1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Khoá Luận Hợp Đồng Có Điều Kiện Theo Quy Định Của Pháp Luật Việt Nam.pdf

111 8 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Hợp Đồng Có Điều Kiện Theo Quy Định Của Pháp Luật Việt Nam
Tác giả Huỳnh Lê Yến Vy
Người hướng dẫn ThS. Lê Thị Hồng Vân
Trường học Trường Đại Học Luật TP Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Luật Dân Sự
Thể loại Khóa luận tốt nghiệp
Năm xuất bản 2021
Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 111
Dung lượng 1,65 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • CHƯƠNG 1. KHÁI QUÁT CHUNG VỀ HỢP ĐỒNG CÓ ĐIỀU KIỆN (13)
    • 1.1. Khái niệm hợp đồng có điều kiện (13)
    • 1.2. Chủ thể của hợp đồng có điều kiện (18)
    • 1.3. Điều kiện trong hợp đồng có điều kiện (20)
      • 1.3.1. Khái niệm điều kiện trong hợp đồng có điều kiện (20)
      • 1.3.2. Hình thức của điều kiện trong hợp đồng có điều kiện (23)
      • 1.3.3. Các yêu cầu pháp lý đối với điều kiện trong hợp đồng có điều kiện (25)
      • 1.3.4. Phân loại điều kiện trong hợp đồng có điều kiện (32)
    • 1.4. Hiệu lực của hợp đồng có điều kiện (36)
      • 1.4.1. Xác định hiệu lực của hợp đồng có điều kiện (36)
      • 1.4.2. Thời điểm có hiệu lực của hợp đồng có điều kiện (39)
    • 1.5. Thực hiện và chấm dứt hợp đồng có điều kiện (41)
      • 1.5.1. Thực hiện hợp đồng có điều kiện (41)
      • 1.5.2. Chấm dứt hợp đồng có điều kiện (42)
  • CHƯƠNG 2. THỰC TIỄN ÁP DỤNG VÀ MỘT SỐ KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ HỢP ĐỒNG CÓ ĐIỀU KIỆN (46)
    • 2.1. Về trường hợp điều kiện không được ghi nhận trong hợp đồng (46)
    • 2.2. Về tính hợp pháp của điều kiện trong hợp đồng có điều kiện (50)
    • 2.3. Về việc xác định loại điều kiện trong hợp đồng có điều kiện (55)
    • 2.4. Về hệ quả pháp lý của việc vi phạm điều kiện trong hợp đồng có điều kiện (59)
  • PHỤ LỤC (71)

Nội dung

Về pháp luật, Bộ luật Dân sự Việt Nam năm 1995, 2005, 2015 đều có sự ghi nhận về hợp đồng có điều kiện, sự ghi nhận đó nhằm đáp ứng nhu cầu thực tiễn và bảo vệ quyền lợi cho các bên tron

KHÁI QUÁT CHUNG VỀ HỢP ĐỒNG CÓ ĐIỀU KIỆN

Khái niệm hợp đồng có điều kiện

Hợp đồng được coi là một trong những chế định pháp lý cổ xưa và cơ bản nhất Trên thế giới, hợp đồng đã xuất hiện từ rất lâu “Nhiều luật gia cho rằng thuật ngữ

“hợp đồng” (contractus) được hình thành từ động từ contrahere, trong tiếng La-tinh có nghĩa là “ràng buộc”, và xuất hiện đầu tiên ở La Mã vào khoảng thế kỷ V - IV TCN” 1 Ở Việt Nam, các thuật ngữ chỉ về hợp đồng như tờ giao ước, giao kèo, cam kết, mua, bán, cho thuê… được sử dụng rất nhiều Trong cổ luật, thuật ngữ “văn tự”,

“văn khế” 2 , “khế ước” hay “hiệp ước” 3 là những thuật ngữ chỉ về hợp đồng nhưng các quy định về hợp đồng không nhiều, chủ yếu quy định về mua bán, cho vay và không có luật riêng quy định về hợp đồng Ngày nay, trong đời sống hằng ngày, hợp đồng đã được con người sử dụng phổ biến trong nhiều quan hệ xã hội để đáp ứng các nhu cầu giao dịch và bảo vệ lợi ích của mình Trong khoa học pháp lý, một tác giả đã bình luận: “Hợp đồng chiếm một vị trí trung tâm và được chế định với dung lượng lớn nhất so với các chế định khác do vai trò trung tâm của nó đối với trật tự thị trường” 4

Theo Bộ luật Dân sự (BLDS) Pháp sửa đổi năm 2016: “Hợp đồng là sự thỏa thuận về ý chí giữa hai hoặc nhiều người nhằm tạo ra, sửa đổi, chuyển giao hoặc

1 Lê Minh Hùng (2010), Hiệu lực của hợp đồng theo quy định của pháp luật Việt Nam, Luận án tiến sĩ, Trường Đại học Luật TP Hồ Chí Minh, tr 8

2 Viện Sử học (2013), Quốc triều hình luật, Nxb Tư pháp, Hà Nội, Điều 363, Điều 366

3 Xem thêm: Trường Đại học Luật TP.HCM (2017), Giáo trình Pháp luật về hợp đồng và bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng (tái bản lần thứ nhất, có sửa đổi, bổ sung), Nxb Hồng Đức - Hội Luật gia

4 Reinmann, Mathias & Reinhard Zimmermann (2008), The Oxford Handbook of Comparative Law, Oxford University Press Publisshers, p 900 chấm dứt nghĩa vụ” 5 Theo BLDS Nga sửa đổi năm 2011: “Hợp đồng là sự thỏa thuận giữa hai hay nhiều bên về việc xác lập, thay đổi, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự” 6 “Theo pháp luật hợp đồng của Hoa Kỳ thì hợp đồng được hiểu là sự thỏa thuận có hiệu lực bắt buộc thi hành” 7 Như vậy, bản chất của hợp đồng là sự thỏa thuận của ít nhất hai bên tham gia giao kết hợp đồng Pháp luật của các quốc gia trên thế giới có cách ghi nhận riêng về khái niệm hợp đồng nhưng đều khẳng định sự thỏa thuận là yếu tố cốt lõi của hợp đồng

Theo Từ điển Tiếng Việt thì “Hợp đồng là sự thỏa thuận, giao ước giữa hai hay nhiều bên quy định các quyền lợi, nghĩa vụ của các bên tham gia, thường được viết thành văn bản” 8 Trong các văn bản pháp luật, thuật ngữ “khế ước” hay “hiệp ước” không còn được sử dụng mà đã được thay thế bằng thuật ngữ “hợp đồng” Theo đó, ở Việt Nam, hợp đồng đã trở thành một trong những hình thức pháp lý cơ bản, thuật ngữ này đã được ghi nhận tại nhiều văn bản pháp luật từ Pháp lệnh Hợp đồng kinh tế năm 1989, Pháp lệnh Hợp đồng dân sự năm 1991 đến các BLDS năm 1995, BLDS năm 2005 Và đến Điều 385 BLDS năm 2015 quy định: “Hợp đồng là sự thỏa thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự”

Từ khái niệm hợp đồng, để xác định đúng quyền và nghĩa vụ của các bên, đồng thời định ra những quy chế pháp lý thích hợp trong việc xác lập, giao kết, thực hiện hợp đồng, BLDS đã đưa ra nhiều loại hợp đồng dựa trên từng tiêu chí cụ thể Trong đó, dựa trên sự tồn tại của các điều kiện làm phát sinh hoặc chấm dứt hiệu lực hợp đồng mà hợp đồng có điều kiện đã được ghi nhận

Pháp lệnh Hợp đồng dân sự năm 1991 không chỉ ra có những loại hợp đồng dân sự nào nhưng có sự thừa nhận về hợp đồng có điều kiện ở Điều 23: “Trong trường hợp các bên thoả thuận về một sự kiện là điều kiện thực hiện hoặc chấm dứt hợp đồng, thì khi sự kiện đó xảy ra, hợp đồng phải được thực hiện hoặc chấm dứt” Tại Điều 134 BLDS năm 1995 ghi nhận về giao dịch dân sự có điều kiện nhưng không liệt kê hợp đồng có điều kiện trong các loại hợp đồng Đến BLDS năm 2005, bên cạnh việc quy định giao dịch dân sự có điều kiện tại Điều 125 thì Bộ luật này cũng

5 Article 1101 French Civil Code (as amended and added up to February 10, 2016), https://www.legifrance.gouv.fr/codes/id/LEGITEXT000006070721/#/, truy cập ngày 22/4/2021

6 Article 420 Civil code of Russian Federation (as amended up to December 8, 2011), https://www.wipo.int/edocs/lexdocs/laws/en/ru/ru083en.pdf, truy cập ngày 22/4/2021

7 Hoàng Thế Liên (2009), Bình luận Khoa học Bộ luật dân sự năm 2005 (Tập 2), Nxb Chính trị quốc gia - sự thật, Hà Nội, tr 195

8 Viện Ngôn ngữ học (2003), Từ điển Tiếng Việt, Nxb Đà Nẵng - Trung tâm từ điển học, tr 466 chính thức ghi nhận hợp đồng có điều kiện là một trong những loại hợp đồng chủ yếu tại khoản 6 Điều 406 Tương tự, BLDS năm 2015 đã xây dựng một số điều luật đề cập đến loại hợp đồng này Cụ thể, tại Điều 120 BLDS năm 2015 quy định: “Trường hợp các bên có thỏa thuận về điều kiện phát sinh hoặc hủy bỏ giao dịch dân sự thì khi điều kiện đó xảy ra, giao dịch dân sự phát sinh hoặc hủy bỏ”, tại khoản 6 Điều

402 BLDS năm 2015 quy định: “Hợp đồng có điều kiện là hợp đồng mà việc thực hiện phụ thuộc vào việc phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt một sự kiện nhất định” và tại Điều 462 BLDS năm 2015 quy định về hợp đồng tặng cho tài sản có điều kiện, đây là một dạng cụ thể của hợp đồng có điều kiện, theo đó hợp đồng tặng cho tài sản nhưng bên được tặng cho chỉ trở thành chủ sở hữu tài sản nếu thực hiện một hoặc nhiều nghĩa vụ theo yêu cầu của bên tặng cho

Như vậy, hợp đồng có điều kiện đã được đề cập trong các BLDS nhưng những quy định về loại hợp đồng này chỉ mới là những quy định chung về khái niệm giao dịch có điều kiện, hợp đồng có điều kiện, đồng thời những quy định đó cũng tồn tại một số vướng mắc khi áp dụng

Theo Điều 120 BLDS năm 2015 thì giao dịch có điều kiện là giao dịch được phát sinh hay hủy bỏ phụ thuộc vào điều kiện mà các bên đã thỏa thuận Ví dụ: Hợp đồng Lixăng về một chương trình máy tính với điều kiện liên quan đến tính khả thi

Cụ thể: C thỏa thuận cho D khai thác chương trình máy tính nhưng việc phát sinh hợp đồng này phụ thuộc vào việc công ty E khẳng định chương trình này có phù hợp hay không, nếu có thì hợp đồng giữa C và D phát sinh, ngược lại hợp đồng này không phát sinh Ở đây, C và D đã thống nhất với nhau về nội dung hợp đồng nhưng việc hợp đồng phát sinh còn phụ thuộc vào việc công ty E có khẳng định chương trình đó phù hợp hay không Như vậy, tại thời điểm thỏa thuận, các chủ thể vẫn chưa thể chắc chắn giao dịch mình hướng tới có phát sinh hiệu lực hay không Dựa trên tinh thần tại Điều 125 BLDS năm 2005 tương ứng với Điều 120 BLDS năm 2015, có quan điểm khi điều kiện phát sinh xảy ra thì hợp đồng phát sinh hiệu lực: “Những hợp đồng trong đó các bên thỏa thuận về một hoặc nhiều sự kiện là điều kiện mà chỉ khi điều kiện đó xảy ra hoặc không xảy ra thì hợp đồng mới được coi là phát sinh hay chấm dứt hiệu lực” 9

9 Phạm Công Lạc (1998), “Về “điều kiện” trong hợp đồng có điều kiện”, Tạp chí Luật học, (02), tr

Bên cạnh đó, theo khoản 6 Điều 402 BLDS năm 2015 thì có thể hiểu hợp đồng có điều kiện là hợp đồng được thực hiện khi có sự phát sinh, thay đổi hay chấm dứt điều kiện mà các bên đã thỏa thuận Ví dụ: A giao kết hợp đồng mua thiết bị văn phòng của B và kèm theo điều kiện A sẽ trả tiền cho B ngay sau khi A nhận được tiền vay từ ngân hàng; hợp đồng mua bán và hợp đồng vay đã được giao kết xong nhưng

Chủ thể của hợp đồng có điều kiện

Bản chất của hợp đồng là sự thỏa thuận giữa các bên cho nên chủ thể trong hợp đồng nói chung và hợp đồng có điều kiện nói riêng phải có ít nhất hai bên Các bên tham gia thỏa thuận những điều kiện mà khi nó xảy ra thì hợp đồng được phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt Do đó, chủ thể trong hợp đồng có điều kiện cũng phải tuân theo các quy định về chủ thể trong hợp đồng nói chung Chủ thể của hợp đồng có điều kiện có thể là cá nhân hoặc pháp nhân Tại điểm a khoản 1 Điều 117 BLDS năm 2015 quy định về năng lực chủ thể để giao dịch có điều kiện: “Chủ thể có năng lực pháp luật dân sự, năng lực hành vi dân sự phù hợp với giao dịch dân sự được xác lập”

Khi tham gia giao kết hợp đồng, cá nhân phải có năng lực pháp luật và năng lực hành vi dân sự phù hợp với hợp đồng được xác lập Hợp đồng phải có sự thống nhất ý chí của các bên nên chỉ những cá nhân có năng lực hành vi mới có ý chí riêng và khả năng nhận thức được hành vi của họ để tự mình xác lập, thực hiện hợp đồng Ở đây, BLDS không quy định cá nhân phải có năng lực hành vi dân sự đầy đủ mà chỉ cần phù hợp với hợp đồng các bên xác lập vì tùy thuộc vào khả năng nhận thức và làm chủ hành vi của cá nhân mà năng lực hành vi dân sự của các cá nhân là không giống nhau Từ đó, khả năng tham gia xác lập, thực hiện hợp đồng của các cá nhân là khác nhau Đối với pháp nhân, khi tham gia giao kết hợp đồng, pháp nhân phải có năng lực pháp luật dân sự Năng lực pháp luật dân sự của pháp nhân không bị hạn chế, trừ trường hợp BLDS, luật khác có liên quan quy định khác

Theo một tác giả, “sự kiện làm điều kiện thường chỉ do một bên đưa ra nhưng bản thân điều kiện đó được coi là một vấn đề thuộc về nội dung của hợp đồng nên phải có sự chấp thuận của bên kia” 19 , cho nên, trong hợp đồng có điều kiện phải luôn có bên chủ thể đưa ra điều kiện và bên chủ thể chấp nhận điều kiện Chủ thể chấp nhận điều kiện có thể đồng thời là chủ thể thực hiện điều kiện hoặc không Bởi vì:

Thứ nhất, nếu điều kiện là những sự biến về thiên nhiên (thiên tai, chiến tranh, dịch bệnh, sinh tử) thì không có chủ thể thực hiện điều kiện, nếu điều kiện là hành vi của con người thì mới có chủ thể thực hiện điều kiện

19 Phạm Văn Tuyết (2011), “Những vướng mắc của Bộ luật Dân sự về giao dịch, hợp đồng và nghĩa vụ có điều kiện”, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật, (10), tr 20

Thứ hai, trường hợp có chủ thể thực hiện điều kiện, nếu:

Trường hợp 1: Thỏa thuận nêu rõ chủ thể thực hiện điều kiện phải do chính bên chủ thể chấp nhận điều kiện thực hiện và không cho phép chuyển giao thì chủ thể chấp nhận điều kiện chính là chủ thể thực hiện điều kiện Ví dụ: Trong hợp đồng hợp tác kinh doanh khách sạn, A thỏa thuận hợp tác với B, điều kiện là B phải học xong chương trình cử nhân quản trị kinh doanh tại trường Đại học X Ngược lại, thỏa thuận nêu rõ chủ thể thực hiện điều kiện do chính chủ thể đưa ra điều kiện thực hiện hoặc điều kiện phải do bên thứ ba thực hiện thì chủ thể chấp nhận điều kiện không đồng thời là chủ thể thực hiện điều kiện Trong hợp đồng tặng cho có điều kiện, theo một tác giả, “đây là giả thiết khá hãn hữu trên thực tế vì giữa bên tặng cho và người thứ ba không có bất cứ sự ràng buộc nào Tuy vậy, trong một số trường hợp người thứ ba vẫn chấp nhận thực hiện điều kiện tặng cho vì họ mong muốn người được tặng cho nhận được tài sản” 20 Ví dụ: T thỏa thuận tặng nhà cho H với điều kiện L (mẹ của H) phải chăm sóc, phụng dưỡng T cho đến khi T qua đời Ở đây, thỏa thuận tặng cho được tiến hành giữa T và H, người thực hiện điều kiện là L không phải là chủ thể của hợp đồng

Trường hợp 2: Thỏa thuận chỉ nêu kết quả của điều kiện mà không yêu cầu về người thực hiện thì chủ thể thực hiện điều kiện có thể trực tiếp thực hiện điều kiện hoặc chuyển giao cho người khác thực hiện Theo đó, đối với những điều kiện liên quan đến nhân thân của bên chấp nhận điều kiện và không thể chuyển giao cho chủ thể khác thực hiện thì bên chấp nhận điều kiện phải tự mình thực hiện điều kiện Đối với những điều kiện có thể chuyển giao cho chủ thể khác thực hiện thì bên chấp nhận điều kiện có thể nhờ, thuê hay ủy quyền cho chủ thể khác thực hiện Ví dụ: Trong hợp đồng tặng cho tài sản, B sẽ chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho A với điều kiện A phải chăm sóc B nhưng do A thường xuyên đi công tác xa nên B đồng ý để A thuê C đến chăm sóc B

Như vậy, chủ thể của hợp đồng có điều kiện phải tuân theo các quy định về chủ thể tham gia quan hệ hợp đồng nói chung Việc xác định chủ thể thực hiện điều kiện nhằm thông qua đó xác định điều kiện đã được thực hiện/xảy ra hay chưa Theo đó, muốn xác định được, các bên chủ thể cần căn cứ vào sự thỏa thuận giữa các bên cũng như xem xét đến tính chất của điều kiện Để có thể hiểu về điều kiện trong hợp

20 Lê Thị Giang (2020), Hợp đồng tặng cho tài sản theo pháp luật Việt Nam - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn, Nxb Tư pháp, Hà Nội, tr 176 đồng có điều kiện, tác giả sẽ phân tích rõ hơn về khái niệm điều kiện, các yêu cầu pháp lý, hình thức của điều kiện và phân loại điều kiện trong hợp đồng có điều kiện.

Điều kiện trong hợp đồng có điều kiện

Hợp đồng có điều kiện là một trong những loại hợp đồng chủ yếu Do đó, hợp đồng có điều kiện có những đặc điểm chung của một hợp đồng thông thường và có những đặc thù gắn với điều kiện cụ thể Các yêu cầu về chủ thể, mục đích và nội dung, hình thức của hợp đồng có điều kiện cũng phải tuân theo các quy định về hợp đồng nói chung Trong phạm vi của khóa luận, tác giả sẽ tập trung vào nội dung đặc thù của loại hợp đồng này, đó là điều kiện trong hợp đồng có điều kiện

1.3.1 Khái niệm điều kiện trong hợp đồng có điều kiện Ở khía cạnh ngôn ngữ học, thuật ngữ “điều kiện” là: “Điều cần thiết phải có để đạt một mục đích, cơ sở của một sự thỏa thuận” 21 ; “Cái cần phải có để cho một cái khác có thể có hoặc có thể xảy ra” hay “Điều nêu ra như một đòi hỏi trước khi thực hiện một việc nào đó” 22 Ở khía cạnh pháp lý, thuật ngữ “điều kiện” chưa được pháp luật dân sự định nghĩa Có quan điểm cho rằng: “Điều kiện là những giả thiết phải có trong tương lai thì thỏa thuận của các bên mới có hiệu lực” 23

Trong pháp luật Anh Mỹ có quy định về khái niệm “điều kiện” trong hợp đồng có điều kiện: “Điều kiện là sự kiện mà quyền và nghĩa vụ của các bên phụ thuộc vào đó Sự kiện có thể là hành vi của một trong hai bên ký kết, hành vi của bên thứ ba hoặc bất kỳ sự kiện nào đó trong thế giới thực của chúng ta” 24 Tuy nhiên, BLDS năm

2015 không có quy định cụ thể về “điều kiện” trong loại hợp đồng này, cho nên có nhiều quan điểm Vậy, nên hiểu như thế nào về “điều kiện” trong hợp đồng có điều kiện?

Dựa trên cơ sở Điều 125 BLDS năm 2005 (tương ứng với Điều 120 BLDS năm 2015), có quan điểm cho rằng: “Những sự kiện mà các bên tham gia giao dịch dân sự thoả thuận làm điều kiện để xác lập giao dịch hoặc huỷ bỏ giao dịch được hiểu là những hiện tượng, sự vật, sự việc phát sinh trong đời sống xã hội thì khi sự kiện

21 Nguyễn Lân (2004), Từ điển và từ ngữ Việt Nam, Nxb TP.HCM, TP Hồ Chí Minh, tr 629

22 Hoàng Phê (2014), Từ điển tiếng Việt (tái bản lần thứ 6), Nxb Đà Nẵng, Đà Nẵng, tr 428

23 Nguyễn Văn Cừ, Trần Thị Huệ (Đồng chủ biên) (2017), Bình luận khoa học Bộ luật dân sự năm

2015 của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội, tr 475

24 Corbin, Arthur L., “Conditions in the Law of Contract”, Yale Law Journal, Vol 28, p 743, https://heinonline.org/HOL/Page?public=true&handle=hein.journals/ylr28&dive&start_pages9&collection=journals&set_as_cursor=0&men_tab=srchresults, truy cập ngày 06/5/2021 đó xảy ra là điều kiện để xác lập hoặc chấm dứt giao dịch dân sự” 25 Cùng với quan điểm đó, một tác giả đã đưa ra ví dụ: “một người có con trai là H - 18 tuổi, chuẩn bị vào đại học Ông ký hợp đồng với cửa hàng bán xe máy mua chiếc xe hiệu Honda - Dream với điều kiện: Khi con ông thi lấy được giấy phép lái xe thì ông sẽ mua cho con mình chiếc xe đó Như vậy, hợp đồng mua chiếc xe chỉ có hiệu lực khi cậu con trai là H được cấp giấy phép lái xe” 26 Theo khoản 6 Điều 402 BLDS năm 2015 thì

“điều kiện” trong hợp đồng có điều kiện là “một sự kiện nhất định” mà hậu quả pháp lý là làm cho hợp đồng được thực hiện Có quan điểm: ““điều kiện” trong “hợp đồng có điều kiện” là những sự kiện được các bên thỏa thuận khi xác lập hợp đồng, và có thể xảy ra hoặc không xảy ra trong thực tế sau khi hợp đồng được xác lập mà hậu quả của nó là hợp đồng phát sinh, thay đổi hoặc hủy bỏ” 27

Hợp đồng nói chung là một giao dịch dân sự và nói riêng là một trong các căn cứ làm phát sinh nghĩa vụ Tại khoản 1 Điều 284 BLDS năm 2015: “Trường hợp các bên có thỏa thuận hoặc pháp luật có quy định về điều kiện thực hiện nghĩa vụ thì khi điều kiện phát sinh, bên có nghĩa vụ phải thực hiện” BLDS Pháp sửa đổi năm 2016 có quy định tại Điều 1304: “Nghĩa vụ có điều kiện khi nó phụ thuộc vào một sự kiện không chắc chắn và xảy ra trong tương lai” 28 Có thể thấy, nghĩa vụ có điều kiện là nghĩa vụ mà bên có nghĩa vụ phải thực hiện khi sự kiện các bên thỏa thuận, xác định là điều kiện đã xảy ra Do đó, cần phân biệt nghĩa vụ có điều kiện với nghĩa vụ trong hợp đồng Ví dụ: Hợp đồng mua bán với thỏa thuận người mua phải trả tiền thì đây không phải là hợp đồng mua bán có điều kiện mà là hợp đồng mua bán bình thường vì việc trả tiền là nghĩa vụ cơ bản của người mua

“Điều kiện” là vấn đề pháp lý cơ bản của hợp đồng có điều kiện nhưng BLDS năm 2015 không có quy định cụ thể về “điều kiện” mà có quy định về điều kiện có hiệu lực của hợp đồng, hai khái niệm này là khác nhau:

Thứ nhất, xét về mặt ý chí Điều kiện có hiệu lực của hợp đồng là những yêu cầu luật định mà các bên phải tuân thủ khi xác lập hợp đồng để hợp đồng được phát sinh hiệu lực, tức là khi

25 Nguyễn Văn Cừ, Trần Thị Huệ (Đồng chủ biên) (2017), tlđd (23), tr 238

26 Hoàng Thế Liên (2009), tlđd (7), tr 239

27 Trích theo: Lê Thị Diễm Phương, tlđd (13), truy cập ngày 06/5/2021

28 Article 1304 French Civil Code (as amended and added up to February 10, 2016), https://www.legifrance.gouv.fr/codes/id/LEGITEXT000006070721/#/, truy cập ngày 06/5/2021 giao kết hợp đồng các bên tuân thủ các thủ tục và điều kiện luật định thì hợp đồng đó mới có giá trị pháp lý ràng buộc quyền và nghĩa vụ của các bên

“Điều kiện” trong hợp đồng có điều kiện là những sự kiện do các bên trong hợp đồng tự do thỏa thuận, lựa chọn để hợp đồng hoặc phát sinh hoặc thay đổi hoặc chấm dứt, tức là điều kiện được đặt ra hoàn toàn phụ thuộc vào ý chí của các bên

Thứ hai, xét về hiệu lực của hợp đồng Đối với điều kiện có hiệu lực của hợp đồng thì hợp đồng được xác lập, thực hiện phụ thuộc vào những điều kiện luật định Theo Điều 117 BLDS năm 2015, hợp đồng có hiệu lực khi thỏa mãn các điều kiện về năng lực chủ thể, tính tự nguyện, nội dung và mục đích, hình thức của hợp đồng Nếu không đáp ứng được một trong các điều kiện đó thì về nguyên tắc, hợp đồng có thể bị vô hiệu, tức là quyền và nghĩa vụ của các bên không phát sinh kể từ thời điểm hợp đồng được xác lập

Trong hợp đồng có điều kiện, hợp đồng được thực hiện hoặc không được thực hiện phụ thuộc vào điều kiện làm phát sinh, điều kiện làm thay đổi hay điều kiện làm chấm dứt hợp đồng Mặc dù cũng có thể đưa tới hệ quả phát sinh hiệu lực pháp luật nhưng hiệu lực ở đây bên cạnh việc phụ thuộc vào điều kiện có hiệu lực của hợp đồng thì còn phụ thuộc vào điều kiện mà các bên thỏa thuận BLDS không liệt kê cụ thể sự kiện nào là “điều kiện” mà sự kiện ở đây do các bên thỏa thuận “nhưng không chắc chắn xảy ra trong tương lai” 29 , nếu điều kiện không xảy ra thì không dẫn đến các hệ quả là hợp đồng phát sinh hoặc thay đổi hoặc chấm dứt

BLDS cũng đề cập đến “điều kiện” trong hợp đồng tặng cho tài sản có điều kiện “Điều kiện tặng cho được hiểu là một hoặc nhiều nghĩa vụ mà bên được tặng cho phải thực hiện trước hoặc sau khi nhận được tài sản tặng cho” 30 Theo đó, “điều kiện” trong hợp đồng tặng cho tài sản có điều kiện là dự liệu về một hay một vài nghĩa vụ do các bên tự thỏa thuận trong hợp đồng mà bên được tặng cho phải thực hiện để được nhận tài sản tặng cho

Hiệu lực của hợp đồng có điều kiện

Theo quy định của BLDS năm 2015, hợp đồng có hiệu lực khi đáp ứng các điều kiện sau:

Thứ nhất, chủ thể giao kết hợp đồng có năng lực pháp luật dân sự, năng lực hành vi dân sự phù hợp;

Thứ hai, chủ thể tham gia giao kết hợp đồng hoàn toàn tự nguyện;

Thứ ba, mục đích và nội dung của hợp đồng không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội;

Thứ tư, trường hợp pháp luật có quy định về hình thức của hợp đồng thì hình thức của hợp đồng phải tuân theo các quy định đó

1.4.1 Xác định hiệu lực của hợp đồng có điều kiện

Hợp đồng có điều kiện là hợp đồng đã đáp ứng đầy đủ các đòi hỏi của luật đối với một hợp đồng có giá trị pháp lý, điều kiện được đặt ra là những điều kiện để hợp đồng đó có hiệu lực (được thực hiện) hoặc không phát sinh hiệu lực (hủy bỏ/chấm dứt) Do đó, “Để xác định hiệu lực của hợp đồng, vừa phải căn cứ vào bốn điều kiện có hiệu lực của hợp đồng, vừa phải căn cứ vào tính hợp pháp của sự kiện là điều kiện

64 Đỗ Văn Đại (2017), Luật hợp đồng Việt Nam - Bản án và bình luận bản án (Tập 2) (Xuất bản lần thứ 6, có sửa đổi, bổ sung), Nxb Hồng Đức - Hội luật gia Việt Nam, tr 417

65 Đỗ Văn Đại (2017), tlđd (64), tr 412-415 của hợp đồng, vừa phải căn cứ vào tính thực tế của sự kiện là điều kiện của hợp đồng” 66

BLDS năm 2015 không có quy định cụ thể về tính hợp pháp và tính thực tế của sự kiện là điều kiện của hợp đồng Theo nội dung đã được tác giả trình bày về các yêu cầu pháp lý đối với điều kiện trong hợp đồng có điều kiện thì tính hợp pháp và thực tế của điều kiện có thể căn cứ vào yêu cầu thứ nhất và thứ ba Theo đó, sự kiện là điều kiện có nội dung vi phạm điều cấm của luật hoặc trái đạo đức xã hội hoặc không có khả năng thực hiện/xảy ra sẽ không đáp ứng được tính hợp pháp và tính thực tế Do đó, trong mọi trường hợp, cho dù hợp đồng có thỏa mãn đầy đủ bốn điều kiện có hiệu lực theo quy định của luật hay không thì hợp đồng cũng bị vô hiệu ngay từ thời điểm giao kết nếu điều kiện không đáp ứng tính hợp pháp và tính thực tế

Trường hợp điều kiện các bên thỏa thuận là hợp pháp thì phải căn cứ vào bốn điều kiện có hiệu lực của hợp đồng để xác định hợp đồng có hiệu lực hay vô hiệu Nếu hợp đồng vi phạm điều kiện có hiệu lực do luật quy định thì vẫn còn quan điểm khác nhau Có quan điểm, hợp đồng vi phạm điều kiện có hiệu lực do luật quy định thì không đương nhiên bị vô hiệu trong mọi trường hợp:

Trường hợp 1: Nếu hợp đồng vi phạm điều kiện về chủ thể (điều kiện thứ nhất và/hoặc điều kiện thứ hai) thì hợp đồng đó vô hiệu

Trường hợp 2: Nếu hợp đồng vi phạm điều kiện về nội dung và/hoặc hình thức (điều kiện thứ ba và/hoặc điều kiện thứ tư) nhưng sự kiện là điều kiện của hợp đồng do các bên thỏa thuận nhằm khắc phục việc vi phạm hai điều kiện trên thì hợp đồng vẫn có hiệu lực, ngược lại, sự kiện là điều kiện không nhằm khắc phục việc vi phạm đó thì hợp đồng vô hiệu Ví dụ: A ký hợp đồng bán nhà cho B, B đã thanh toán tiền cho A, và các bên đưa ra điều kiện, ngay sau khi A hoàn tất thủ tục mua bán hóa giá và được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng nhà thì A và B tiến hành làm thủ tục mua bán nhà Theo đó, tại thời điểm giao kết hợp đồng, các bên có vi phạm điều kiện về nội dung vi phạm điều cấm và hình thức hợp đồng (do bên bán chưa là chủ sở hữu nhà và hợp đồng chưa được công chứng, chứng thực) nhưng do điều kiện nhằm khắc phục vi phạm nên khi điều kiện xảy ra, hợp đồng mua bán nhà đó phát sinh hiệu lực mà không bị vô hiệu 67 Tuy nhiên, theo tác giả, điều kiện các bên thỏa thuận là nhằm

66 Lê Minh Hùng (Chủ biên) (2019), Sách tình huống Pháp luật hợp đồng và bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, Nxb Hồng Đức - Hội Luật gia Việt Nam, tr 235

67 Nguyễn Như Bích (2011), “Bàn về hiệu lực của hợp đồng có điều kiện”, Tạp chí Tòa án nhân dân,

(19), tr 14-15 khắc phục vi phạm nhưng điều kiện đó xảy ra chưa chắc chắn có thể khắc phục được hết vi phạm, hợp đồng vẫn còn vi phạm về điều kiện hình thức 68

Trường hợp 2 tương tự với nội dung Án lệ số 39/2020/AL về “Việc xác định giao dịch dân sự có điều kiện vô hiệu do điều kiện không thể xảy ra” 69 Án lệ ghi nhận: Bà C1 đã giao vàng cho cụ C, hai bên xác lập giao dịch mua bán nhà khi cụ C chưa được mua hóa giá nhà và hai bên thỏa thuận khi nào Nhà nước hóa giá nhà thì cụ C sẽ chuyển quyền sở hữu căn nhà cho bà C1 Trường hợp này, phải xác định hợp đồng chuyển nhượng quyền sở hữu nhà là giao dịch dân sự có điều kiện Đồng thời, trong nội dung án lệ ghi nhận, khi nào cụ C được Nhà nước bán hóa giá nhà thì giao dịch phát sinh hiệu lực

Một quan điểm khác, trường hợp này tồn tại hai hợp đồng là hợp đồng có điều kiện và hợp đồng kèm theo Từ thời điểm các bên thỏa thuận về điều kiện thì hợp đồng có điều kiện đã tồn tại, nếu hợp đồng có điều kiện đã thỏa mãn các điều kiện có hiệu lực thì hợp đồng này có hiệu lực Điều kiện xảy ra sẽ phát sinh nghĩa vụ mua bán Lúc này hợp đồng kèm theo (hợp đồng mua bán) mới tồn tại và hợp đồng này sẽ chưa có hiệu lực nếu chưa thỏa mãn điều kiện có hiệu lực theo quy định 70

Tác giả đồng ý với quan điểm trên, vì thực chất sự thỏa thuận của A và B là hợp đồng hứa mua bán có điều kiện (hoặc hợp đồng đặt cọc có điều kiện) Hợp đồng này là hứa mua bán nên sẽ không vi phạm điều kiện có hiệu lực, do đó, hợp đồng có hiệu lực ngay tại thời điểm giao kết Khi điều kiện xảy ra, tức là A hoàn tất thủ tục mua bán hóa giá và được cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà thì A phải thực hiện hợp đồng hứa mua bán với B, đó là ký hợp đồng mua bán nhà, nếu không là A đã vi phạm hợp đồng hứa mua bán, khi đó hợp đồng mua bán nhà không phải là hợp đồng có điều kiện

Tóm lại, để xác định hiệu lực của hợp đồng có điều kiện, ngoài việc phải căn cứ vào các điều kiện có hiệu lực của hợp đồng, còn phải căn cứ vào tính hợp pháp của sự kiện là điều kiện của hợp đồng Song, khi xác định hợp đồng là có hiệu lực thì

68 Khoản 1 Điều 122 Luật Nhà ở 2014, khoản 2 Điều 17 Luật Kinh doanh bất động sản 2014, Điểm a, b khoản 3 Điều 167 Luật Đất đai 2013

70 Lê Thị Diễm Phương, “Thời hiệu khởi kiện áp dụng đối với loại hợp đồng có điều kiện theo quy định tại Điều 429 BLDS 2015”, Tạp chí Tòa án Nhân dân điện tử, https://tapchitoaan.vn/bai-viet/phap-luat/thoi-hieu-khoi-kien-ap-dung-doi-voi-loai-hop-dong-co- dieu-kien-theo-quy-dinh-tai-dieu-429-blds-2015, truy cập ngày 17/5/2021. thời điểm có hiệu lực của hợp đồng là khi nào? Điều này sẽ được tác giả làm rõ ở nội dung tiếp theo

1.4.2 Thời điểm có hiệu lực của hợp đồng có điều kiện

Việc xác định thời điểm có hiệu lực của hợp đồng rất quan trọng vì kể từ thời điểm hợp đồng có hiệu lực, các bên sẽ phải thực hiện quyền và nghĩa vụ đối với nhau theo cam kết Theo khoản 1 Điều 401 BLDS năm 2015 thì hợp đồng được giao kết hợp pháp sẽ phát sinh hiệu lực và thời điểm có hiệu lực được xác định vào một trong ba thời điểm:

Thứ nhất, thời điểm giao kết hợp đồng

Khi các bên không có thỏa thuận và luật liên quan không có quy định khác, thì hợp đồng có hiệu lực vào thời điểm giao kết hợp đồng, thời điểm này thường là thời điểm các bên thỏa thuận xong nội dung của hợp đồng, tức là thời điểm bên đề nghị nhận được trả lời chấp nhận giao kết hợp đồng Thời điểm giao kết hợp đồng khác nhau tùy thuộc vào thể thức bày tỏ ý chí ra bên ngoài, cụ thể:

Nếu hợp đồng được thỏa thuận bằng lời nói thì thời điểm giao kết hợp đồng là thời điểm bên đề nghị nhận được trả lời chấp nhận của bên đề nghị;

Nếu hợp đồng được giao kết bằng văn bản thì thời điểm giao kết là thời điểm bên sau cùng ký vào văn bản;

Nếu hợp đồng giao kết bằng thư tín, qua bưu điện thì hợp đồng được giao kết vào ngày bên đề nghị nhận được thư trả lời chấp nhận;

Nếu các bên có thỏa thuận hoặc pháp luật có quy định im lặng là đồng ý giao kết hợp đồng, thì hợp đồng được xem là đã giao kết tại thời điểm hết thời hạn trả lời mà bên được để nghị vẫn im lặng

Thứ hai, thời điểm luật liên quan có quy định khác

Thực hiện và chấm dứt hợp đồng có điều kiện

1.5.1 Thực hiện hợp đồng có điều kiện

Thực hiện hợp đồng là việc bên có nghĩa vụ phải làm hoặc không được làm một công việc nhất định theo đúng nội dung của hợp đồng Hợp đồng có điều kiện phải tuân theo nguyên tắc thực hiện hợp đồng, các quy định về thực hiện và xử lý việc không thực hiện đúng hợp đồng như hợp đồng thông thường Trong phạm vi khóa luận, tác giả sẽ trình bày về trường hợp các bên phải thực hiện theo đúng nội dung hợp đồng

Thứ nhất, về hợp đồng có điều kiện phát sinh

Theo một tác giả, khi điều kiện làm phát sinh hợp đồng chưa xảy ra thì “tuy hợp đồng có thể đã được coi là giao kết nhưng vẫn chưa phát sinh và do đó, các bên không phải thực hiện nghĩa vụ từ hợp đồng đó nếu như sự kiện mà các bên đã thỏa thuận không xảy ra” 77 Tức là, lúc này hợp đồng các bên đã được giao kết nhưng chưa phát sinh hiệu lực nên các bên không bị ràng buộc theo nội dung hợp đồng mà các bên hướng tới Ngược lại, khi điều kiện xảy ra thì hợp đồng có điều kiện sẽ phát sinh hiệu lực và các bên sẽ phải thực hiện hợp đồng

Ví dụ 1: A và B giao kết hợp đồng mua bán vật liệu xây dựng, các bên thỏa thuận hợp đồng này phát sinh nếu kiến trúc sư là C kiểm tra các vật liệu đó phù hợp với thiết kế của công trình Ở đây, khi điều kiện “C kiểm tra các vật liệu đó phù hợp với thiết kế của công trình” chưa xảy ra, tức là chưa có sự kiểm tra của C hoặc là kiểm tra nhưng không phù hợp thì hợp đồng mua bán chưa phát sinh hiệu lực nên các bên không phải thực hiện hợp đồng Ngược lại, khi C đã khẳng định các vật liệu phù hợp với thiết kế thì hợp đồng phát sinh hiệu lực và các bên sẽ phải thực hiện hợp đồng là A giao hàng hóa cho B và B trả tiền cho A

Thứ hai, về hợp đồng có điều kiện thay đổi

Hợp đồng có điều kiện thay đổi là hợp đồng đã được giao kết và phát sinh hiệu lực, các bên có thể chưa thực hiện hoặc đang thực hiện hợp đồng Bởi vì hợp đồng đã

77 Phạm Văn Tuyết (2011), tlđd (19), tr 19 có hiệu lực pháp luật nên các bên phải thực hiện quyền và nghĩa vụ đối với nhau theo cam kết Tuy nhiên, khi điều kiện chưa/không xảy ra thì các bên thực hiện hợp đồng theo những nội dung ban đầu như một hợp đồng thông thường mà không căn cứ vào điều kiện Ngược lại, khi điều kiện đã xảy ra thì các bên phải thực hiện theo đúng nội dung hợp đồng mà các bên gắn với điều kiện

Ví dụ 2: C cho D vay 100 triệu đồng, trong hợp đồng vay hai bên có thỏa thuận rằng C sẽ không tính lãi vay, D phải trả cho C số tiền là 25 triệu đồng/quý nhưng nếu dịch Covid-19 không chấm dứt trước ngày 31/12/2021 thì bắt đầu từ năm 2022, D chỉ phải trả 20 triệu đồng/quý Ở đây, hợp đồng vay đã được giao kết và có hiệu lực, khi điều kiện chưa xảy ra thì D phải thực hiện hợp đồng là trả tiền cho C 25 triệu đồng/quý Nhưng khi sự kiện “dịch Covid-19 không chấm dứt trước ngày 31/12/2021” đã xảy ra, tức là đến ngày 31/12/2021 dịch Covid-19 vẫn còn thì sang năm 2022, hợp đồng của các bên thay đổi, D chỉ phải trả 20 triệu đồng/quý

Thứ ba, về hợp đồng có điều kiện chấm dứt

Tương tự hợp đồng có điều kiện thay đổi, hợp đồng có điều kiện chấm dứt là hợp đồng đã được giao kết và phát sinh hiệu lực Theo một tác giả: “trong những trường hợp này, hợp đồng phát sinh hiệu lực một cách bình thường và các bên thực hiện nghĩa vụ phát sinh từ hợp đồng đó theo thời hạn đã được xác định Tuy nhiên, dù hợp đồng chưa hết hạn, nhưng nếu sự kiện đó xảy ra, thì hợp đồng đó vẫn chấm dứt kể từ thời điểm xảy ra sự kiện được xác định” 78 Do đó, khi điều kiện chấm dứt chưa/không xảy ra thì các bên vẫn phải thực hiện quyền và nghĩa vụ đối với nhau theo cam kết, tức là, việc đưa ra điều kiện làm chấm dứt hợp đồng không ảnh hưởng đến nội dung thực hiện hợp đồng của các bên Ngược lại, khi điều kiện chấm dứt xảy ra thì các bên không phải thực hiện hợp đồng nữa

Ví dụ 3: X cho Y thuê một thửa đất để trồng cây theo mùa vụ, giá thuê là 30 triệu/năm, trong hợp đồng thuê có ghi, hợp đồng này sẽ chấm dứt khi có người đặt cọc cho X để nhận chuyển nhượng quyền sử dụng thửa đất đó Ở đây, khi điều kiện chưa/không xảy ra, tức là chưa/không có người đặt cọc cho thửa đất thì Y vẫn được quyền sử dụng thửa đất đó để canh tác

1.5.2 Chấm dứt hợp đồng có điều kiện

Tùy từng căn cứ chấm dứt mà hợp đồng có điều kiện sẽ có hệ quả pháp lý khác nhau Ở đây, tác giả trình bày trường hợp hợp đồng có điều kiện chấm dứt

78 Phạm Văn Tuyết (2011), tlđd (19), tr 20

Thứ nhất, về hợp đồng có điều kiện phát sinh

Khi điều kiện chưa xảy ra, hợp đồng chưa phát sinh hiệu lực thì các bên cũng có thể thỏa thuận hủy bỏ hợp đồng mà các bên hướng tới Theo một tác giả: “Trên cơ sở tự do cam kết, thỏa thuận thì chúng ta cần chấp nhận các bên thỏa thuận hủy bỏ (chấm dứt) “dự án” của các bên” 79 Trong ví dụ 1, nếu C chưa kiểm tra hàng hóa nhưng các bên có bất kì lý do nào đó không muốn tiếp tục việc mua bán hàng hóa với nhau thì các bên có thể thỏa thuận chấm dứt hợp đồng đó mà không phải chịu trách nhiệm gì với nhau (vì hợp đồng chưa có hiệu lực) Nếu sau khi kiểm tra, C khẳng định các vật liệu không phù hợp với thiết kế của công trình thì hợp đồng mua bán đó vô hiệu

Khi điều kiện xảy ra và hợp đồng đã có hiệu lực, hợp đồng chưa được thực hiện hoặc đang được thực hiện nhưng có một trong các căn cứ chấm dứt hợp đồng Điều 422 BLDS năm 2015 thì hợp đồng có điều kiện sẽ chấm dứt

Thứ hai, về hợp đồng có điều kiện thay đổi

Khi điều kiện xảy ra thì một hoặc một vài nội dung hợp đồng thay đổi Theo đó, các bên sẽ phải thực hiện những nội dung mới thay đổi nên những nội dung trước đó sẽ chấm dứt chứ hợp đồng giữa các bên chưa chấm dứt

Hợp đồng có điều kiện thay đổi chỉ chấm dứt khi có một trong các căn cứ chấm dứt hợp đồng tại Điều 422 BLDS năm 2015 cho dù điều kiện chưa xảy ra hay đã xảy ra Trong ví dụ 2, khi điều kiện làm thay đổi hợp đồng xảy ra, tức là đến ngày 31/12/2021 mà dịch Covid-19 vẫn còn thì thỏa thuận “D phải trả cho C số tiền là 25 triệu đồng/quý” sẽ chấm dứt, các bên không phải thực hiện thỏa thuận đó nữa Khi đó, hợp đồng có điều kiện chưa chấm dứt, các bên tiếp tục thực hiện hợp đồng theo nội dung đã thay đổi Khi nào có căn cứ chấm dứt hợp đồng thì hợp đồng có điều kiện mới bị chấm dứt

Thứ ba, về hợp đồng có điều kiện chấm dứt

Theo quy định của BLDS năm 2015 thì hợp đồng sẽ chấm dứt khi có một trong các căn cứ được liệt kê tại Điều 422, trong đó, tại khoản 7 là một quy định mở Theo đó, hợp đồng có điều kiện chấm dứt sẽ thuộc “trường hợp khác do luật quy định” Cụ thể, hợp đồng có điều kiện chấm dứt thì hợp đồng sẽ chấm dứt khi điều kiện đó xảy ra, tức là, cho dù hợp đồng chưa đến hạn chấm dứt theo các căn cứ được liệt kê cụ thể tại Điều 422 nhưng khi điều kiện chấm dứt hợp đồng xảy ra thì hợp đồng không

79 Đỗ Văn Đại (2017), tlđd (39), tr 238 có giá trị nữa và các bên không phải thực hiện hợp đồng nữa Trong ví dụ 3, khi có người đặt cọc để mua thửa đất đó thì hợp đồng thuê của X và Y sẽ chấm dứt, Y phải trả lại thửa đất cho X

THỰC TIỄN ÁP DỤNG VÀ MỘT SỐ KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ HỢP ĐỒNG CÓ ĐIỀU KIỆN

Ngày đăng: 08/03/2023, 11:27

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
9. Nguyễn Như Bích (2011), “Bàn về hiệu lực của hợp đồng có điều kiện”, Tạp chí Tòa án nhân dân, (19), tr. 12-20 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bàn về hiệu lực của hợp đồng có điều kiện”, "Tạp chí Tòa án nhân dân
Tác giả: Nguyễn Như Bích
Năm: 2011
11. Nguyễn Văn Cừ, Trần Thị Huệ (Đồng chủ biên) (2017), Bình luận khoa học Bộ luật dân sự năm 2015 của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Nxb. Công an nhân dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bình luận khoa học Bộ luật dân sự năm 2015 của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Văn Cừ, Trần Thị Huệ (Đồng chủ biên)
Nhà XB: Nxb. Công an nhân dân
Năm: 2017
12. Đỗ Văn Đại (2017), Luật hợp đồng Việt Nam - Bản án và bình luận bản án (Tập 1) (Xuất bản lần thứ 6, có sửa đổi, bổ sung), Nxb. Hồng Đức - Hội luật gia Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật hợp đồng Việt Nam - Bản án và bình luận bản án (Tập 1) (Xuất bản lần thứ 6, có sửa đổi, bổ sung)
Tác giả: Đỗ Văn Đại
Nhà XB: Nxb. Hồng Đức - Hội luật gia Việt Nam
Năm: 2017
13. Đỗ Văn Đại (2017), Luật hợp đồng Việt Nam - Bản án và bình luận bản án (Tập 2) (Xuất bản lần thứ 6, có sửa đổi, bổ sung), Nxb. Hồng Đức - Hội luật gia Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật hợp đồng Việt Nam - Bản án và bình luận bản án (Tập 2) (Xuất bản lần thứ 6, có sửa đổi, bổ sung)
Tác giả: Đỗ Văn Đại
Nhà XB: Nxb. Hồng Đức - Hội luật gia Việt Nam
Năm: 2017
14. Nguyễn Ngọc Điện (2016), Giáo trình luật dân sự (Tập 1), Nxb. Đại học Quốc gia TP. HCM, TP. HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình luật dân sự (Tập 1)
Tác giả: Nguyễn Ngọc Điện
Nhà XB: Nxb. Đại học Quốc gia TP. HCM
Năm: 2016
15. Lê Thị Giang (2020), Hợp đồng tặng cho tài sản theo pháp luật Việt Nam - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn, Nxb. Tư pháp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hợp đồng tặng cho tài sản theo pháp luật Việt Nam - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn
Tác giả: Lê Thị Giang
Nhà XB: Nxb. Tư pháp
Năm: 2020
16. Lê Minh Hùng (2010), Hiệu lực của hợp đồng theo quy định của pháp luật Việt Nam, Luận án tiến sĩ, Trường Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hiệu lực của hợp đồng theo quy định của pháp luật Việt Nam
Tác giả: Lê Minh Hùng
Năm: 2010
17. Lê Minh Hùng (Chủ biên) (2019), Sách tình huống Pháp luật hợp đồng và bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, Nxb. Hồng Đức - Hội Luật gia Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sách tình huống Pháp luật hợp đồng và bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng
Tác giả: Lê Minh Hùng (Chủ biên)
Nhà XB: Nxb. Hồng Đức - Hội Luật gia Việt Nam
Năm: 2019
18. Phạm Công Lạc (1998), “Về “điều kiện” trong hợp đồng có điều kiện”, Tạp chí Luật học, (02), tr. 29-32 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về “điều kiện” trong hợp đồng có điều kiện”, "Tạp chí Luật học
Tác giả: Phạm Công Lạc
Năm: 1998
19. Nguyễn Lân (2004), Từ điển và từ ngữ Việt Nam, Nxb. TP.HCM, TP. Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển và từ ngữ Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Lân
Nhà XB: Nxb. TP.HCM
Năm: 2004
20. Hoàng Thế Liên (2009), Bình luận Khoa học Bộ luật dân sự năm 2005 (Tập 2), Nxb. Chính trị quốc gia - sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bình luận Khoa học Bộ luật dân sự năm 2005 (Tập 2)
Tác giả: Hoàng Thế Liên
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia - sự thật
Năm: 2009
21. Hoàng Thế Liên (2009), Bình luận Khoa học Bộ luật dân sự năm 2005 (Tập 1), Nxb. Chính trị quốc gia - sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bình luận Khoa học Bộ luật dân sự năm 2005 (Tập 1)
Tác giả: Hoàng Thế Liên
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia - sự thật
Năm: 2009
22. Tưởng Duy Lượng (2020), Pháp luật dân sự và thực tiễn xét xử (tái bản lần thứ sáu), Nxb. Chính trị quốc gia sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Pháp luật dân sự và thực tiễn xét xử (tái bản lần thứ sáu)
Tác giả: Tưởng Duy Lượng
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia sự thật
Năm: 2020
23. Nhà pháp luật Việt - Pháp (2005), Bộ luật dân sự Pháp, Trương Quang Dũng dịch, Nxb. Tư pháp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bộ luật dân sự Pháp
Tác giả: Nhà pháp luật Việt - Pháp
Nhà XB: Nxb. Tư pháp
Năm: 2005
24. Hoàng Phê (2014), Từ điển tiếng Việt (tái bản lần thứ 6), Nxb. Đà Nẵng, Đà Nẵng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển tiếng Việt (tái bản lần thứ 6)
Tác giả: Hoàng Phê
Nhà XB: Nxb. Đà Nẵng
Năm: 2014
25. Dương Anh Sơn (2013), “Những yêu cầu cần phải được đặt ra khi xây dựng chế định hợp đồng trong Bộ luật Dân sự”, Tạp chí Khoa học pháp lý, (02), tr. 48-53 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những yêu cầu cần phải được đặt ra khi xây dựng chế định hợp đồng trong Bộ luật Dân sự”, "Tạp chí Khoa học pháp lý
Tác giả: Dương Anh Sơn
Năm: 2013
52. Civil code of Russian Federation (as amended up to December 8, 2011), https://www.wipo.int/edocs/lexdocs/laws/en/ru/ru083en.pdf, truy cập lần cuối ngày 10/5/2021 Link
54. French Civil Code (as amended and added up to February 10, 2016), https://www.legifrance.gouv.fr/codes/id/LEGITEXT000006070721/#/, truy cập lần cuối ngày 10/6/2021 Link
55. Japan Civil Code (1896), http://www.moj.go.jp/content/000056024.pdf, truy cập lần cuối ngày 05/6/2021 Link
56. Principles of European Contract Law - PECL, https://www.trans-lex.org/400200/_/pecl/, truy cập lần cuối ngày 05/6/2021 Link

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w