yêu cầu các quốc gia thành viên phải dành cho các quốc gia thành viên khác sự ưu đãi
19 không kém thuận lợi hơn nhưng nếu giữa một số quốc gia thành viên với nhau có hình thành một liên minh thuế quan (Custom Union – CU) hay một khu vực thương mại tự do (Free Trade Area – FTA) thì các quốc gia vừa là thành viên của WTO vừa là thành viên của CU hoặc FTA đó có thể dành cho nhau những ưu đãi có lợi hơn so với quốc gia không là thành viên của CU hoặc FTA Vì vậy khi các quốc gia thành viên WTO tham gia các FTAs được WTO cho phép áp dụng mức thuế quan ưu đãi đặc biệt thể hiện cam kết cắt giảm thuế quan ở mức độ cao hơn của WTO và được phép phân biệt đối xử với quốc gia thành viên WTO không tham gia FTAs, đây được xem là ưu đãi thuế quan dành riêng cho các quốc gia thành viên FTAs Việc quy định quy tắc xuất xứ ưu đãi còn ngăn ngừa tình trạng chệch hướng thương mại Theo đó, chệch hướng thương mại (Trade deflection) là hiện tượng hàng hóa xuất khẩu từ một quốc gia thứ ba vào lãnh thổ của quốc gia thành viên FTA có mức thuế suất cao thông qua quốc gia thành viên FTA khác có mức thuế suất thấp hơn nhằm hưởng ưu đãi về thuế quan Ví dụ: trong khu vực ASEAN, Việt Nam áp thuế 30% đối với ô tô nhập khẩu từ các quốc gia ngoài khối nhưng Campuchia chỉ áp thuế 10% đối với ô tô nhập khẩu từ các quốc gia ngoài khối và thuế nhập khẩu ô tô từ các quốc gia ASEAN là 0%, thay vì xuất khẩu trực tiếp từ Nhật Bản vào Việt Nam thì doanh nghiệp Nhật Bản lại xuất khẩu ô tô sang Campuchia rồi từ Campuchia xuất khẩu sang Việt Nam để được hưởng 20% ưu đãi về thuế quan Ngoài ra, sự khác nhau giữa FTA và CU là các thành viên FTA được quyền áp dụng các mức thuế suất khác nhau cho cùng một loại hàng hóa của các quốc gia không phải là thành viên FTA nhưng các thành viên CU lại phải áp dụng chung một mức thuế suất cho cùng một loại hàng hóa của các quốc gia không phải là thành viên CU Ví dụ: Việt Nam và Indonesia đều là thành viên của AFTA, Việt Nam có quyền áp dụng thuế suất 30% đối với ô tô nhập khẩu từ các quốc gia không là thành viên AFTA và Indonesia có quyền áp dụng thuế suất 40% đối với ô tô nhập khẩu từ các quốc gia không phải là thành viên AFTA nhưng các quốc gia thuộc EU phải áp dụng chung một mức thuế suất là 35% đối với ô tô nhập khẩu từ các quốc gia không là thành viên EU Trong trường hợp này, do có sự khác nhau về mức thuế suất giữa các thành viên của FTA nên mới xảy ra hiện tượng chệch hướng
20 thương mại còn các thành viên CU áp dụng một mức thuế suất như nhau nên sẽ không xảy ra hiện tượng chệch hướng thương mại 21
1.3.2 Các tiêu chí xác định “chuyển đổi cơ bản hay đáng kể” trong quy tắc xuất xứ ưu đãi:
1.3.2.1 Tiêu chí tỉ lệ phần trăm giá trị gia tăng (Local Value Content – LVC):
Tiêu chí này yêu cầu hàng hóa được xem là có xuất xứ khi và chỉ khi đạt được một tỉ lệ phần trăm giá trị gia tăng nhất định so với giá trị đầu vào Để tính ra được tỉ lệ phần trăm ấy, doanh nghiệp có thể tự do lựa chọn một trong hai công thức tính LVC bao gồm: công thức trực tiếp hoặc công thức gián tiếp Sau khi đã lựa chọn được một trong hai công thức trên, doanh nghiệp phải thống nhất áp dụng công thức đó trong suốt một năm tài chính 22
(i) Công thức tính trực tiếp:
LVCTrị giá nguyên liệu đầu vào có xuất xứ từ nước, nhóm nước hoặc vùng lãnh thổ sản xuất
(ii) Công thức tính gián tiếp:
LVCTrị giá FOB - Trị giá nguyên liệu đầu vào không có xuất xứ từ nước, nhóm nước hoặc vùng lãnh thổ sản xuất
“Trị giá FOB” là trị giá ghi trên hợp đồng xuất khẩu và được tính như sau:
“Trị giá FOB = Giá xuất xưởng + các chi phí khác” 23
21 Hatem Mabrouk Would harmonizing preferential rules of origin aid trade liberalization? Master thesis University of Dundee September 2014
22 Khoản 3 Điều 6 Thông tư 05/2018/TT-BCT ngày 03/04/2018 của Bộ Công Thương quy định về xuất xứ hàng hóa
23 Điểm c khoản 4 Điều 6 Thông tư 05/2018/TT-BCT ngày 03/04/2018 của Bộ Công Thương quy định về xuất xứ hàng hóa
Nhìn vào hai công thức nêu trên có thể nhận thấy việc tính toán tỉ lệ LVC rất dễ dàng, chỉ cần có số liệu sau đó vận dụng một trong hai công thức trên sẽ tính ra được tỉ lệ LVC Tuy nhiên, trên thực tế lại không đơn giản như vậy, tùy vào nguồn cơ sở dữ liệu của doanh nghiệp cũng như trình độ của nhân viên kế toán để biết rằng việc tính toán tỉ lệ LVC cho hàng hóa có dễ dàng hay không Doanh nghiệp phải có đủ bằng chứng, lưu giữ các hợp đồng nhập khẩu nguyên vật liệu, minh chứng của các thông tin về chi phí đầu vào trong quá trình sản xuất, kinh doanh Trong trường hợp bộ phận kế toán doanh nghiệp ghi chép lại một cách tỉ mỉ, chi tiết về chi phí nguyên liệu, nhân công hoặc những chi phí khác, căn cứ vào đó bộ phận phụ trách về xuất khẩu hàng hóa có thể dễ dàng tính ra được tỉ lệ LVC Ngược lại trong trường hợp bộ phận kế toán của doanh nghiệp chưa được chuyên nghiệp nên không thể thống kê được hết các chi phí mà doanh nghiệp đã chi tiêu về nguồn nhân công, nguyên vật liệu, … thì quá trình tính toán tỉ lệ LVC rất khó khăn Ngoài ra, tỉ lệ LVC sau khi được tính toán dựa vào hai công thức nêu rất dễ bị chi phối bởi giá cả thị trường, trong đó bao gồm chi phí nhân công và chi phí về nguyên vật liệu Sau khi tính toán, nếu hàng hóa của doanh nghiệp thỏa mãn được tỉ lệ LVC nhất định thì hàng hóa được xem là có xuất xứ và doanh nghiệp không cần phải xem xét đến các tiêu chí khác
1.3.2.2 Tiêu chí chuyển đổi mã số hàng hóa (Change in Tariff Classification – CTC):
Tiêu chí này còn được gọi bằng những cái tên khác nhau như: tiêu chí thay đổi mã HS hoặc tiêu chí thay đổi dòng thuế Trong đó “chuyển đổi mã số hàng hóa” là sự thay đổi về mã HS của hàng hóa ở cấp hai số, bốn số hoặc sáu số so với mã HS của hàng hóa là nguyên liệu đầu vào không có xuất xứ (bao gồm nguyên liệu nhập khẩu và nguyên liệu không xác định được xuất xứ) dùng để sản xuất ra hàng hóa đó 24 Sau khi được gia công, chế biến tại Việt Nam mà đặc tính của hàng hóa biến đổi đến mức có thể phân loại thành một dòng thuế khác với dòng thuế trước khi gia công, chế biến thì hàng hóa đó được coi là có xuất xứ Việt Nam 25 Trong đó, thay đổi mã HS ở
24 Điểm a khoản 2 Điều 6 Thông tư 05/2018/TT-BCT ngày 03/04/2018 của Bộ Công Thương quy định về xuất xứ hàng hóa
25 Nguyễn Hoàng Thái Hy – Tài liệu học tập lớp chất lượng cao khóa 42 môn Pháp luật thương mại ASEAN, học kỳ II năm học 2019 - 2020 Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh
22 cấp độ hai số là chuyển đổi chương (CC – Change in Chapter); thay đổi mã HS ở cấp độ bốn số là chuyển đổi nhóm (CTH – Change in Tariff Heading) và thay đổi mã HS ở cấp độ sáu số là chuyển đổi phân nhóm (CTSH – Change in Tariff Sub-Heading) và việc thay đổi mã HS từ các cấp độ CC, CTH, CTSH là sự thay đổi mã HS từ khó đến dễ HS (Harmonized System) là hệ thống hài hòa mô tả và mã hóa hàng hóa được tiêu chuẩn hóa quốc tế về tên gọi và mã số, được sử dụng cho việc phân loại hàng hóa thương mại trên phạm vi toàn cầu 26 Hệ thống này được duy trì bởi Tổ chức Hải quan Thế giới (WCO) và Việt Nam đã gia nhập vào tổ chức này năm 1993 Thực chất, danh mục mã HS do WCO ban hành chỉ phân loại hàng hóa đến cấp độ sáu số nhưng WCO cho phép các quốc gia thành viên có thể sử dụng tám số hoặc mười số để phân loại hàng hóa một cách cụ thể, chi tiết hơn Ví dụ: trong chương 10 ngũ cốc phân loại lúa gạo với mã số HS là 1006, trong nhóm lúa gạo lại phân ra thành thóc với mã HS là 1006.10 và nhiều loại khác như gạo lứt với mã 1006.20, tấm với mã 1006.40; phân nhóm tấm lại phân ra thành loại dùng làm thức ăn chăn nuôi với mã 10064010 và các loại khác với mã 10064090 Tuy nhiên, về nguyên tắc tiêu chí chuyển đổi mã số hàng hóa chỉ dừng lại ở việc thay đổi mã HS ở cấp độ sáu số mặc dù có trường hợp mã HS lên đến tám hoặc mười số Nguyên nhân là do mã HS được sử dụng chung bởi các quốc gia thành viên WCO chỉ dừng lại ở cấp sáu số, việc phân loại hàng hóa cụ thể hơn ở cấp độ tám hoặc mười số là do mỗi quốc gia tự quy định vậy nên tiêu chí chuyển đổi mã số hàng hóa chỉ dừng lại ở cấp độ sáu số
Khác với tiêu chí LVC là thực hiện công việc tính toán phần giá trị gia tăng ít nhiều mang tính chủ quan thì tiêu chí chuyển đổi mã số hàng hóa là một tiêu chí khách quan, mang tính kỹ thuật hơn bởi lẽ việc phân loại hàng hóa để áp mã HS phải tuân thủ sáu quy tắc phân loại hàng hóa nhất định Ngoài ra, tiêu chí chuyển đổi mã số hàng hóa dựa trên mã HS, mà cách phân loại hàng hóa để áp mã HS lại căn cứ theo các quy tắc nhất định nên tiêu chí này không bị ảnh hưởng bởi giá cả thị trường như tiêu chí LVC, tuy nhiên việc phân loại hàng hóa để áp mã HS không mấy dễ dàng vì
26 Lê Thị Hồng Ngọc, Phạm Văn Đồng, Brian Staples – Sổ tay quy tắc xuất xứ trong các FTA Việt Nam là thành viên Dự án hỗ trợ chính sách thương mại và đầu tư của Châu Âu Phiên bản cuối cùng tháng 11/2017
23 các quy tắc để phân loại hàng hóa này đòi hỏi doanh nghiệp phải biết, am hiểu, nắm vững về HS theo WCO và quy tắc phân loại cũng định kỳ thay đổi (năm năm một lần) nên đối với một số doanh nghiệp nhỏ, việc hiểu và áp dụng HS khó khăn hơn Tiêu chí CTC thường được áp dụng trong các trường hợp nguyên vật liệu nhập khẩu đầu vào để gia công sản xuất hàng xuất khẩu không có xuất xứ từ các quốc gia thành viên FTAs