1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Khoá Luận Hợp Đồng Có Điều Kiện Theo Quy Định Của Pháp Luật Việt Nam.doc

111 5 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Hợp Đồng Có Điều Kiện Theo Quy Định Của Pháp Luật Việt Nam
Tác giả Huỳnh Lê Yến Vy
Người hướng dẫn ThS. Lê Thị Hồng Vân
Trường học Trường Đại Học Luật Thành Phố Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Luật Dân Sự
Thể loại Khóa Luận
Năm xuất bản 2021
Thành phố TP. Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 111
Dung lượng 1,75 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Pháp lệnh Hợp đồng dân sự năm 1991 không chỉ ra có những loại hợp đồng dân sự nào nhưng có sự thừa nhận về hợp đồng có điều kiện ở Điều 23: “Trong trường hợp các bên thoả thuận về một sự

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP HỒ CHÍ MINH

HUỲNH LÊ YẾN VY

HỢP ĐỒNG CÓ ĐIỀU KIỆN THEO QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VIỆT NAM

KHÓA LUẬN CHUYÊN NGÀNH LUẬT DÂN SỰ

TP HỒ CHÍ MINH – THÁNG 7 – NĂM 2021

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP HỒ CHÍ MINH

HUỲNH LÊ YẾN VY

HỢP ĐỒNG CÓ ĐIỀU KIỆN THEO QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VIỆT NAM

GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN: ThS LÊ THỊ HỒNG VÂN

TP HỒ CHÍ MINH – THÁNG 7 – NĂM 2021

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN Tác giả Khóa luận cam đoan: Khóa luận tốt nghiệp “Hợp đồng có điều kiện theo quy định của pháp luật Việt Nam” là kết quả nghiên cứu độc lập và nghiêm

túc của riêng tác giả, được thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của Thạc sĩ LêThị Hồng Vân - Giảng viên Khoa Luật Dân sự, trường Đại học Luật Thành phố HồChí Minh Nội dung Khóa luận có sự tham khảo các nguồn tài liệu khác nhau, đảmbảo tính trung thực và tuân thủ các quy định về trích dẫn, chú thích tài liệu thamkhảo Tác giả xin chịu hoàn toàn trách nhiệm về lời cam đoan này

Tác giả

Huỳnh Lê Yến Vy

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Trong bốn năm học tập và rèn luyện tại trường Đại học Luật Thành phố HồChí Minh, tác giả đã được truyền đạt những kiến thức pháp luật nền tảng cũng nhưchuyên sâu trong lĩnh vực chuyên ngành Với những kiến thức quý báu đó, khi đượcviết khóa luận tốt nghiệp, tác giả đã lựa chọn nghiên cứu đề tài “Hợp đồng có điềukiện theo quy định của pháp luật Việt Nam”

Để hoàn thành tốt khóa luận tốt nghiệp này, trước tiên, tác giả xin gửi lờicảm ơn sâu sắc đến cô Lê Thị Hồng Vân - Giảng viên Khoa Luật Dân sự đã tận tìnhhướng dẫn, chỉnh sửa, cung cấp kiến thức và động viên tác giả trong suốt quá trìnhthực hiện khóa luận tốt nghiệp

Tiếp đến, tác giả xin gửi lời tri ân đến quý thầy cô là giảng viên trường Đạihọc Luật Thành phố Hồ Chí Minh đã nhiệt tình giảng dạy cho tác giả trong suốt bốnnăm học, những kiến thức tác giả học được không chỉ giúp ích trong việc hoànthành khóa luận tốt nghiệp mà còn là hành trang cho tác giả trong con đường sựnghiệp sau này Tác giả cũng xin cảm ơn Trung tâm Thông tin - Thư viện củatrường đã giúp đỡ và tạo điều kiện cho tác giả được tiếp cận với các nguồn tài liệu

để phục vụ đề tài nghiên cứu

Và cuối cùng, tác giả xin tỏ lòng biết ơn đến gia đình, bạn bè và những ngườithân yêu là những người đã luôn quan tâm, tạo điều kiện, động viên và khích lệ tinhthần cho tác giả trong suốt quá trình học tập cũng như chặng đường cuối cùng củathời sinh viên này

Tác giả đã nỗ lực hết mình để có thể hoàn thành khóa luận một cách tốt nhấtnhưng với khả năng và kiến thức còn hạn chế nên khóa luận khó tránh khỏi nhữngthiếu sót nhất định, rất mong sự góp ý từ quý thầy cô để tác giả có thêm cơ hội đượchoàn thiện kiến thức

Kính chúc quý thầy cô đang công tác tại trường Đại học Luật Thành phố HồChí Minh thành công hơn nữa trong sự nghiệp và cuộc sống của mình, chúc tất cảmọi người luôn dồi dào sức khỏe và nhiều niềm vui trong cuộc sống

Huỳnh Lê Yến Vy

Trang 6

MỤC LỤC

PHẦN MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ HỢP ĐỒNG CÓ ĐIỀU KIỆN 6

1.1 Khái niệm hợp đồng có điều kiện 7

1.2 Chủ thể của hợp đồng có điều kiện 12

1.3 Điều kiện trong hợp đồng có điều kiện 14

1.3.1 Khái niệm điều kiện trong hợp đồng có điều kiện 14

1.3.2 Hình thức của điều kiện trong hợp đồng có điều kiện 17

1.3.3 Các yêu cầu pháp lý đối với điều kiện trong hợp đồng có điều kiện 19

1.3.4 Phân loại điều kiện trong hợp đồng có điều kiện 26

1.4 Hiệu lực của hợp đồng có điều kiện 30

1.4.1 Xác định hiệu lực của hợp đồng có điều kiện 30

1.4.2 Thời điểm có hiệu lực của hợp đồng có điều kiện 33

1.5 Thực hiện và chấm dứt hợp đồng có điều kiện 35

1.5.1 Thực hiện hợp đồng có điều kiện 35

1.5.2 Chấm dứt hợp đồng có điều kiện 36

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 39

CHƯƠNG 2 THỰC TIỄN ÁP DỤNG VÀ MỘT SỐ KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ HỢP ĐỒNG CÓ ĐIỀU KIỆN 40

2.1 Về trường hợp điều kiện không được ghi nhận trong hợp đồng 40

2.2 Về tính hợp pháp của điều kiện trong hợp đồng có điều kiện 44

2.3 Về việc xác định loại điều kiện trong hợp đồng có điều kiện 49

2.4 Về hệ quả pháp lý của việc vi phạm điều kiện trong hợp đồng có điều kiện 53

KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 58

KẾT LUẬN CHUNG 59 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 7

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Hợp đồng là một trong những phương thức cơ bản, hữu hiệu để đáp ứng hầuhết các nhu cầu giao dịch của con người Chế định hợp đồng là một chế định quantrọng trong hệ thống pháp luật Việt Nam Trải qua nhiều lần sửa đổi và bổ sung, Bộluật Dân sự Việt Nam đã xây dựng một cách toàn diện về các vấn đề chung của hợpđồng từ việc giao kết, thực hiện, sửa đổi cho đến chấm dứt hợp đồng Song, căn cứvào các tiêu chí cụ thể mà có nhiều loại hợp đồng khác nhau, trong đó có hợp đồng

có điều kiện và loại hợp đồng này đã dần trở nên phổ biến trong thực tiễn

Về pháp luật, Bộ luật Dân sự Việt Nam năm 1995, 2005, 2015 đều có sự ghinhận về hợp đồng có điều kiện, sự ghi nhận đó nhằm đáp ứng nhu cầu thực tiễn vàbảo vệ quyền lợi cho các bên trong hợp đồng, chúng ta không thể phủ nhận vai tròcủa các quy định này Tuy nhiên, đến nay số lượng các quy định về hợp đồng cóđiều kiện trong pháp luật hiện hành còn khá ít, nội dung của các quy định về loạihợp đồng này còn khá chung chung và chưa đầy đủ Đó là, các quy định chỉ mới đềcập đến trường hợp được coi là giao dịch có điều kiện, hợp đồng có điều kiện,trường hợp có sự thúc đẩy hoặc cản trở điều kiện và một số vấn đề liên quan đếnhợp đồng tặng cho có điều kiện mà chưa đưa ra khái niệm và các yêu cầu cụ thể chođiều kiện trong hợp đồng có điều kiện cũng như hệ quả pháp lý của việc vi phạmđiều kiện Nhìn chung, hầu hết các vấn đề pháp lý xoay quanh hợp đồng có điềukiện, điều kiện trong hợp đồng có điều kiện chưa được quy định cụ thể mà còn đangtồn tại trong quan điểm của các chuyên gia Do đó, vấn đề này cần được nghiên cứu

để hoàn thiện hơn những quy định của pháp luật về hợp đồng có điều kiện

Về thực tiễn, quy định hiện hành chưa điều chỉnh hết các vấn đề pháp lý liênquan đến hợp đồng có điều kiện, dẫn đến, việc áp dụng quy định của pháp luật đốivới hợp đồng có điều kiện gặp khó khăn Bên cạnh đó, khi giao kết hợp đồng, cácbên không hiểu rõ bản chất của loại hợp đồng này nên dễ phát sinh tranh chấp.Ngoài ra, trong thực tiễn xét xử, cơ quan giải quyết tranh chấp cũng gặp những khókhăn, vướng mắc và lúng túng trong cách giải quyết, nhiều vụ việc phải trải quanhiều cấp xét xử, nhưng quan điểm không thống nhất, thậm chí trái ngược nhau Do

đó, vấn đề này cần thiết được nghiên cứu để chúng trở nên dễ hiểu và rõ ràng hơn,hạn chế phát sinh tranh chấp, thống nhất cách giải quyết của cơ quan xét xử, bảo vệđược tốt hơn quyền và lợi ích hợp pháp của các bên trong hợp đồng

Trang 8

Vì những lý do trên, tác giả đã quyết định chọn “Hợp đồng có điều kiện theo quy định của pháp luật Việt Nam” làm đề tài nghiên cứu khóa luận tốt nghiệp của mình.

2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài

Nghiên cứu về hợp đồng có điều kiện, có thể kể đến một số tài liệu sau:

2.1 Ở trong nước

Sách tham khảo, chuyên khảo

- Đỗ Văn Đại (2017), Luật hợp đồng Việt Nam - Bản án và bình luận bản án (Xuất bản lần thứ 6, có sửa đổi, bổ sung), Nxb Hồng Đức - Hội luật gia Việt Nam:

Tài liệu đã phân tích thực tiễn xét xử để khái quát về bản chất của các loại điều kiện,quyền và nghĩa vụ của các bên khi các loại điều kiện chưa/đã xảy ra và yêu cầu điềukiện không được trái đạo đức xã hội, không được vi phạm điều cấm Nhìn chung, tàiliệu đã cho tác giả cái nhìn tổng quan về hợp đồng có điều kiện, từ đó đi sâu vàonghiên cứu các vấn đề pháp lý xoay quanh loại hợp đồng này và phát triển thêm cácyêu cầu khác của điều kiện

- Nguyễn Ngọc Điện (2016), Giáo trình luật dân sự (Tập 1), Nxb Đại học Quốc

gia TP HCM: Trong mục hiệu lực của giao dịch, giáo trình đã trình bày những vấn

đề lý luận chung về điều kiện trong giao dịch có điều kiện Trên cơ sở đó, tác giảphân tích thêm về bản chất của điều kiện, hình thức, yêu cầu và phân loại điều kiệntrong hợp đồng có điều kiện

- Lê Thị Giang (2020), Hợp đồng tặng cho tài sản theo pháp luật Việt Nam - Một

số vấn đề lý luận và thực tiễn, Nxb Tư pháp, Hà Nội: Tài liệu đã có những nghiên cứu

chuyên sâu về hợp đồng tặng cho tài sản có điều kiện, đây là một loại hợp

đồng cụ thể trong hợp đồng có điều kiện

- Trường Đại học Luật TP.HCM (2017), Giáo trình Pháp luật về hợp đồng và bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, Nxb Hồng Đức - Hội Luật gia Việt Nam:

Giáo trình là tài liệu cung cấp kiến thức cơ bản về loại hợp đồng có điều kiện Trên

cơ sở các yêu cầu pháp lý cơ bản về điều kiện, tác giả đã phân tích, làm rõ hơn cácyêu cầu này

Luận án, Luận văn

- Lê Minh Hùng (2010), Hiệu lực của hợp đồng theo quy định của pháp luật Việt Nam, Luận án tiến sĩ, Trường Đại học Luật TP Hồ Chí Minh: Luận án tập trung nghiên

cứu hiệu lực của hợp đồng nhưng có trình bày cơ bản về khái niệm hợp đồng có điềukiện, thời điểm có hiệu lực của hợp đồng có điều kiện phát sinh và chỉ ra bất

Trang 9

cập, kiến nghị trên cơ sở phân tích quy định của Bộ luật Dân sự năm 2005 Tác giả

đã tiếp thu, đi sâu hơn các vấn đề đó, đồng thời phát triển thêm về các vấn đề kháccủa hợp đồng có điều kiện

- Trần Thị Thu Quỳnh (2011), Hợp đồng dân sự có điều kiện, Luận văn Thạc sĩ,

Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội: Luận văn đã phân tích chi tiết những vấn đề

lý luận về hợp đồng dân sự có điều kiện dựa trên quy định của Bộ luật Dân sự năm

2005, nhưng Luận văn chưa nghiên cứu về thực tiễn xét xử Tác giả đã phát triểnthêm thông qua việc phân tích một số Bản án, Quyết định của Tòa án áp dụng quyđịnh về hợp đồng có điều kiện để thấy được những khó khăn, vướng mắc của thực tiễn

- Trần Thị Như Trang (2014), Hợp đồng tặng cho tài sản có điều kiện theo quy định của pháp luật Việt Nam, Luận văn Thạc sĩ, Trường Đại học Luật TP Hồ Chí

Minh: Luận văn nghiên cứu chuyên sâu về hợp đồng tặng cho tài sản có điều kiệnnhưng cũng dành ra một phần để trình bày về khái niệm, đặc điểm, phân loại điềukiện trong hợp đồng có điều kiện nói chung Tác giả đã tiếp thu và bổ sung hìnhthức của điều kiện cùng với các vấn đề khác của hợp đồng có điều kiện

Các bài viết khác

- Nguyễn Như Bích (2011), “Bàn về hiệu lực của hợp đồng có điều kiện”, Tạp chí Tòa án nhân dân, (19), tr 12-20: Bài viết đã trình bày quan điểm về việc xác định hiệu lực của hợp đồng có điều kiện, dựa vào đó, tác giả đã tìm hiểu thêm về

thời điểm có hiệu lực của hợp đồng có các loại điều kiện khác nhau

- Lê Thị Diễm Phương, “Khái niệm về điều kiện trong loại hợp đồng có điều

kiện”, Tạp chí Tòa án Nhân dân điện tử và bài viết “Thời hiệu khởi kiện áp dụng đối với loại hợp đồng có điều kiện theo quy định tại Điều 429 BLDS 2015”, Tạp chí Tòa

án Nhân dân điện tử: Các bài viết đã tìm hiểu, phân tích cụ thể về khái niệm điều

kiện, đồng thời, bài viết đã chỉ ra bất cập trong việc xác định hiệu lực và thời hiệukhởi kiện đối với hợp đồng có điều kiện Tài liệu này đã giải quyết được nhiều nộidung có liên quan đến đề tài, tác giả đã tiếp thu và phát triển thêm một số nội dungnhư khái niệm hợp đồng có điều kiện, các yêu cầu của điều kiện, việc thực hiện vàchấm dứt hợp đồng có điều kiện, ngoài ra tác giả còn phân tích thực tiễn xét xửtrong một số Bản án, Quyết định để đưa ra kiến nghị

- Phạm Văn Tuyết (2011), “Những vướng mắc của Bộ luật Dân sự về giao dịch,

hợp đồng và nghĩa vụ có điều kiện”, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật, (10), tr 19-22;

Trang 10

26: Bài viết đã phân biệt các khái niệm giao dịch, hợp đồng và nghĩa vụ có điều kiện và đưa ra một số kiến nghị cần sửa đổi trong Bộ luật Dân sự năm 2005.

2.2 Ở nước ngoài

Việc nghiên cứu về vấn đề hợp đồng có điều kiện được nhiều nhà khoa họcpháp lý ngoài nước quan tâm, dưới những góc độ khác nhau, trong đó tác giả đã tiếpcận được một số tài liệu, tác giả đã tiếp thu để xem xét và hoàn thiện hơn đề tàinghiên cứu Cụ thể:

- Ashley, Clarence D., “Conditions in Contract”, Yale Law Journal, Vol 14, p.

424-430: Bài báo phân tích về các điều kiện trong hợp đồng trong pháp luật Anh

Mỹ, trong đó có đề cập đến cách hiểu và cách nhận diện các loại điều kiện, yêu cầuđiều kiện phải là sự kiện của tương lai và không chắc chắn và hình thức thể hiệnđiều kiện,…

- Corbin, Arthur L., “Conditions in the Law of Contract”, Yale Law Journal,

Vol 28, p 739-768: Bài báo nghiên cứu về vấn đề điều kiện trong luật hợp đồngtrong pháp luật Anh Mỹ thông qua các nội dung như: Khái niệm điều kiện, phânbiệt lời hứa và điều kiện, phân loại các loại điều kiện (điều kiện phát sinh, chấm dứthay minh thị, ngầm định hay điều kiện trong hợp đồng đơn phương, song phương)

và các quy tắc để xác định sự kiện là điều kiện,…

Ngoài ra, còn một số bài viết khác có liên quan đến hợp đồng có điều kiện.Những tài liệu khoa học trên là nguồn tài liệu vô cùng quý báu giúp tác giả có nhiềuthông tin quan trọng phục vụ cho việc nghiên cứu Tuy nhiên, đa phần các tài liệuchỉ mới dừng lại ở một hoặc một số khía cạnh riêng biệt của nó mà chưa có côngtrình nào nghiên cứu một cách chuyên biệt về hợp đồng có điều kiện dựa vào quyđịnh hiện hành và thực tiễn xét xử Trong khi đó, vấn đề này còn có điểm chưa rõràng làm cho việc áp dụng quy định pháp luật trên thực tế còn nhiều hạn chế

Xuất phát từ tình hình trên, tác giả mong muốn phân tích quy định, đồng thờigắn với thực tiễn áp dụng để tìm hiểu những điểm thiếu sót và chưa hợp lý của cácquy định trong pháp luật hiện hành về hợp đồng có điều kiện Từ đó, đưa ra nhữngđịnh hướng hoàn thiện để nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật

3 Mục đích nghiên cứu đề tài

Thông qua việc nghiên cứu đề tài “Hợp đồng có điều kiện theo quy định của pháp luật Việt Nam”, tác giả hướng đến các mục đích quan trọng sau:

Thứ nhất, làm rõ các quy định của pháp luật về hợp đồng có điều kiện, cụ thể:

Đề tài sẽ phân tích một số vấn đề cơ bản của hợp đồng có điều kiện như khái niệm,

Trang 11

chủ thể, hiệu lực của hợp đồng có điều kiện, việc thực hiện và chấm dứt hợp đồng

có điều kiện

Thứ hai, tìm hiểu những vấn đề pháp lý liên quan đến hợp đồng có điều kiện

mà luật chưa quy định, cụ thể: Đề tài sẽ phân tích những vấn đề liên quan đến điều

kiện trong hợp đồng có điều kiện

Thứ ba, góp phần hoàn thiện pháp luật Việt nam về hợp đồng có điều kiện,

cụ thể: Dựa trên những lý luận chung và các quy định của pháp luật cũng như thựctiễn áp dụng pháp luật liên quan đến hợp đồng có điều kiện, tác giả sẽ chỉ ra nhữngthiếu sót, điểm chưa phù hợp của các quy định cũng như những vướng mắc, khókhăn của cơ quan giải quyết tranh chấp Từ đó, đưa ra một số kiến nghị sửa đổi, bổsung phù hợp

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu đề tài

Về đối tượng nghiên cứu: Đối tượng nghiên cứu của đề tài là hợp đồng có

điều kiện Trong đó tập trung nghiên cứu một số vấn đề pháp lý cơ bản của hợpđồng có điều kiện, bao gồm: khái niệm, chủ thể, hiệu lực của hợp đồng có điều kiện,việc thực hiện và chấm dứt hợp đồng có điều kiện và đặc biệt là vấn đề điều kiệntrong hợp đồng có điều kiện Đồng thời, đề tài còn nghiên cứu thực tiễn áp dụngpháp luật liên quan đến hợp đồng có điều kiện

Về phạm vi nghiên cứu: Đề tài nghiên cứu quy định của pháp luật hiện hành

về hợp đồng có điều kiện, cụ thể dựa vào Bộ luật Dân sự năm 2015, đồng thời, cótham khảo quan điểm của các học giả, chuyên gia Bên cạnh đó, đề tài cũng thamkhảo một số quy định liên quan trong pháp luật Anh Mỹ, Bộ nguyên tắc Châu Âu vềhợp đồng, Bộ luật Dân sự của một số quốc gia như Pháp, Nhật, Nga… Ngoài ra, đềtài còn nghiên cứu thực tiễn xét xử trong một số Bản án, Quyết định của Tòa ánnhân dân các cấp trong việc áp dụng quy định pháp luật về hợp đồng có điều kiện

5 Phương pháp tiến hành nghiên cứu

Tác giả dựa theo nội dung của từng chương để sử dụng phương pháp nghiêncứu thích hợp, trên cơ sở kết hợp nhiều phương pháp để làm rõ toàn diện vấn đề:

- Phương pháp phân tích và phương pháp tổng hợp: Đây là hai phương pháp

chủ đạo được sử dụng xuyên suốt trong đề tài Tác giả vận dụng phương pháp phântích để giải thích, làm sáng tỏ các vấn đề lý luận, các quy định của pháp luật và thựctiễn xét xử Phương pháp tổng hợp được dùng để kết luận và khát quát các vấn đềđược trình bày trong đề tài

Trang 12

- Phương pháp so sánh: Tác giả sử dụng phương pháp này chủ yếu ở Mục 1.3

và Chương 2 Phương pháp này được dùng để so sánh các khái niệm dễ gây nhầmlẫn, đối chiếu quy định của pháp luật Việt Nam với quy định của một số quốc gia đểthấy được những thiếu sót trong quy định hiện hành Bên cạnh đó, tác giả còn sosánh việc áp dụng pháp luật giữa các cơ quan giải quyết tranh chấp để thấy được sựkhông thống nhất trong thực tiễn xét xử

- Phương pháp phân tích vụ việc: Tác giả sử dụng phương pháp này chủ yếu ở

Chương 2 Phương pháp này được dùng để phân tích, đánh giá và bình luận một số

vụ việc trong các Bản án, Quyết định của Tòa án nhân dân các cấp để tạo nên mộtcái nhìn toàn diện trong nghiên cứu lập pháp

6 Bố cục tổng quát của khóa luận

Đề tài “Hợp đồng có điều kiện theo quy định của pháp luật Việt Nam” có

kết cấu 3 phần: phần mở đầu, phần nội dung và phần kết luận, trong đó, phần nộidung của đề tài gồm 2 chương, cụ thể:

Phần mở đầu

Chương 1 Khái quát chung về hợp đồng có điều kiện

ỞChương 1, tác giả tập trung nghiên cứu một số vấn đề cơ bản của hợp đồng

có điều kiện, bao gồm: khái niệm, chủ thể, vấn đề điều kiện, hiệu lực, việc thực hiện

Trang 13

CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ HỢP ĐỒNG CÓ ĐIỀU KIỆN

Hợp đồng có điều kiện đã rất phổ biến, loại hợp đồng này tuy không mớinhưng quy định hiện hành về nó còn khá chung chung và chưa đầy đủ Để hiểu rõ

về loại hợp đồng này, đồng thời tạo tiền đề lý luận cho việc nghiên cứu tiếp phầnsau, trong chương này tác giả sẽ trình bày khái quát về hợp đồng có điều kiện, baogồm các nội dung: khái niệm hợp đồng có điều kiện, chủ thể, điều kiện trong hợpđồng có điều kiện, hiệu lực của hợp đồng có điều kiện và việc thực hiện, chấm dứthợp đồng có điều kiện

1.1 Khái niệm hợp đồng có điều kiện

Hợp đồng được coi là một trong những chế định pháp lý cổ xưa và cơ bảnnhất Trên thế giới, hợp đồng đã xuất hiện từ rất lâu “Nhiều luật gia cho rằng thuậtngữ “hợp đồng” (contractus) được hình thành từ động từ contrahere, trong tiếng La-tinh có nghĩa là “ràng buộc”, và xuất hiện đầu tiên ở La Mã vào khoảng thế kỷ V -

“Hợp đồng chiếm một vị trí trung tâm và được chế định với dung lượng lớn nhất so vớicác chế định khác do vai trò trung tâm của nó đối với trật tự thị

trường”4

Theo Bộ luật Dân sự (BLDS) Pháp sửa đổi năm 2016: “Hợp đồng là sự thỏa thuận về ý chí giữa hai hoặc nhiều người nhằm tạo ra, sửa đổi, chuyển giao hoặc

1Lê Minh Hùng (2010), Hiệu lực của hợp đồng theo quy định của pháp luật Việt Nam, Luận án

tiến sĩ, Trường Đại học Luật TP Hồ Chí Minh, tr 8.

2Viện Sử học (2013), Quốc triều hình luật, Nxb Tư pháp, Hà Nội, Điều 363, Điều 366.

3Xem thêm: Trường Đại học Luật TP.HCM (2017), Giáo trình Pháp luật về hợp đồng và bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng (tái bản lần thứ nhất, có sửa đổi, bổ sung), Nxb Hồng Đức - Hội

Luật gia Việt Nam, tr 110.

4Reinmann, Mathias & Reinhard Zimmermann (2008), The Oxford Handbook of Comparative Law, Oxford University Press Publisshers, p 900.

Trang 14

chấm dứt nghĩa vụ” 5 Theo BLDS Nga sửa đổi năm 2011: “Hợp đồng là sự thỏa thuận giữa hai hay nhiều bên về việc xác lập, thay đổi, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự” 6 “Theo pháp luật hợp đồng của Hoa Kỳ thì hợp đồng được hiểu là sự thỏathuận có hiệu lực bắt buộc thi hành”7 Như vậy, bản chất của hợp đồng là sự thỏathuận của ít nhất hai bên tham gia giao kết hợp đồng Pháp luật của các quốc giatrên thế giới có cách ghi nhận riêng về khái niệm hợp đồng nhưng đều khẳng định

sự thỏa thuận là yếu tố cốt lõi của hợp đồng

Theo Từ điển Tiếng Việt thì “Hợp đồng là sự thỏa thuận, giao ước giữa hai haynhiều bên quy định các quyền lợi, nghĩa vụ của các bên tham gia, thường được viếtthành văn bản”8 Trong các văn bản pháp luật, thuật ngữ “khế ước” hay “hiệp ước”không còn được sử dụng mà đã được thay thế bằng thuật ngữ “hợp đồng” Theo đó, ởViệt Nam, hợp đồng đã trở thành một trong những hình thức pháp lý cơ bản, thuật ngữnày đã được ghi nhận tại nhiều văn bản pháp luật từ Pháp lệnh Hợp đồng kinh tế năm

1989, Pháp lệnh Hợp đồng dân sự năm 1991 đến các BLDS năm 1995, BLDS năm

2005 Và đến Điều 385 BLDS năm 2015 quy định: “Hợp đồng là sự thỏa thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự”.

Từ khái niệm hợp đồng, để xác định đúng quyền và nghĩa vụ của các bên,đồng thời định ra những quy chế pháp lý thích hợp trong việc xác lập, giao kết, thựchiện hợp đồng, BLDS đã đưa ra nhiều loại hợp đồng dựa trên từng tiêu chí cụ thể.Trong đó, dựa trên sự tồn tại của các điều kiện làm phát sinh hoặc chấm dứt hiệu lựchợp đồng mà hợp đồng có điều kiện đã được ghi nhận

Pháp lệnh Hợp đồng dân sự năm 1991 không chỉ ra có những loại hợp đồng dân

sự nào nhưng có sự thừa nhận về hợp đồng có điều kiện ở Điều 23: “Trong trường hợp các bên thoả thuận về một sự kiện là điều kiện thực hiện hoặc chấm dứt hợp đồng, thì khi sự kiện đó xảy ra, hợp đồng phải được thực hiện hoặc chấm dứt” Tại Điều 134

BLDS năm 1995 ghi nhận về giao dịch dân sự có điều kiện nhưng không liệt kê hợpđồng có điều kiện trong các loại hợp đồng Đến BLDS năm 2005, bên cạnh việc quyđịnh giao dịch dân sự có điều kiện tại Điều 125 thì Bộ luật này cũng

5 Article 1101 French Civil Code (as amended and added up to February 10, 2016), https://www.legifrance.gouv.fr/codes/id/LEGITEXT000006070721/#/, truy cập ngày 22/4/2021.

6Article 420 Civil code of Russian Federation (as amended up to December 8, 2011),

https://www.wipo.int/edocs/lexdocs/laws/en/ru/ru083en.pdf, truy cập ngày 22/4/2021.

7Hoàng Thế Liên (2009), Bình luận Khoa học Bộ luật dân sự năm 2005 (Tập 2), Nxb Chính trị

quốc gia - sự thật, Hà Nội, tr 195.

8Viện Ngôn ngữ học (2003), Từ điển Tiếng Việt, Nxb Đà Nẵng - Trung tâm từ điển học, tr 466.

Trang 15

chính thức ghi nhận hợp đồng có điều kiện là một trong những loại hợp đồng chủ yếutại khoản 6 Điều 406 Tương tự, BLDS năm 2015 đã xây dựng một số điều luật đề cập

đến loại hợp đồng này Cụ thể, tại Điều 120 BLDS năm 2015 quy định: “Trường hợp các bên có thỏa thuận về điều kiện phát sinh hoặc hủy bỏ giao dịch dân sự thì khi điều kiện đó xảy ra, giao dịch dân sự phát sinh hoặc hủy bỏ”, tại khoản 6 Điều

402 BLDS năm 2015 quy định: “Hợp đồng có điều kiện là hợp đồng mà việc thực hiện phụ thuộc vào việc phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt một sự kiện nhất định”

và tại Điều 462 BLDS năm 2015 quy định về hợp đồng tặng cho tài sản có điềukiện, đây là một dạng cụ thể của hợp đồng có điều kiện, theo đó hợp đồng tặng chotài sản nhưng bên được tặng cho chỉ trở thành chủ sở hữu tài sản nếu thực hiện mộthoặc nhiều nghĩa vụ theo yêu cầu của bên tặng cho

Như vậy, hợp đồng có điều kiện đã được đề cập trong các BLDS nhưngnhững quy định về loại hợp đồng này chỉ mới là những quy định chung về kháiniệm giao dịch có điều kiện, hợp đồng có điều kiện, đồng thời những quy định đócũng tồn tại một số vướng mắc khi áp dụng

Theo Điều 120 BLDS năm 2015 thì giao dịch có điều kiện là giao dịch đượcphát sinh hay hủy bỏ phụ thuộc vào điều kiện mà các bên đã thỏa thuận Ví dụ: Hợpđồng Lixăng về một chương trình máy tính với điều kiện liên quan đến tính khả thi

Cụ thể: C thỏa thuận cho D khai thác chương trình máy tính nhưng việc phát sinhhợp đồng này phụ thuộc vào việc công ty E khẳng định chương trình này có phùhợp hay không, nếu có thì hợp đồng giữa C và D phát sinh, ngược lại hợp đồng nàykhông phát sinh Ở đây, C và D đã thống nhất với nhau về nội dung hợp đồngnhưng việc hợp đồng phát sinh còn phụ thuộc vào việc công ty E có khẳng địnhchương trình đó phù hợp hay không Như vậy, tại thời điểm thỏa thuận, các chủ thểvẫn chưa thể chắc chắn giao dịch mình hướng tới có phát sinh hiệu lực hay không.Dựa trên tinh thần tại Điều 125 BLDS năm 2005 tương ứng với Điều 120 BLDSnăm 2015, có quan điểm khi điều kiện phát sinh xảy ra thì hợp đồng phát sinh hiệulực: “Những hợp đồng trong đó các bên thỏa thuận về một hoặc nhiều sự kiện làđiều kiện mà chỉ khi điều kiện đó xảy ra hoặc không xảy ra thì hợp đồng mới đượccoi là phát sinh hay chấm dứt hiệu lực”9.

9Phạm Công Lạc (1998), “Về “điều kiện” trong hợp đồng có điều kiện”, Tạp chí Luật học, (02), tr.

29.

Trang 16

Bên cạnh đó, theo khoản 6 Điều 402 BLDS năm 2015 thì có thể hiểu hợp đồng

có điều kiện là hợp đồng được thực hiện khi có sự phát sinh, thay đổi hay chấm dứtđiều kiện mà các bên đã thỏa thuận Ví dụ: A giao kết hợp đồng mua thiết bị văn phòngcủa B và kèm theo điều kiện A sẽ trả tiền cho B ngay sau khi A nhận được tiền vay từngân hàng; hợp đồng mua bán và hợp đồng vay đã được giao kết xong nhưng

A chưa phải thực hiện nghĩa vụ trả tiền, A nhận được tiền vay thì mới phải thực hiệnnghĩa vụ đó Theo giáo trình trường Đại học Luật Hà Nội: “Hợp đồng có điều kiện lànhững hợp đồng mà khi giao kết, bên cạnh việc thỏa thuận về nội dung của hợp đồngcác bên còn thỏa thuận để xác định về một sự kiện để khi sự kiện đó xảy ra thì hợpđồng mới được thực hiện hoặc phải chấm dứt”10 Tương tự như vậy, có quan điểmcho rằng: “Hợp đồng dân sự có điều kiện là hợp đồng mà việc thực hiện các quyền

và nghĩa vụ dân sự của các bên phụ thuộc vào một sự kiện khách quan nhất định docác bên thỏa thuận…”11

Như vậy, khoản 1 Điều 120 là quy định chung về giao dịch dân sự có điều kiện,điều luật đề cập giao dịch dân sự có điều kiện liên quan đến việc thỏa thuận điều kiệnphát sinh và điều kiện hủy bỏ giao dịch Khoản 6 Điều 402 là quy định điều chỉnh trựctiếp về hợp đồng có điều kiện thì chỉ ghi nhận về việc thực hiện hợp đồng phụ thuộcvào điều kiện làm phát sinh, điều kiện làm thay đổi và điều kiện làm chấm dứt hợpđồng, mà hợp đồng phải có hiệu lực thì mới được thực hiện Do đó, điều kiện phát sinh

ở hai điều luật là giống nhau, là đều làm phát sinh hiệu lực hợp đồng, khoản

6 Điều 402 bổ sung thêm điều kiện làm thay đổi hợp đồng Điều kiện hủy bỏ và chấmdứt đều làm hợp đồng không phát sinh hiệu lực nhưng theo giáo trình trường Đại họcLuật TP.HCM thì “Thuật ngữ “chấm dứt” có nghĩa đúng và đủ hơn thuật ngữ “hủy bỏ”,

vì “chấm dứt” cũng bao gồm cả căn cứ hợp đồng hủy bỏ và các trường hợp chấmdứt khác”12

Về pháp luật nước ngoài, các quốc gia cũng đã ghi nhận sự tồn tại của hợpđồng có điều kiện “Thời La Mã cổ đại đã tồn tại những quy định về giao dịch có điều

10 Trường Đại học Luật Hà Nội (2017), Giáo trình luật dân sự Việt Nam (tập 2), Nxb Công

an nhân dân, Hà Nội, tr 127-128.

11 Trần Thị Thu Quỳnh, “Hợp đồng dân sự có điều kiện”, Thư viện số tài liệu nội vụ - Đại học Quốc gia Hà Nội, https://repository.vnu.edu.vn/flowpaper/simple_document.php?

subfolder=15/47/50/&doc=1547502 7c51-482f-bbc0-5651cb10edcc&uid=, truy cập ngày 24/4/2021.

57827835844291129216063236157831&bitsid=be23d65e-12 Trường Đại học Luật TP.HCM (2017), tlđd (3), tr 141.

Trang 17

kiện là những tình huống được đặt ra trong hợp đồng gắn với những hậu quả pháp lýnhất định”13 Tại Điều 157 BLDS Nga có giải thích về giao dịch có điều kiện là giaodịch phát sinh hoặc giao dịch chấm dứt phụ thuộc vào hoàn cảnh mà chưa biết liệu nó

có xảy ra hay không xảy ra14 Theo BLDS Nhật Bản thì “Giao dịch có điều kiện là cácgiao dịch mà chỉ phát sinh hiệu lực khi xảy ra một sự kiện nhất định hoặc chấm dứthiệu lực khi xảy ra một sự kiện nhất định”15, quy định này tương tự với quy định tạiĐiều 120 BLDS nước ta BLDS Pháp, BLDS Đức, BLDS và Thương mại Thái Lankhông đưa ra khái niệm giao dịch có điều kiện, hợp đồng có điều kiện nhưng có sự thừanhận về loại hợp đồng này thông qua các quy định về điều kiện và hợp đồng tặng cho

có điều kiện, như: từ Điều 1304 đến 1304-7 BLDS Pháp sửa đổi, bổ sung năm 201616

có quy định về điều kiện trong nghĩa vụ có điều kiện, theo Điều 525 BLDS Đức thì:

“Người nào thực hiện tặng cho theo một điều kiện có thể yêu cầu thực hiện điều kiện này nếu người đó đã thực hiện phần mình” 17 , còn Điều 522 BLDS và Thương mại Thái Lan quy định: “Việc tặng cho có thể được thực hiện bằng cách đồng ý miễn cho người nhận việc thi hành một nghĩa vụ, hoặc bằng cách thi hành một nghĩa vụ mà người nhận có bổn phận phải thi hành” 18

Như vậy, pháp luật các nước cũng như Việt Nam đều đã có ghi nhận về hợpđồng có điều kiện Hiện nay, hợp đồng có điều kiện theo khoản 6 Điều 402 BLDSnăm 2015 được hiểu là hợp đồng mà khi giao kết, bên cạnh việc thỏa thuận về nộidung của hợp đồng thì các bên còn đưa ra những sự kiện nhất định là điều kiện đểxác định việc phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt quyền và nghĩa vụ của các bên Từđịnh nghĩa này, tác giả sẽ làm sáng rõ các vấn đề pháp lý và thực tiễn của quy định

về hợp đồng có điều kiện thông qua những nội dung sau: chủ thể của hợp đồng, điều

13 Lê Thị Diễm Phương, “Khái niệm về điều kiện trong loại hợp đồng có điều kiện”, Tạp chí Tòa án

Nhân dân điện tử,

htTPs://tapchitoaan.vn/bai-viet/phap-luat/khai-niem-ve-dieu-kien-trong-loai-hop-dong-co-dieu-kien, truy cập ngày 26/4/2021.

14 Article 157.1, 157.2 Civil code of Russian Federation (as amended up to December

8, 2011), https://www.wipo.int/edocs/lexdocs/laws/en/ru/ru083en.pdf, truy cập ngày 27/4/2021.

15 Viện Nghiên cứu Khoa học Pháp lý - Bộ Tư pháp (1995), Bình luận khoa học Bộ luật dân sự Nhật Bản, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr 175.

16 Article 1304 French Civil Code (as amended and added up to February 10, 2016),

https://www.legifrance.gouv.fr/codes/id/LEGITEXT000006070721/#/, truy cập ngày 28/4/2021.

17 Trường Đại học Luật Hà Nội (2014), Bộ luật Dân sự Đức - Chế định nghĩa vụ, Nxb Lao

động, Hà Nội, Điều 525.

18 Bộ luật dân sự và thương mại Thái Lan, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, Điều 522.

Trang 18

kiện trong hợp đồng, hiệu lực của hợp đồng, việc thực hiện và chấm dứt hợp đồng

có điều kiện

1.2 Chủ thể của hợp đồng có điều kiện

Bản chất của hợp đồng là sự thỏa thuận giữa các bên cho nên chủ thể tronghợp đồng nói chung và hợp đồng có điều kiện nói riêng phải có ít nhất hai bên Cácbên tham gia thỏa thuận những điều kiện mà khi nó xảy ra thì hợp đồng được phátsinh, thay đổi hoặc chấm dứt Do đó, chủ thể trong hợp đồng có điều kiện cũng phảituân theo các quy định về chủ thể trong hợp đồng nói chung Chủ thể của hợp đồng

có điều kiện có thể là cá nhân hoặc pháp nhân Tại điểm a khoản 1 Điều 117 BLDS

năm 2015 quy định về năng lực chủ thể để giao dịch có điều kiện: “Chủ thể có năng lực pháp luật dân sự, năng lực hành vi dân sự phù hợp với giao dịch dân sự được xác lập”.

Khi tham gia giao kết hợp đồng, cá nhân phải có năng lực pháp luật và nănglực hành vi dân sự phù hợp với hợp đồng được xác lập Hợp đồng phải có sự thốngnhất ý chí của các bên nên chỉ những cá nhân có năng lực hành vi mới có ý chí riêng

và khả năng nhận thức được hành vi của họ để tự mình xác lập, thực hiện hợp đồng.Ởđây, BLDS không quy định cá nhân phải có năng lực hành vi dân sự đầy đủ màchỉ cần phù hợp với hợp đồng các bên xác lập vì tùy thuộc vào khả năng nhận thức

và làm chủ hành vi của cá nhân mà năng lực hành vi dân sự của các cá nhân làkhông giống nhau Từ đó, khả năng tham gia xác lập, thực hiện hợp đồng của các cánhân là khác nhau Đối với pháp nhân, khi tham gia giao kết hợp đồng, pháp nhânphải có năng lực pháp luật dân sự Năng lực pháp luật dân sự của pháp nhân không

bị hạn chế, trừ trường hợp BLDS, luật khác có liên quan quy định khác

Theo một tác giả, “sự kiện làm điều kiện thường chỉ do một bên đưa ra nhưngbản thân điều kiện đó được coi là một vấn đề thuộc về nội dung của hợp đồng nênphải có sự chấp thuận của bên kia”19, cho nên, trong hợp đồng có điều kiện phải luôn

có bên chủ thể đưa ra điều kiện và bên chủ thể chấp nhận điều kiện Chủ thể chấp nhậnđiều kiện có thể đồng thời là chủ thể thực hiện điều kiện hoặc không Bởi vì:

Thứ nhất, nếu điều kiện là những sự biến về thiên nhiên (thiên tai, chiếntranh, dịch bệnh, sinh tử) thì không có chủ thể thực hiện điều kiện, nếu điều kiện làhành vi của con người thì mới có chủ thể thực hiện điều kiện

19 Phạm Văn Tuyết (2011), “Những vướng mắc của Bộ luật Dân sự về giao dịch, hợp đồng

và nghĩa vụ có điều kiện”, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật, (10), tr 20.

Trang 19

Thứ hai, trường hợp có chủ thể thực hiện điều kiện, nếu:

Trường hợp 1: Thỏa thuận nêu rõ chủ thể thực hiện điều kiện phải do chínhbên chủ thể chấp nhận điều kiện thực hiện và không cho phép chuyển giao thì chủthể chấp nhận điều kiện chính là chủ thể thực hiện điều kiện Ví dụ: Trong hợp đồnghợp tác kinh doanh khách sạn, A thỏa thuận hợp tác với B, điều kiện là B phải họcxong chương trình cử nhân quản trị kinh doanh tại trường Đại học X Ngược lại,thỏa thuận nêu rõ chủ thể thực hiện điều kiện do chính chủ thể đưa ra điều kiện thựchiện hoặc điều kiện phải do bên thứ ba thực hiện thì chủ thể chấp nhận điều kiệnkhông đồng thời là chủ thể thực hiện điều kiện Trong hợp đồng tặng cho có điềukiện, theo một tác giả, “đây là giả thiết khá hãn hữu trên thực tế vì giữa bên tặngcho và người thứ ba không có bất cứ sự ràng buộc nào Tuy vậy, trong một sốtrường hợp người thứ ba vẫn chấp nhận thực hiện điều kiện tặng cho vì họ mongmuốn người được tặng cho nhận được tài sản”20 Ví dụ: T thỏa thuận tặng nhà cho

H với điều kiện L (mẹ của H) phải chăm sóc, phụng dưỡng T cho đến khi T qua đời

Ở đây, thỏa thuận tặng cho được tiến hành giữa T và H, người thực hiện điều kiện là

L không phải là chủ thể của hợp đồng

Trường hợp 2: Thỏa thuận chỉ nêu kết quả của điều kiện mà không yêu cầu

về người thực hiện thì chủ thể thực hiện điều kiện có thể trực tiếp thực hiện điềukiện hoặc chuyển giao cho người khác thực hiện Theo đó, đối với những điều kiệnliên quan đến nhân thân của bên chấp nhận điều kiện và không thể chuyển giao chochủ thể khác thực hiện thì bên chấp nhận điều kiện phải tự mình thực hiện điều kiện.Đối với những điều kiện có thể chuyển giao cho chủ thể khác thực hiện thì bên chấpnhận điều kiện có thể nhờ, thuê hay ủy quyền cho chủ thể khác thực hiện Ví dụ:Trong hợp đồng tặng cho tài sản, B sẽ chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho A vớiđiều kiện A phải chăm sóc B nhưng do A thường xuyên đi công tác xa nên B đồng ý

để A thuê C đến chăm sóc B

Như vậy, chủ thể của hợp đồng có điều kiện phải tuân theo các quy định về chủthể tham gia quan hệ hợp đồng nói chung Việc xác định chủ thể thực hiện điều kiệnnhằm thông qua đó xác định điều kiện đã được thực hiện/xảy ra hay chưa Theo đó,muốn xác định được, các bên chủ thể cần căn cứ vào sự thỏa thuận giữa các bên cũngnhư xem xét đến tính chất của điều kiện Để có thể hiểu về điều kiện trong hợp

20 Lê Thị Giang (2020), Hợp đồng tặng cho tài sản theo pháp luật Việt Nam - Một số vấn

đề lý luận và thực tiễn, Nxb Tư pháp, Hà Nội, tr 176.

Trang 20

đồng có điều kiện, tác giả sẽ phân tích rõ hơn về khái niệm điều kiện, các yêu cầupháp lý, hình thức của điều kiện và phân loại điều kiện trong hợp đồng có điều kiện.

1.3 Điều kiện trong hợp đồng có điều kiện

Hợp đồng có điều kiện là một trong những loại hợp đồng chủ yếu Do đó,hợp đồng có điều kiện có những đặc điểm chung của một hợp đồng thông thường và

có những đặc thù gắn với điều kiện cụ thể Các yêu cầu về chủ thể, mục đích và nộidung, hình thức của hợp đồng có điều kiện cũng phải tuân theo các quy định về hợpđồng nói chung Trong phạm vi của khóa luận, tác giả sẽ tập trung vào nội dung đặcthù của loại hợp đồng này, đó là điều kiện trong hợp đồng có điều kiện

1.3.1 Khái niệm điều kiện trong hợp đồng có điều kiện

Ởkhía cạnh ngôn ngữ học, thuật ngữ “điều kiện” là: “Điều cần thiết phải có

để đạt một mục đích, cơ sở của một sự thỏa thuận”21; “Cái cần phải có để cho một cáikhác có thể có hoặc có thể xảy ra” hay “Điều nêu ra như một đòi hỏi trước khi thựchiện một việc nào đó”22 Ở khía cạnh pháp lý, thuật ngữ “điều kiện” chưa được phápluật dân sự định nghĩa Có quan điểm cho rằng: “Điều kiện là những giả thiết phải cótrong tương lai thì thỏa thuận của các bên mới có hiệu lực”23

Trong pháp luật Anh Mỹ có quy định về khái niệm “điều kiện” trong hợp đồng

có điều kiện: “Điều kiện là sự kiện mà quyền và nghĩa vụ của các bên phụ thuộc vào

đó Sự kiện có thể là hành vi của một trong hai bên ký kết, hành vi của bên thứ bahoặc bất kỳ sự kiện nào đó trong thế giới thực của chúng ta”24 Tuy nhiên, BLDSnăm 2015 không có quy định cụ thể về “điều kiện” trong loại hợp đồng này, chonên có nhiều quan điểm Vậy, nên hiểu như thế nào về “điều kiện” trong hợp đồng

có điều kiện?

Dựa trên cơ sở Điều 125 BLDS năm 2005 (tương ứng với Điều 120 BLDS năm2015), có quan điểm cho rằng: “Những sự kiện mà các bên tham gia giao dịch dân sựthoả thuận làm điều kiện để xác lập giao dịch hoặc huỷ bỏ giao dịch được hiểu lànhững hiện tượng, sự vật, sự việc phát sinh trong đời sống xã hội thì khi sự kiện

21 Nguyễn Lân (2004), Từ điển và từ ngữ Việt Nam, Nxb TP.HCM, TP Hồ Chí Minh, tr

629.

22 Hoàng Phê (2014), Từ điển tiếng Việt (tái bản lần thứ 6) , Nxb Đà Nẵng, Đà Nẵng, tr 428.

23 Nguyễn Văn Cừ, Trần Thị Huệ (Đồng chủ biên) (2017), Bình luận khoa học Bộ luật dân

sự năm 2015 của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội, tr

475.

24 Corbin, Arthur L., “Conditions in the Law of Contract”, Yale Law Journal, Vol 28, p 743,

https://heinonline.org/HOL/Page?public=true&handle=hein.journals/ylr28&div=65&start_page=73 9&collection=journals&set_as_cursor=0&men_tab=srchresults, truy cập ngày 06/5/2021.

Trang 21

đó xảy ra là điều kiện để xác lập hoặc chấm dứt giao dịch dân sự”25 Cùng với quanđiểm đó, một tác giả đã đưa ra ví dụ: “một người có con trai là H - 18 tuổi, chuẩn bịvào đại học Ông ký hợp đồng với cửa hàng bán xe máy mua chiếc xe hiệu Honda -Dream với điều kiện: Khi con ông thi lấy được giấy phép lái xe thì ông sẽ mua chocon mình chiếc xe đó Như vậy, hợp đồng mua chiếc xe chỉ có hiệu lực khi cậu contrai là H được cấp giấy phép lái xe”26 Theo khoản 6 Điều 402 BLDS năm 2015 thì

“điều kiện” trong hợp đồng có điều kiện là “một sự kiện nhất định” mà hậu quảpháp lý là làm cho hợp đồng được thực hiện Có quan điểm: ““điều kiện” trong

“hợp đồng có điều kiện” là những sự kiện được các bên thỏa thuận khi xác lập hợpđồng, và có thể xảy ra hoặc không xảy ra trong thực tế sau khi hợp đồng được xáclập mà hậu quả của nó là hợp đồng phát sinh, thay đổi hoặc hủy bỏ”27

Hợp đồng nói chung là một giao dịch dân sự và nói riêng là một trong các

căn cứ làm phát sinh nghĩa vụ Tại khoản 1 Điều 284 BLDS năm 2015: “Trường hợp các bên có thỏa thuận hoặc pháp luật có quy định về điều kiện thực hiện nghĩa

vụ thì khi điều kiện phát sinh, bên có nghĩa vụ phải thực hiện” BLDS Pháp sửa đổi năm 2016 có quy định tại Điều 1304: “Nghĩa vụ có điều kiện khi nó phụ thuộc vào một sự kiện không chắc chắn và xảy ra trong tương lai” 28 Có thể thấy, nghĩa vụ có điều kiện là nghĩa vụ mà bên có nghĩa vụ phải thực hiện khi sự kiện các bên thỏa

thuận, xác định là điều kiện đã xảy ra Do đó, cần phân biệt nghĩa vụ có điều kiệnvới nghĩa vụ trong hợp đồng Ví dụ: Hợp đồng mua bán với thỏa thuận người muaphải trả tiền thì đây không phải là hợp đồng mua bán có điều kiện mà là hợp đồngmua bán bình thường vì việc trả tiền là nghĩa vụ cơ bản của người mua

“Điều kiện” là vấn đề pháp lý cơ bản của hợp đồng có điều kiện nhưngBLDS năm 2015 không có quy định cụ thể về “điều kiện” mà có quy định về điềukiện có hiệu lực của hợp đồng, hai khái niệm này là khác nhau:

27 Trích theo: Lê Thị Diễm Phương, tlđd (13), truy cập ngày 06/5/2021.

28 Article 1304 French Civil Code (as amended and added up to February 10, 2016),

https://www.legifrance.gouv.fr/codes/id/LEGITEXT000006070721/#/, truy cập ngày 06/5/2021.

Trang 22

giao kết hợp đồng các bên tuân thủ các thủ tục và điều kiện luật định thì hợp đồng

đó mới có giá trị pháp lý ràng buộc quyền và nghĩa vụ của các bên

“Điều kiện” trong hợp đồng có điều kiện là những sự kiện do các bên tronghợp đồng tự do thỏa thuận, lựa chọn để hợp đồng hoặc phát sinh hoặc thay đổi hoặcchấm dứt, tức là điều kiện được đặt ra hoàn toàn phụ thuộc vào ý chí của các bên

Thứ hai, xét về hiệu lực của hợp đồng.

Đối với điều kiện có hiệu lực của hợp đồng thì hợp đồng được xác lập, thựchiện phụ thuộc vào những điều kiện luật định Theo Điều 117 BLDS năm 2015, hợpđồng có hiệu lực khi thỏa mãn các điều kiện về năng lực chủ thể, tính tự nguyện, nộidung và mục đích, hình thức của hợp đồng Nếu không đáp ứng được một trong cácđiều kiện đó thì về nguyên tắc, hợp đồng có thể bị vô hiệu, tức là quyền và nghĩa vụcủa các bên không phát sinh kể từ thời điểm hợp đồng được xác lập

Trong hợp đồng có điều kiện, hợp đồng được thực hiện hoặc không đượcthực hiện phụ thuộc vào điều kiện làm phát sinh, điều kiện làm thay đổi hay điềukiện làm chấm dứt hợp đồng Mặc dù cũng có thể đưa tới hệ quả phát sinh hiệu lựcpháp luật nhưng hiệu lực ở đây bên cạnh việc phụ thuộc vào điều kiện có hiệu lựccủa hợp đồng thì còn phụ thuộc vào điều kiện mà các bên thỏa thuận BLDS khôngliệt kê cụ thể sự kiện nào là “điều kiện” mà sự kiện ở đây do các bên thỏa thuận

“nhưng không chắc chắn xảy ra trong tương lai”29, nếu điều kiện không xảy ra thì

không dẫn đến các hệ quả là hợp đồng phát sinh hoặc thay đổi hoặc chấm dứt

BLDS cũng đề cập đến “điều kiện” trong hợp đồng tặng cho tài sản có điềukiện “Điều kiện tặng cho được hiểu là một hoặc nhiều nghĩa vụ mà bên được tặngcho phải thực hiện trước hoặc sau khi nhận được tài sản tặng cho”30 Theo đó, “điềukiện” trong hợp đồng tặng cho tài sản có điều kiện là dự liệu về một hay một vàinghĩa vụ do các bên tự thỏa thuận trong hợp đồng mà bên được tặng cho phải thựchiện để được nhận tài sản tặng cho

Có thể thấy, “điều kiện” trong hợp đồng có điều kiện là những sự kiện nhấtđịnh dẫn đến hệ quả là làm cho hợp đồng hoặc phát sinh hoặc thay đổi hoặc chấmdứt “Những sự kiện mà các bên thỏa thuận làm điều kiện của giao dịch có thể dựliệu từ các hiện tượng tự nhiên, có thể dựa vào sự kiện nhất định do hành vi của conngười”31 Bên cạnh đó, có nhận định: “Điều kiện không có nghĩa chỉ là một sự kiện

29 Hoàng Thế Liên (2009), tlđd (7), tr 291.

30 Nguyễn Văn Cừ, Trần Thị Huệ (Đồng chủ biên) (2017), tlđd (23), tr 690.

31 Nguyễn Văn Cừ, Trần Thị Huệ (Đồng chủ biên) (2017), tlđd (23), tr 238.

Trang 23

mà có thể bao gồm nhiều sự kiện, khi hội đủ các sự kiện này thì mới coi là sự kiệnxảy ra”32 Theo đó, cần phải hiểu “một sự kiện” là điều kiện không có nghĩa có duy

nhất một sự kiện mà có thể bao gồm nhiều sự kiện

Như vậy, xuất phát từ nguyên tắc tự do giao kết hợp đồng mà các bên có thể đưathêm một số điều kiện cho hợp đồng Tuy nhiên, BLDS không định nghĩa về điều kiện

mà chỉ gắn nó với các sự kiện có ý nghĩa pháp lý khác nhau với hợp đồng Theo tác giả,

“điều kiện” trong hợp đồng có điều kiện có thể hiểu là những dự liệu về những sự kiệnnhất định, có thể là hiện tượng tự nhiên hoặc hành vi của con người Các sự kiện đó cóthể xảy ra trong tương lai, được xây dựng trên cơ sở không vi phạm điều cấm của luật,không trái đạo đức xã hội và nhằm làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt quyền vànghĩa vụ của các bên trong hợp đồng Qua nghiên cứu, tác giả cho rằng khái niệm về

“điều kiện” trong hợp đồng có điều kiện sau đây là đầy đủ và hợp lý:

Điều kiện trong hợp đồng có điều kiện là nghĩa vụ mà theo đó một hoặcnhiều bên trong hợp đồng cam kết thực hiện theo thoả thuận Điều kiện là

sự kiện mà quyền và nghĩa vụ của các bên phụ thuộc vào đó Điều kiện lànghĩa vụ có thể là tài sản, công việc phải làm hoặc không được làm vì lợiích của một hoặc nhiều chủ thể khác và phải xác định được Điều kiệnkhông được vi phạm điều cấm của luật, không được trái đạo đức xã hội.33Song, để hợp đồng có hiệu lực và thực hiện được trên thực tế thì hợp đồng cóđiều kiện cũng cần phải đáp ứng các yêu cầu về hình thức, nội dung như hợp đồngthông thường, mà điều kiện là yếu tố đặc trưng của loại hợp đồng này nên hình thức

và nội dung của điều kiện sẽ được tác giả tìm hiểu ở các phần tiếp theo

1.3.2 Hình thức của điều kiện trong hợp đồng có điều kiện

Trong khoa học pháp lý, hình thức của hợp đồng được định nghĩa là “Cách thứcthể hiện sự thỏa thuận giữa các bên”34 hay “Phương tiện ghi nhận nội dung mà các chủthể đã xác định”35 Như vậy, có thể hiểu hình thức của hợp đồng được hiểu là sự thểhiện ra bên ngoài ý chí chung của các bên tham gia giao kết hợp đồng Theo BLDSnăm 2015, hình thức của hợp đồng có thể được thể hiện bằng lời nói, văn bản hoặchành vi cụ thể Về nguyên tắc, các bên được tự do lựa chọn các hình thức trên,

32 Phạm Công Lạc (1998), tlđd (9), tr 29.

33 Lê Thị Diễm Phương, tlđd (13), truy cập ngày 06/5/2021.

34 Viện Nghiên cứu Khoa học Pháp lý - Bộ Tư pháp (2006), Từ điển Luật học, Nxb Từ

điển bách khoa và Nxb Tư pháp, Hà Nội, tr 363.

35 Trường Đại học Luật Hà Nội (2017), tlđd (10), tr 95.

Trang 24

tuy nhiên, trong một số trường hợp, hợp đồng phải được lập thành văn bản đượccông chứng, chứng thực hoặc đăng ký như: hợp đồng có đối tượng là quyền sử dụngđất và/hoặc tài sản gắn liền với đất36, các hợp đồng có đối tượng là nhà hoặc côngtrình xây dựng37,…

Hợp đồng có điều kiện là một trong những loại hợp đồng chủ yếu, đồng thời,trong các quy định về hợp đồng có điều kiện, không có bất cứ điều luật nào quyđịnh riêng về hình thức của hợp đồng có điều kiện Do đó, hình thức của hợp đồng

có điều kiện cũng phải tuân theo hình thức của hợp đồng Cùng với đó, điều kiệntrong hợp đồng có điều kiện chính là một nội dung của hợp đồng có điều kiện nên

về nguyên tắc, hình thức của điều kiện cũng phải tuân theo hình thức của hợp đồng

có điều kiện Ví dụ: Mẹ của T tặng cho anh quyền sử dụng đất với điều kiện anh Tphải nuôi dưỡng người em bị tâm thần suốt đời Hợp đồng này có đối tượng làquyền sử dụng đất nên phải được lập thành văn bản có công chứng, chứng thực màđiều kiện tặng cho là một nội dung của hợp đồng nên phải tuân theo hình thức này.Tuy nhiên, về hình thức ghi nhận điều kiện có 2 luồng ý kiến:

Thứ nhất, điều kiện phải nằm trong hợp đồng Có quan điểm cho rằng, “điềukiện làm hợp đồng phát sinh hay hủy bỏ hiệu lực phải được thể hiện minh bạch, rõràng trong hợp đồng dưới những điều khoản của hợp đồng, nếu không được tiên liệutrong hợp đồng thì hợp đồng sẽ không phải là hợp đồng có điều kiện”38

Thứ hai, điều kiện là sự thỏa thuận của các bên nên điều quan trọng là ý chícủa các bên có thống nhất hay không, còn việc nằm trong hay ngoài hợp đồng làkhông quan trọng Có quan điểm: “thỏa thuận về điều kiện có thể được hình thànhdưới bất kỳ hình thức nào và có thể là một thỏa thuận minh thị hay ngầm định”39

Vì BLDS năm 2015 không có quy định cụ thể về vấn đề này, cùng với sựchưa thống nhất của thực tiễn nên Tòa án nhân dân (TAND) tối cao đã ra Án lệ số:14/2017/AL về “Công nhận điều kiện của hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất mà

36 Điểm a, b khoản 3 Điều 167 Luật Đất đai 2013 và khoản 2 Điều 17 Luật Kinh doanh bất động sản 2014.

37 Khoản 1 Điều 122 Luật Nhà ở 2014 và khoản 2 Điều 17 Luật Kinh doanh bất động sản 2014.

38 Trần Thị Như Trang (2014), Hợp đồng tặng cho tài sản có điều kiện theo quy định của pháp luật Việt Nam, Luận văn Thạc sĩ, Trường Đại học Luật TP Hồ Chí Minh, tr 15.

39 Đỗ Văn Đại (2017), Luật hợp đồng Việt Nam - Bản án và bình luận bản án (Tập 1) (Xuất bản lần thứ 6, có sửa đổi, bổ sung), Nxb Hồng Đức - Hội luật gia Việt Nam, tr 235.

Trang 25

điều kiện đó không được ghi trong hợp đồng”40 Trên thực tế, có nhiều quan điểm

cho rằng Án lệ số 14/2017/AL hoàn toàn thuyết phục vì:

Thứ nhất, BLDS năm 2015 có ghi nhận về hợp đồng tặng cho tài sản có điềukiện nhưng không có quy định cụ thể về điều kiện được ghi nhận như thế nào nênviệc án lệ ghi nhận như vậy hoàn toàn không trái với BLDS năm 2015

Thứ hai, trong hợp đồng này các bên tranh chấp có hay không có điều kiệntặng cho Do đó, có thể giải thích hợp đồng có nội dung không rõ ràng bằng cáchcăn cứ vào ý chí của các bên được thể hiện trong toàn bộ quá trình trước, tại thờiđiểm xác lập, thực hiện hợp đồng để tìm ra ý chí thật sự của các bên Ở đây, trước

và sau khi hợp đồng tặng cho được chứng thực đã có giấy ủy quyền và giấy cam kếtthể hiện điều kiện tặng cho

Có thể thấy, Án lệ số 14/2017/AL nhằm giải quyết các vướng mắc, bất cậpđối với hợp đồng tặng cho có điều kiện Tuy nhiên, hợp đồng tặng cho tài sản cóđiều kiện là một dạng hợp đồng cụ thể của hợp đồng có điều kiện nên có thể có mộtvài đặc trưng riêng nhưng vấn đề hình thức của điều kiện không có sự khác nhau

Do đó, án lệ này có thể áp dụng cho hoàn cảnh tương tự là hợp đồng có điều kiệnnói chung Theo đó, án lệ đã chấp nhận hình thức của điều kiện theo luồng quanđiểm thứ hai Tức là, điều kiện có thể được thể hiện ngay trong hợp đồng hoặc đượcthể hiện trong một văn bản khác Điều này là hoàn toàn hợp lý, vì trên thực tế cónhiều trường hợp các bên thỏa thuận điều kiện bằng lời nói hoặc thông qua nhữnggiấy tờ liên quan đến hợp đồng hoặc có những điều kiện ngầm định thì không thểtuân theo hình thức của hợp đồng cũng như ghi nhận ngay trong hợp đồng

Như vậy, điều kiện trong hợp đồng có điều kiện không nhất thiết phải tuântheo hình thức của hợp đồng có điều kiện và có thể không ghi nhận trực tiếp tronghợp đồng, miễn là hình thức thể hiện điều kiện đó có thể kiểm chứng được thì đềuđược ghi nhận Sau khi xác định được sự tồn tại của điều kiện thì nội dung của điềukiện là một vấn đề rất quan trọng cần được xem xét, điều này sẽ được tác giả làm rõsau đây

1.3.3 Các yêu cầu pháp lý đối với điều kiện trong hợp đồng có điều kiện

Khi các bên thỏa thuận sự kiện là điều kiện trong hợp đồng có điều kiện thì điềukiện đó có nội dung như thế nào, về vấn đề gì là tùy thuộc vào ý chí và sự thỏa thuậncủa các bên BLDS không đặt ra yêu cầu cụ thể đối với điều kiện trong loại hợp

40 Phụ lục 1.

Trang 26

đồng này Tuy nhiên, xuất phát từ nguyên tắc tự do thỏa thuận có tính chất tươngđối nên không phải mọi sự thỏa thuận của các bên đều hợp pháp Bên cạnh đó, dựavào tính khả thi, hợp lý và bản chất của điều kiện mà “để đảm bảo tính hợp pháp vàhạn chế những tranh chấp có thể xảy ra, điều kiện trong hợp đồng có điều kiện phảituân thủ những yêu cầu pháp lý nhất định”41:

Thứ nhất, sự kiện được chọn là điều kiện phải không được vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội.

Về nguyên tắc, các bên được tự do thỏa thuận nội dung trong hợp đồng nhưngquyền tự do đó phải trong một giới hạn nhất định Cổ luật Việt Nam đã từng có các quyđịnh hạn chế việc tự do trong một số giao dịch, cụ thể trong Bộ luật Hồng Đức:

“Những người bán ruộng đất ở bờ cõi cho người nước ngoài thì bị tội chém Những người bán nô tỳ và voi ngựa cho người nước ngoài, thì bị tội chém”; “Những người chế tạo vật dụng trong cung vua, đem đồ vật ra ngoài mua bán, thì người mua người bán đều phải tội đồ; nếu việc nặng thì luận thêm tội”42 Ngày nay, pháp luật cũng đưa

ra giới hạn cho việc tự do giao kết hợp đồng nhưng ở mức độ khái quát hơn, cụ thể tạiĐiều 4 BLDS năm 2005, khoản 2 Điều 3 BLDS năm 2015

BLDS năm 2015 ghi nhận điều kiện tặng cho không được trái luật, trái đạo

đức xã hội Cụ thể, tại khoản 1 Điều 462: “Điều kiện tặng cho không được vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội” nhưng quy định này được đặt trong

phần về hợp đồng tặng cho tài sản có điều kiện, đây là một loại hợp đồng cụ thể củahợp đồng có điều kiện Vậy, đối với điều kiện trong hợp đồng có điều kiện nóichung có phải đáp ứng yêu cầu này?

Theo quy định tại khoản 2 Điều 3 BLDS năm 2015 thì “Mọi cam kết, thỏa thuận không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội có hiệu lực thực hiện đối với các bên và phải được chủ thể khác tôn trọng” và theo điểm c khoản 1 Điều 117 BLDS năm 2015 thì “Giao dịch dân sự có hiệu lực khi có đủ các điều kiện sau đây: Mục đích và nội dung của giao dịch dân sự không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội” Những quy định trên được đặt ra cho “mọi cam kết, thỏa thuận”

hay cho “giao dịch dân sự” mà điều kiện trong hợp đồng có điều kiện chính là những

“cam kết, thỏa thuận” hay “giao dịch dân sự” Tức là, điều kiện cũng

41 Trường Đại học Luật TP.HCM (2017), ttđd (3), tr 141.

42 Viện Sử học (2013), tlđd (2), Điều 74, Điều 203.

Trang 27

là một nội dung của giao dịch nên cũng phải đáp ứng yêu cầu là không được viphạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội.

Theo một tác giả: “Nội dung của sự kiện là điều kiện không được vi phạm điềucấm của pháp luật hoặc trái đạo đức xã hội”43, yêu cầu này được dựa trên các quy địnhcủa BLDS năm 2005, các điều đó cũng tương ứng với quy định của BLDS năm 2015.Tuy nhiên, BLDS năm 2015 đã giới hạn phạm vi hạn chế quyền tự do thỏa thuận củacác bên từ điều cấm của “pháp luật” thành điều cấm của “luật” Bởi vì nguyên tắc tạikhoản 2 Điều 14 Hiến Pháp 2013 là quyền công dân chỉ có thể bị hạn chế bởi luật đãđược khái quát hóa để áp dụng cho quyền của chủ thể trong quan hệ hợp đồng nên quyđịnh mới của BLDS năm 2015 được dựa trên cơ sở này Do đó, theo BLDS năm 2015,

sự thỏa thuận của các bên không được vi phạm điều cấm của luật, còn các văn bản dướiluật không hạn chế quyền tự do thỏa thuận của các bên

Điều 123 BLDS năm 2015 quy định: “Điều cấm của luật là những quy định của luật không cho phép chủ thể thực hiện những hành vi nhất định; Đạo đức xã hội là những chuẩn mực ứng xử chung trong đời sống xã hội, được cộng đồng thừa nhận và tôn trọng” Theo đó, các dạng điều kiện như xâm phạm tới quyền sở hữu tài sản, quyền

được sống của cá nhân, xúc phạm danh dự nhân phẩm của người khác, … thì khôngđược chấp nhận Ví dụ: hợp đồng với điều kiện gây thương tích hoặc hủy hoại tài sảnngười khác; hợp đồng với điều kiện quỳ xuống van xin, chửi mắng người khác hoặc

“hợp đồng với điều kiện ngăn cản cha mẹ và con cái sống chung”44 là những hợp đồng

có điều kiện vi phạm điều cấm của luật, trái đạo đức xã hội

Bên cạnh đó, cần xác định, việc đánh giá sự kiện là điều kiện có vi phạm điềucấm của luật, trái đạo đức xã hội hay không là căn cứ vào nội dung của điều kiện chứkhông dựa vào cách thức thực hiện điều kiện hay quá trình xảy ra sự kiện Ví dụ: Tronghợp đồng tặng cho tài sản, có thỏa thuận, A tặng cửa hàng cho B nếu C là mẹ của Bnhập viện không thể tạo thu nhập Sự kiện C nhập viện có thể do nhiều nguyên nhân,đây là điều kiện hợp pháp, khi sự kiện đó xảy ra thì hợp đồng tặng cho cửa hàng phátsinh Nếu việc C nhập viện là do chính B đánh đập hoặc gây tai nạn thì sự kiện này vẫn

là điều kiện hợp pháp nhưng hợp đồng không phát sinh do B thực hiện hành

vi trái luật, trái đạo đức xã hội để thúc đẩy sự kiện xảy ra

43 Trần Thị Như Trang (2014), tlđd (38), tr 14.

44 Hoàng Thế Liên (2009), Bình luận Khoa học Bộ luật dân sự năm 2005 (Tập 1), Nxb

Chính trị quốc gia - sự thật, Hà Nội, tr 298.

Trang 28

Có thể thấy, BLDS năm 2015 đã có quy định gián tiếp về yêu cầu này nhưng Bộluật không dự liệu hậu quả pháp lý của điều kiện và hợp đồng khi điều kiện không đápứng được yêu cầu Tại Điều 132 BLDS Nhật Bản có quy định điều kiện xâm phạm tớitrật tự công cộng và đạo đức xã hội thì vô hiệu Tác giả đồng ý với cách quy định vềhậu quả pháp lý đó vì điều kiện mà các bên thỏa thuận là nội dung của giao dịch dân sựnên theo Điều 122, dẫn chiếu đến Điều 117 BLDS năm 2015 thì giao dịch dân sự đó sẽ

bị vô hiệu Bên cạnh đó, điều kiện trong loại hợp đồng này có quan hệ mật thiết vớihợp đồng nên khi điều kiện vô hiệu thì hợp đồng cũng bị vô hiệu

Thứ hai, sự kiện là điều kiện phải xuất hiện trong tương lai và có tính ngẫu nhiên hoặc không chắc chắn.

Theo Bộ nguyên tắc Châu Âu về hợp đồng, tại Điều 16.101: “Nghĩa vụ hợp đồng có thể được thực hiện có điều kiện nếu nó phụ thuộc vào một sự kiện trong tương lai và không chắc chắn” 45 Tại Điều 120 BLDS năm 2015, có thể thấy, khả

năng xảy ra của những sự kiện là điều kiện mang tính không chắc chắn Theo đó, tạithời điểm thỏa thuận, các bên chỉ mới dự kiến khả năng hình thành và xuất hiện củanhững sự kiện trong tương lai Theo một tác giả: “Chuyện của tương lai là sự kiệnphải chưa xảy ra ở thời điểm xác lập giao dịch”46 Do đó, “các sự kiện mà các bênthỏa thuận có thể phát sinh trong tương lai nhưng có thể không phát sinh”47 Ví dụ:

A thỏa thuận cho B vay tiền nếu B trở thành nhân viên chính thức tại công ty của A

Sự kiện B trở thành nhân viên chính thức có thể xảy ra hoặc có thể vì lý do nào đó

mà không xảy ra, các bên không biết được Như vậy, tính ngẫu nhiên hoặc khôngchắc chắn của điều kiện được hiểu là những điều kiện có thể xảy ra hoặc có thểkhông xảy ra

Theo một tài liệu: “Một sự kiện là điều kiện, phải là sự kiện của tương lai vàkhông chắc chắn Điều này không có nghĩa là sự kiện tương lai hoặc không chắc chắnmang tính khách quan Nó chỉ đơn thuần có nghĩa là phải có sự không chắc chắn chủquan Các bên phải nghi ngờ tại thời điểm hợp đồng được xác lập”48 Theo đó có thể

45 Article 16.101 Principles of European Contract Law -

PECL, https://www.trans-lex.org/400200/_/pecl/, truy cập ngày

09/5/2021.

46 Nguyễn Ngọc Điện (2016), Giáo trình luật dân sự (Tập 1), Nxb Đại học Quốc gia TP

HCM, tr.

135.

47 Nguyễn Văn Cừ, Trần Thị Huệ (Đồng chủ biên) (2017), tlđd (23), tr 238.

48Ashley, Clarence D., “Conditions in Contract”, Yale Law Journal, Vol 14, p 425-426,

https://heinonline.org/HOL/Page?handle=hein.journals/ylr14&id=434&collection=journals&index

=, truy cập ngày 25/6/2021.

Trang 29

hiểu, đối với những sự kiện chắc chắn xảy ra tại một thời điểm cụ thể trong tươnglai thì không thể xem là điều kiện, mà sự kiện đó chỉ là một mốc thời gian mà cácbên đặt ra để hợp đồng phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt Tuy nhiên, đối với những

sự kiện là điều kiện chắc chắn sẽ xảy ra trong tương lai nhưng các bên không thểxác định được thời điểm cụ thể điều kiện xảy ra thì nó vẫn đáp ứng được tính ngẫunhiên, không chắc chắn của điều kiện Ví dụ: Trong hợp đồng bảo hiểm nhân thọ cóthỏa thuận, Công ty bảo hiểm sẽ chi trả tiền bảo hiểm cho người thụ hưởng nếungười được bảo hiểm chết Trường hợp này, sự kiện chết của người được bảo hiểmchắc chắn sẽ xảy ra nhưng các bên không biết được thời điểm cụ thể sự kiện này sẽxảy ra Bên cạnh đó, nếu các bên thỏa thuận những sự kiện đã xảy ra trước hoặc tạithời điểm giao kết cho dù các bên biết hoặc chưa biết về sự tồn tại của nó, tức lànhững sự kiện đã tồn tại trên thực tế vào thời điểm xác lập hợp đồng thì sự kiện đókhông thể trở thành điều kiện Lúc này, hợp đồng có sự kiện đó trở thành hợp đồngbình thường mà không phải là hợp đồng có điều kiện

Đối với những sự kiện chắc chắn không xảy ra thì không được xem là điều kiện.Bởi vì, mục đích của việc giao kết hợp đồng có điều kiện là khi điều kiện đó xảy ra,hợp đồng sẽ phát sinh hoặc thay đổi hay chấm dứt Do đó, nếu các bên đưa ra điều kiện

mà chắc chắn không xảy ra thì việc giao kết hợp đồng này không có ý nghĩa BLDS

Nhật Bản quy định: “Nếu điều kiện không xảy ra đã trở nên chắc chắn ở thời điểm xác lập hành vi pháp lý thì hành vi này bị coi là vô hiệu nếu kèm theo điều kiện khẳng định,

và bị coi là không có điều kiện nếu kèm theo điều kiện phủ định”49 Ví dụ: A thỏathuận hỗ trợ tiền sinh hoạt cho B nếu B thi đậu Tuy nhiên, ngay tại thời điểm thỏathuận B đã thi rớt, tức là sự kiện B thi đậu chắc chắn không xảy ra thì thỏa thuận này bị

vô hiệu Cũng trong trường hợp đó, nhưng nếu điều kiện là B thi rớt thì A không hỗ trợtiền sinh hoạt thì hợp đồng này bị coi là không có điều kiện

Đối với hậu quả pháp lý của điều kiện và hợp đồng khi điều kiện không đápứng được yêu cầu sự kiện là điều kiện phải xuất hiện trong tương lai, có tính ngẫunhiên hoặc không chắc chắn thì có quan điểm: “Nếu sự kiện dự kiến chắc chắn xảy

ra hoặc chắc chắn không xảy ra, thì việc áp đặt điều kiện trở nên vô nghĩa”50 Theo

đó, những sự kiện không đáp ứng yêu cầu này thì không thể được xem là điều kiện

và hợp đồng trở thành hợp đồng không có điều kiện

49 Article 131.2 Japan Civil Code (1896),

http://www.moj.go.jp/content/000056024.pdf, truy cập ngày 09/5/2021.

50 Nguyễn Ngọc Điện (2016), tlđd (46), tr 135.

Trang 30

Thứ ba, sự kiện là điều kiện phải có khả năng thực hiện/xảy ra được.

Trong hợp đồng có điều kiện các bên có thể tiên liệu các hiện tượng tự nhiên,

dự liệu các sự kiện có thể xuất hiện trong xã hội hoặc có thể đưa ra các sự kiện docon người thực hiện để trở thành điều kiện, nhưng những sự kiện đó phải có khảnăng thực hiện/xảy ra Theo một tác giả “Sự kiện do các bên thỏa thuận được hiểu

là những sự kiện phổ biến, biện chứng và thường xuất hiện trong quan hệ xã hội”51.Theo đó, nếu các bên chọn những sự kiện thuộc về thiên nhiên là điều kiện thìnhững sự kiện đó không được mang tính hoang tưởng mà phải có khả năng xảy ratrên thực tế, nếu các bên chọn hành vi của con người là điều kiện thì những sự kiện

đó không được mang tính ảo tưởng, vượt quá khả năng của con người mà phải nằmtrong khả năng thực hiện của con người Ví dụ: A thỏa thuận với B, nếu B lấp đượcbiển hoặc mặt trời mọc đằng tây thì A sẽ tặng toàn bộ tài sản của mình cho B.Những sự kiện đó là sự kiện hoang đường, phi lý nên không thể được chọn là điềukiện trong hợp đồng có điều kiện

Về hợp đồng có điều kiện, pháp luật La Mã có quy định “Nếu các bên xáclập hợp đồng có điều kiện mà thỏa thuận về những điều mang tính hoang tưởng vàvượt khả năng của con người thì thỏa thuận đó vô hiệu”52 Pháp luật Anh Mỹ có đềcập đến điều kiện bất khả thi, theo đó “Nếu việc thực hiện điều kiện là bất khả thi vềmặt pháp lý hoặc vật lý tại thời điểm điều kiện được thực hiện, thì không có nghĩa

vụ nào phát sinh, thậm chí không phải là trách nhiệm đối với người có nghĩa vụ.”53

BLDS Nhật Bản có quy định: “Hành vi pháp lý gắn với điều kiện không có khả năng thực hiện sẽ bị vô hiệu”54 Có quan điểm cho rằng: “Những sự kiện hoang

tưởng không thể xảy ra trong cuộc sống, thì không thể thỏa thuận làm điều kiện của

giao dịch”55 Theo đó, tác giả đồng ý những sự kiện không có khả năng thực hiện

hoặc xảy ra thì không được xem là điều kiện, vì khi đưa ra những điều kiện là sựkiện không thể thực hiện được, không xảy ra được là không nhằm mục đích để hợpđồng được phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt, nếu các bên thỏa thuận những sự kiện

đó là điều kiện thì thỏa thuận này vô hiệu và dẫn đến hợp đồng vô hiệu

51 Nguyễn Văn Cừ, Trần Thị Huệ (Đồng chủ biên) (2017), tlđd (23), tr 239.

52 Trần Thị Thu Quỳnh, tlđd (11), truy cập ngày 10/5/2021.

53 Corbin, Arthur L., tlđd (24), p 755, truy cập ngày 10/5/2021.

54 Article 133.1 Japan Civil Code (1896),

http://www.moj.go.jp/content/000056024.pdf, truy cập ngày 10/5/2021.

55 Nguyễn Văn Cừ, Trần Thị Huệ (Đồng chủ biên) (2017), tlđd (23), tr 239.

Trang 31

Thứ tư, sự xuất hiện hay không xuất hiện của điều kiện phải mang tính

tự nhiên, khách quan.

Sự kiện mà các bên thỏa thuận làm điều kiện có thể là các hiện tượng tự nhiên,

có thể là các sự vật, sự việc phát sinh trong đời sống xã hội, cũng có thể là sự kiện phátsinh từ hành vi của con người Do đó, điều kiện do các bên thỏa thuận có thể mang tínhkhách quan, ví dụ: Công ty A và B ký kết hợp đồng dịch vụ du lịch, hai bên thỏa thuậnCông ty A sẽ tổ chức cho gia đình của B du lịch vào ngày 25, 26 tháng

12 năm 2021 nếu vào thời gian đó dịch Covid-19 đã chấm dứt hoàn toàn Điều kiệnđược các bên thỏa thuận cũng có thể mang tính chủ quan, ví dụ: C và D ký hợp đồng thuê nhà, hai bên thỏa thuận hợp đồng sẽ chấm dứt khi C sang Mỹ định cư

Tuy nhiên, sự xuất hiện hay không xuất hiện của điều kiện phải mang tính tựnhiên, khách quan Tính tự nhiên, khách quan ở đây không phải loại trừ sự hiện diệncủa con người để điều kiện được xảy ra, bởi vì sự kiện được chọn là điều kiện có thể làhành vi của con người Theo một tác giả: “Sự kiện được coi là điều kiện phải là sựkiện xảy ra một cách tự nhiên”56 Theo đó, tính khách quan, tự nhiên tức là sự xuất hiện

của điều kiện phải được diễn ra một cách tự nhiên như nó vốn có, không trái với bảnchất khách quan của chúng, hay điều kiện phải được thực hiện theo cách mà các bên đãthực sự mong muốn và thỏa thuận như vậy Trên thực tế, có nhiều trường hợp một bên

có động cơ không trong sáng hoặc một người thứ ba nào đó có thể liên quan

đến hợp đồng mà cố ý cản trở hoặc thúc đẩy điều kiện xảy ra Ví dụ: T và H ký hợpđồng mua bán máy móc, các bên thỏa thuận hợp đồng sẽ phát sinh nếu sau thời giandùng thử các máy móc đó phù hợp với dây chuyền sản xuất của T Tuy nhiên, trongthời gian dùng thử thì T biết được một nơi khác có bán máy móc như của H nhưngvới giá rẻ hơn Do đó, T đã điều chỉnh lại dây chuyền để các máy móc đó khôngphù hợp Khi đó, bởi vì T đã cản trở điều kiện xảy ra nên trường hợp này điều kiệnvẫn được xem là đã xảy ra

Tại Điều 1304-3 BLDS Pháp sửa đổi, bổ sung năm 2016 quy định: “Điều kiện phát sinh được coi là đã xảy ra nếu bên có lợi ích trong đó đã ngăn cản việc thực hiện điều kiện” 57 Tại Điều 130 BLDS Nhật Bản quy định: “Trong bất kỳ trường hợp nào, bên nào chịu thiệt hại do việc thực hiện điều kiện đã cố ý ngăn cản việc thực

56 Hoàng Thế Liên (2009), tlđd (44), tr 292.

57 Article 1304-3 French Civil Code (as amended and added up to February 10, 2016),

https://www.legifrance.gouv.fr/codes/id/LEGITEXT000006070721/#/, truy cập ngày 15/5/2021.

Trang 32

hiện điều kiện đó, thì bên còn lại có thể cho rằng điều kiện đó đã được đáp ứng” 58 BLDS Nga cũng nói về cản trở sự xuất hiện của điều kiện, “Nếu sự xuất hiện của điều kiện đã bị cản trở một cách thiếu thiện chí của bên mà không mong muốn điều kiện đó xảy ra, thì điều kiện nói trên sẽ được công nhận là đã xảy ra Nếu sự xuất hiện của điều kiện đã bị cản trở một cách thiếu thiện chí bởi bên mà mong muốn điều kiện đó xảy ra, thì điều kiện nói trên sẽ được công nhận là đã không xảy ra” 59

Vấn đề này cũng đã được ghi nhận tại khoản 2 Điều 120, khoản 2 Điều 284 BLDSnăm 2015

Có thể thấy, pháp luật nước ta cũng như pháp luật một số quốc gia khôngchấp nhận việc các bên tác động đến sự xuất hiện hay không xuất hiện một cách tựnhiên của điều kiện Cụ thể, khi có sự tác động để sự kiện xảy ra nhanh hay chậm,làm tiến triển hay ngăn chặn không cho sự kiện xảy ra thì cũng coi như điều kiện đó

đã xảy ra hoặc sự tác động để sự kiện đó xảy ra thì coi như sự kiện là điều kiện đókhông xảy ra Như vậy, khi điều kiện không đáp ứng yêu cầu này thì điều kiện vẫntồn tại, điều kiện không bị xem vô hiệu và hợp đồng vẫn có thể có phát sinh, thayđổi hay chấm dứt

Theo một tác giả: “Việc áp đặt điều kiện chỉ tỏ ra hợp lý khi một nội dungcủa điều kiện, tức là sự kiện được dự kiến sẽ phát sinh, phải là chuyện của tương lai,không chắc chắn, không tùy thuộc vào ý chí của bên có nghĩa vụ và nhất là khôngđược trái pháp luật”60 Như vậy, các yêu cầu pháp lý đối với điều kiện trong hợpđồng có điều kiện là vấn đề quan trọng để đánh giá tính hợp pháp của điều kiện, tuynhiên, pháp luật hiện hành chưa có quy định cụ thể về vấn đề này

1.3.4 Phân loại điều kiện trong hợp đồng có điều kiện

Điều kiện trong hợp đồng có điều kiện có thể được phân thành nhiều loại nhằmxác định đúng quyền và nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng, đồng thời định ra nhữngquy chế pháp lý riêng Pháp luật nước ngoài cũng phân điều kiện thành các loại khácnhau Theo BLDS Pháp, điều kiện bao gồm: điều kiện phát sinh nghĩa vụ, điều kiệnhủy bỏ nghĩa vụ61 Tương tự, BLDS Nhật Bản cũng chia điều kiện thành: điều kiện

58 Article 130 Japan Civil Code (1896),

http://www.moj.go.jp/content/000056024.pdf, truy cập ngày 15/5/2021.

59 Article 157.3 Civil code of Russian Federation (as amended up to December

8, 2011), https://www.wipo.int/edocs/lexdocs/laws/en/ru/ru083en.pdf, truy cập ngày

15/5/2021.

60 Nguyễn Ngọc Điện (2016), tlđd (46), tr 135.

61 Article 1304 French Civil Code (as amended and added up to February 10, 2016),

https://www.legifrance.gouv.fr/codes/id/LEGITEXT000006070721/#/, truy cập ngày 15/5/2021.

Trang 33

phát sinh, điều kiện hủy bỏ62 Về pháp luật Việt Nam, điều kiện trong hợp đồng cóđiều kiện là những sự kiện nhất định được các bên dự liệu để làm căn cứ làm phátsinh, thay đổi hay chấm dứt hợp đồng Theo đó, có thể phân loại điều kiện theo cáctiêu chí sau:

Căn cứ vào tính ý chí trong quan hệ hợp đồng, có thể chia điều kiện thànhđiều kiện là sự kiện phụ thuộc vào ý chí của con người và điều kiện là sự kiệnkhông phụ thuộc vào ý chí của con người

Căn cứ vào hình thức ghi nhận điều kiện, có thể chia điều kiện thành điềukiện minh thị hay điều kiện ngầm định

Căn cứ vào hệ quả pháp lý của điều kiện, có thể chia điều kiện thành điềukiện làm phát sinh, điều kiện làm thay đổi và điều kiện làm chấm dứt hợp đồng.Trong phạm vi khóa luận, tác giả sẽ phân tích điều kiện dựa vào căn cứ này, vì đâycũng là cách phân loại dựa theo quy định của BLDS hiện hành về hợp đồng có điềukiện và thể hiện rõ được bản chất của điều kiện

Thứ nhất, điều kiện làm phát sinh hợp đồng.

Điều kiện làm phát sinh hợp đồng có thể hiểu là khi điều kiện đó xảy ra, cácbên mới bắt đầu giao kết hợp đồng Nhưng cũng có thể hiểu điều kiện làm phát sinhhợp đồng là khi điều kiện đó xảy ra thì hợp đồng đó mới bắt đầu phát sinh hiệu lực.Tuy nhiên, theo khoản 6 Điều 402 BLDS năm 2015 thì hợp đồng của các bên đã tồntại còn điều kiện phát sinh làm cho hợp đồng đó được thực hiện, mà hợp đồng phải

có hiệu lực thì mới được thực hiện Do đó, điều kiện làm phát sinh hợp đồng lànhững điều kiện làm phát sinh hiệu lực của hợp đồng, tức là hợp đồng đã được giaokết nhưng vẫn chưa phát sinh hiệu lực, nếu điều kiện này xảy ra thì hợp đồng đãđược giao kết hợp lệ sẽ phát sinh hiệu lực “Ví dụ: A thỏa thuận tặng cho B một cănnhà, với điều kiện B phải chăm sóc A lúc tuổi già Ở đây, việc “B chăm sóc A lúctuổi già” là điều kiện làm phát sinh hiệu lực của hợp đồng tặng cho tài sản Sự kiệnnày hoàn toàn khác với các điều kiện có hiệu lực của hợp đồng, tức là khác với cácyêu cầu pháp lý để hợp đồng được coi là hợp pháp”63

Có thể thấy, điều kiện làm phát sinh hợp đồng gắn liền với sự phát sinh hiệu lựccủa hợp đồng Tuy nhiên, cần phân biệt điều kiện làm phát sinh hợp đồng với các điềukhoản quy định thời điểm phát sinh hiệu lực của hợp đồng Điều khoản quy định

62 Article 127, 131, 134 Japan Civil Code (1896),

http://www.moj.go.jp/content/000056024.pdf, truy cập ngày 15/5/2021.

63 Lê Minh Hùng (2010), tlđd (1), tr 93.

Trang 34

thời điểm phát sinh hiệu lực của hợp đồng là điều khoản xác định hợp đồng sẽ có hiệulực vào một thời điểm cụ thể, có thể là một mốc thời gian hoặc một mốc sự kiện chắcchắn sẽ xảy ra, khi đến thời điểm hoặc sự kiện đó xảy ra thì hợp đồng sẽ có hiệu lực Vídụ: A cung cấp dịch vụ tư vấn pháp lý cho B, các bên thỏa thuận trong hợp đồng là hợpđồng này có hiệu lực kể từ ngày ký hoặc có hiệu lực vào ngày 15/5/2021 Có thể thấy,đối với điều khoản này thì thời điểm có hiệu lực của hợp đồng chắc chắn sẽ phát sinhvào một thời điểm cụ thể Trong khi đó, điều kiện làm phát sinh hợp đồng phải thỏamãn các yêu cầu pháp lý, trong đó có yêu cầu điều kiện phải là sự kiện xảy ra trongtương lai và có tính ngẫu nhiên hoặc không chắc chắn, do đó, điều kiện phát sinh có thểxảy ra hoặc không xảy ra Nếu điều kiện này xảy ra sẽ làm hợp đồng phát sinh hiệu lực,ngược lại hợp đồng không phát sinh hiệu lực.

Thứ hai, điều kiện làm thay đổi hợp đồng

Điều kiện làm thay đổi hợp đồng là những điều kiện mà khi xảy ra thì hợp đồngthay đổi, tức là hợp đồng đã có hiệu lực, chưa được thực hiện hoặc đang được thực hiệnnhưng nay điều kiện xảy ra thì nội dung của hợp đồng thay đổi, các bên sẽ phải thựchiện hợp đồng theo nội dung mới đã được các bên dự liệu ban đầu Các bên có thể thayđổi các nội dung về giá cả, yêu cầu của công việc, thời hạn hợp đồng… Ví dụ: A và Bgiao kết hợp đồng thuê nhà với thời hạn thuê là 2 năm và giá thuê là 5 triệu đồng/tháng,đồng thời, hai bên còn thỏa thuận giá thuê nhà sẽ tăng thành 5,5 triệu đồng/tháng saukhi B sửa chữa, nâng cấp nhà Như vậy, sau khi hợp đồng có hiệu lực thì A sẽ trả tiềnthuê nhà là 5 triệu đồng/tháng Trong thời hạn thuê đó, nếu

B sửa chữa, nâng cấp nhà xong, tức là khi điều kiện đã xảy ra thì nội dung hợp đồng

sẽ thay đổi, tiền thuê nhà A phải trả là 5,5 triệu đồng/tháng

Điều kiện làm thay đổi hợp đồng có điểm tương đồng với điều khoản cho phépcác bên sửa đổi hợp đồng, cụ thể, cả hai đều là sự thỏa thuận của các bên để điều chỉnhmột phần nội dung hợp đồng đã được giao kết Tuy nhiên, điều khoản cho phép các bênsửa đổi hợp đồng thường chỉ là những trường hợp được các bên dự liệu để cùng nhauthỏa thuận lại hợp đồng, tức là các bên dự liệu những trường hợp mà các bên sẽ phảithỏa thuận lại hoặc đưa ra một số điều khoản mới phù hợp với lợi ích của các bên hơn.Đối với điều kiện làm thay đổi hợp đồng, ngoài đưa ra trường hợp làm thay đổi hợpđồng thì các bên có nêu rõ quyền và nghĩa vụ cụ thể của các bên trong những trườnghợp đó Như vậy, điều kiện làm thay đổi hợp đồng giúp các bên dự liệu được những sựkiện có thể xảy ra làm thay đổi ý chí ban đầu của các bên mà các bên

Trang 35

không cần phải sửa đổi hay bổ sung thêm các điều khoản, nội dung mới vào hợpđồng hay bổ sung phụ lục hợp đồng.

Thứ ba, điều kiện làm chấm dứt hợp đồng

Ngoài việc thỏa thuận điều kiện làm phát sinh hoặc làm thay đổi hợp đồngthì nguyên tắc tự do thỏa thuận cũng cho phép các bên thỏa thuận về điều kiện làmchấm dứt hợp đồng Điều kiện làm chấm dứt hợp đồng là những điều kiện mà khixảy ra thì hợp đồng chấm dứt, tức là hợp đồng đang tồn tại, đã có hiệu lực pháp luậtnhưng nay điều kiện xảy ra thì hợp đồng không còn giá trị nữa Theo đó, có thểhiểu, hợp đồng đã được xác lập, đã có hiệu lực pháp luật nhưng chưa được thựchiện hoặc đang được thực hiện thì điều kiện làm chấm dứt hợp đồng xảy ra nên hợpđồng bị chấm dứt Ví dụ: A và B cùng nhau kinh doanh nhà hàng, hai bên thỏathuận, hợp đồng hợp tác giữa hai bên phải chấm dứt nếu nhà hàng kinh doanhkhông có lợi nhuận trong 3 tháng liên tiếp

Khoản 6 Điều 402 BLDS năm 2015 là quy định cụ thể về hợp đồng có điềukiện, có quy định về điều kiện làm chấm dứt hợp đồng nhưng tại Điều 120 BLDSnăm 2015 là quy định chung về giao dịch có điều kiện lại có quy định về điều kiệnhủy bỏ giao dịch Chấm dứt và hủy bỏ hợp đồng không đồng nhất với nhau, theoĐiều 422 BLDS năm 2015 thì có nhiều căn cứ để chấm dứt hợp đồng, trong đó cócăn cứ hủy bỏ hợp đồng Hậu quả pháp lý của hủy bỏ và chấm dứt cũng khác nhau,hủy bỏ làm cho hợp đồng không có hiệu lực tại thời điểm giao kết, giữa các bên coinhư chưa tồn tại quan hệ hợp đồng và các bên phải hoàn trả cho nhau những gì đãnhận Còn chấm dứt được hiểu là dừng hiệu lực của hợp đồng, kể từ thời điếm chấmdứt các bên không phải thực hiện hợp đồng, những gì thực hiện trong thời giantrước đó vẫn có hiệu lực, các bên không phải hoàn trả cho nhau những gì đã nhận

Ví dụ về điểm khác biệt giữa chấm dứt và hủy bỏ hợp đồng là nếu hợp đồng thuênhà bị hủy bỏ thì tiền thuê nhà đã nhận phải được hoàn trả còn nếu hợp đồng thuênhà bị chấm dứt không dựa vào căn cứ hủy bỏ thì những gì đã diễn ra khi thực hiệnhợp đồng sẽ không bị ảnh hưởng, tiền thuê nhà trước đó không được hoàn trả

Ngoài ra, có quan điểm cho rằng còn có điều kiện thực hiện hợp đồng Theo đó,điều kiện thực hiện hợp đồng là những điều kiện khi xảy ra thì hợp đồng được thựchiện Khi điều kiện phát sinh xảy ra thì hợp đồng cũng được thực hiện, tuy nhiên, điềukiện phát sinh xảy ra thì thời điểm phát sinh hiệu lực với thời điểm thực hiện hợp đồng

có thể là một Còn đối với điều kiện thực hiện thì có quan điểm: “Nếu hợp đồng không

đủ điều kiện có hiệu lực thì chúng ta không áp dụng quy định liên quan

Trang 36

đến điều kiện thực hiện”64 Tức là, trường hợp thỏa thuận điều kiện thực hiện hợpđồng thì hợp đồng đã được giao kết và phát sinh hiệu lực nhưng còn chờ sự xuấthiện của điều kiện để được thực hiện Ví dụ: Ông L và bà T ký “Giấy vay tiền” củaông P và ký “Hợp đồng mua bán nhà ở và chuyển nhượng quyền sử dụng đất ở” choông P Trong “Giấy vay tiền”, ông L và bà T cam kết nếu đến thời hạn thanh toán

mà ông bà không thanh toán đủ số tiền gốc thì ông P có quyền đăng bộ sang tên cănnhà trong hợp đồng trên Cả hai văn bản trên đều được các bên tự nguyện thỏathuận, không trái đạo đức xã hội và hợp đồng đã được công chứng nên hợp đồng đã

có hiệu lực, nhưng hợp đồng chưa được thực hiện Sau đó, ông L và bà T không trảtiền đúng hạn, tức là điều kiện thực hiện hợp đồng đã xảy ra nên ông P tiến hành thủtục đăng bộ sang tên căn nhà (Bản án số: 294/2012/DS-ST ngày 25/9/2012 củaTAND TP Hồ Chí Minh)65

1.4 Hiệu lực của hợp đồng có điều kiện

Theo quy định của BLDS năm 2015, hợp đồng có hiệu lực khi đáp ứng cácđiều kiện sau:

Thứ nhất, chủ thể giao kết hợp đồng có năng lực pháp luật dân sự, năng lựchành vi dân sự phù hợp;

Thứ hai, chủ thể tham gia giao kết hợp đồng hoàn toàn tự nguyện;

Thứ ba, mục đích và nội dung của hợp đồng không vi phạm điều cấm củaluật, không trái đạo đức xã hội;

Thứ tư, trường hợp pháp luật có quy định về hình thức của hợp đồng thì hìnhthức của hợp đồng phải tuân theo các quy định đó

1.4.1 Xác định hiệu lực của hợp đồng có điều kiện

Hợp đồng có điều kiện là hợp đồng đã đáp ứng đầy đủ các đòi hỏi của luật đốivới một hợp đồng có giá trị pháp lý, điều kiện được đặt ra là những điều kiện để hợpđồng đó có hiệu lực (được thực hiện) hoặc không phát sinh hiệu lực (hủy bỏ/chấm dứt)

Do đó, “Để xác định hiệu lực của hợp đồng, vừa phải căn cứ vào bốn điều kiện có hiệulực của hợp đồng, vừa phải căn cứ vào tính hợp pháp của sự kiện là điều kiện

64 Đỗ Văn Đại (2017), Luật hợp đồng Việt Nam - Bản án và bình luận bản án (Tập 2) (Xuất bản lần thứ 6, có sửa đổi, bổ sung), Nxb Hồng Đức - Hội luật gia Việt Nam, tr 417.

65 Đỗ Văn Đại (2017), tlđd (64), tr 412-415.

Trang 37

của hợp đồng, vừa phải căn cứ vào tính thực tế của sự kiện là điều kiện của hợpđồng”66.

BLDS năm 2015 không có quy định cụ thể về tính hợp pháp và tính thực tế của

sự kiện là điều kiện của hợp đồng Theo nội dung đã được tác giả trình bày về các yêucầu pháp lý đối với điều kiện trong hợp đồng có điều kiện thì tính hợp pháp và thực tếcủa điều kiện có thể căn cứ vào yêu cầu thứ nhất và thứ ba Theo đó, sự kiện là điềukiện có nội dung vi phạm điều cấm của luật hoặc trái đạo đức xã hội hoặc không có khảnăng thực hiện/xảy ra sẽ không đáp ứng được tính hợp pháp và tính thực tế Do đó,trong mọi trường hợp, cho dù hợp đồng có thỏa mãn đầy đủ bốn điều kiện có hiệu lựctheo quy định của luật hay không thì hợp đồng cũng bị vô hiệu ngay từ thời điểm giaokết nếu điều kiện không đáp ứng tính hợp pháp và tính thực tế

Trường hợp điều kiện các bên thỏa thuận là hợp pháp thì phải căn cứ vào bốnđiều kiện có hiệu lực của hợp đồng để xác định hợp đồng có hiệu lực hay vô hiệu.Nếu hợp đồng vi phạm điều kiện có hiệu lực do luật quy định thì vẫn còn quan điểmkhác nhau Có quan điểm, hợp đồng vi phạm điều kiện có hiệu lực do luật quy địnhthì không đương nhiên bị vô hiệu trong mọi trường hợp:

Trường hợp 1: Nếu hợp đồng vi phạm điều kiện về chủ thể (điều kiện thứnhất và/hoặc điều kiện thứ hai) thì hợp đồng đó vô hiệu

Trường hợp 2: Nếu hợp đồng vi phạm điều kiện về nội dung và/hoặc hình thức(điều kiện thứ ba và/hoặc điều kiện thứ tư) nhưng sự kiện là điều kiện của hợp đồng docác bên thỏa thuận nhằm khắc phục việc vi phạm hai điều kiện trên thì hợp đồng vẫn cóhiệu lực, ngược lại, sự kiện là điều kiện không nhằm khắc phục việc vi phạm đó thì hợpđồng vô hiệu Ví dụ: A ký hợp đồng bán nhà cho B, B đã thanh toán tiền cho A, và cácbên đưa ra điều kiện, ngay sau khi A hoàn tất thủ tục mua bán hóa giá và được cấp giấychứng nhận quyền sử dụng nhà thì A và B tiến hành làm thủ tục mua bán nhà Theo đó,tại thời điểm giao kết hợp đồng, các bên có vi phạm điều kiện về nội dung vi phạm điềucấm và hình thức hợp đồng (do bên bán chưa là chủ sở hữu nhà và hợp đồng chưa đượccông chứng, chứng thực) nhưng do điều kiện nhằm khắc phục vi phạm nên khi điềukiện xảy ra, hợp đồng mua bán nhà đó phát sinh hiệu lực mà không bị vô hiệu67 Tuynhiên, theo tác giả, điều kiện các bên thỏa thuận là nhằm

66 Lê Minh Hùng (Chủ biên) (2019), Sách tình huống Pháp luật hợp đồng và bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, Nxb Hồng Đức - Hội Luật gia Việt Nam, tr 235.

67 Nguyễn Như Bích (2011), “Bàn về hiệu lực của hợp đồng có điều kiện”, Tạp chí Tòa án nhân dân, (19), tr 14-15.

Trang 38

khắc phục vi phạm nhưng điều kiện đó xảy ra chưa chắc chắn có thể khắc phụcđược hết vi phạm, hợp đồng vẫn còn vi phạm về điều kiện hình thức68.

Trường hợp 2 tương tự với nội dung Án lệ số 39/2020/AL về “Việc xác địnhgiao dịch dân sự có điều kiện vô hiệu do điều kiện không thể xảy ra”69 Án lệ ghinhận: Bà C1 đã giao vàng cho cụ C, hai bên xác lập giao dịch mua bán nhà khi cụ Cchưa được mua hóa giá nhà và hai bên thỏa thuận khi nào Nhà nước hóa giá nhà thì

cụ C sẽ chuyển quyền sở hữu căn nhà cho bà C1 Trường hợp này, phải xác địnhhợp đồng chuyển nhượng quyền sở hữu nhà là giao dịch dân sự có điều kiện Đồngthời, trong nội dung án lệ ghi nhận, khi nào cụ C được Nhà nước bán hóa giá nhà thìgiao dịch phát sinh hiệu lực

Một quan điểm khác, trường hợp này tồn tại hai hợp đồng là hợp đồng có điềukiện và hợp đồng kèm theo Từ thời điểm các bên thỏa thuận về điều kiện thì hợp đồng

có điều kiện đã tồn tại, nếu hợp đồng có điều kiện đã thỏa mãn các điều kiện có hiệulực thì hợp đồng này có hiệu lực Điều kiện xảy ra sẽ phát sinh nghĩa vụ mua bán Lúcnày hợp đồng kèm theo (hợp đồng mua bán) mới tồn tại và hợp đồng này sẽ chưa cóhiệu lực nếu chưa thỏa mãn điều kiện có hiệu lực theo quy định70

Tác giả đồng ý với quan điểm trên, vì thực chất sự thỏa thuận của A và B làhợp đồng hứa mua bán có điều kiện (hoặc hợp đồng đặt cọc có điều kiện) Hợpđồng này là hứa mua bán nên sẽ không vi phạm điều kiện có hiệu lực, do đó, hợpđồng có hiệu lực ngay tại thời điểm giao kết Khi điều kiện xảy ra, tức là A hoàn tấtthủ tục mua bán hóa giá và được cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà thì A phảithực hiện hợp đồng hứa mua bán với B, đó là ký hợp đồng mua bán nhà, nếu không

là A đã vi phạm hợp đồng hứa mua bán, khi đó hợp đồng mua bán nhà không phải

là hợp đồng có điều kiện

Tóm lại, để xác định hiệu lực của hợp đồng có điều kiện, ngoài việc phải căn cứvào các điều kiện có hiệu lực của hợp đồng, còn phải căn cứ vào tính hợp pháp của sựkiện là điều kiện của hợp đồng Song, khi xác định hợp đồng là có hiệu lực thì

68 Khoản 1 Điều 122 Luật Nhà ở 2014, khoản 2 Điều 17 Luật Kinh doanh bất động sản

2014, Điểm a, b khoản 3 Điều 167 Luật Đất đai 2013.

Trang 39

https://tapchitoaan.vn/bai-thời điểm có hiệu lực của hợp đồng là khi nào? Điều này sẽ được tác giả làm rõ ở nộidung tiếp theo.

1.4.2 Thời điểm có hiệu lực của hợp đồng có điều kiện

Việc xác định thời điểm có hiệu lực của hợp đồng rất quan trọng vì kể từ thờiđiểm hợp đồng có hiệu lực, các bên sẽ phải thực hiện quyền và nghĩa vụ đối vớinhau theo cam kết Theo khoản 1 Điều 401 BLDS năm 2015 thì hợp đồng được giaokết hợp pháp sẽ phát sinh hiệu lực và thời điểm có hiệu lực được xác định vào mộttrong ba thời điểm:

Thứ nhất, thời điểm giao kết hợp đồng

Khi các bên không có thỏa thuận và luật liên quan không có quy định khác,thì hợp đồng có hiệu lực vào thời điểm giao kết hợp đồng, thời điểm này thường làthời điểm các bên thỏa thuận xong nội dung của hợp đồng, tức là thời điểm bên đềnghị nhận được trả lời chấp nhận giao kết hợp đồng Thời điểm giao kết hợp đồngkhác nhau tùy thuộc vào thể thức bày tỏ ý chí ra bên ngoài, cụ thể:

Nếu hợp đồng được thỏa thuận bằng lời nói thì thời điểm giao kết hợp đồng

là thời điểm bên đề nghị nhận được trả lời chấp nhận của bên đề nghị;

Nếu hợp đồng được giao kết bằng văn bản thì thời điểm giao kết là thời điểmbên sau cùng ký vào văn bản;

Nếu hợp đồng giao kết bằng thư tín, qua bưu điện thì hợp đồng được giao kếtvào ngày bên đề nghị nhận được thư trả lời chấp nhận;

Nếu các bên có thỏa thuận hoặc pháp luật có quy định im lặng là đồng ý giaokết hợp đồng, thì hợp đồng được xem là đã giao kết tại thời điểm hết thời hạn trả lời

mà bên được để nghị vẫn im lặng

Thứ hai, thời điểm luật liên quan có quy định khác

Trong những trường hợp đặc thù, hợp đồng chưa có hiệu lực pháp lý vào thờiđiểm giao kết mà chỉ phát sinh hiệu lực tại thời điểm luật liên quan có quy định khác

Ví dụ các trường hợp quy định tại Điều 458, khoản 2 Điều 459, Điều 503 BLDS 2015

Thứ ba, thời điểm do các bên thỏa thuận

Về nguyên tắc, hợp đồng có hiệu lực tại thời điểm giao kết, nhưng pháp luật còncho phép các bên thỏa thuận thời điểm có hiệu lực của hợp đồng Khi các bên thỏathuận hợp đồng có hiệu lực vào một thời điểm cụ thể khác với thời điểm giao kết thìhợp đồng sẽ có hiệu lực vào thời điểm đó Ví dụ: A và B thỏa thuận rằng, hợp đồngtặng cho máy tính phát sinh hiệu lực vào thời điểm A mua được máy tính mới

Trang 40

Quy định về trường hợp này còn có nhiều quan điểm khác nhau Tuy nhiên,theo giáo trình trường Đại học Luật TP.HCM, thỏa thuận của các bên không đượctrái bản chất của hợp đồng, không được nhằm mục đích lẩn tránh pháp luật Các bênchỉ có thể thỏa thuận thời điểm có hiệu lực của hợp đồng kể từ sau thời điểm hợpđồng được giao kết Trường hợp thời điểm có hiệu lực của hợp đồng do luật liênquan quy định, thì các bên chỉ có thể thỏa thuận thời điểm có hiệu lực của hợp đồng

từ sau thời điểm hợp đồng phát sinh hiệu lực do pháp luật quy định, trừ trường hợp

vi phạm điều cấm của pháp luật71

Hợp đồng có điều kiện sẽ phát sinh hiệu lực trước khi điều kiện làm thay đổi

và điều kiện làm chấm dứt hợp đồng xảy ra Việc đưa ra hai loại điều kiện đó khôngảnh hưởng đến thời điểm phát sinh hiệu lực của hợp đồng vì hợp đồng đã có hiệulực thì các bên mới phải thực hiện theo nội dung thay đổi hoặc chấm dứt hiệu lực.Như vậy, đối với hợp đồng có điều kiện làm thay đổi và điều kiện làm chấm dứthợp đồng thì thời điểm có hiệu lực của hợp đồng được xác định như một hợp đồngthông thường là một trong ba thời điểm nêu trên

Đối với hợp đồng có điều kiện phát sinh thì theo quan điểm của nhiều chuyêngia, khi điều kiện phát sinh xảy ra thì hợp đồng mới phát sinh hiệu lực, cụ thể: “Hợpđồng với các sự kiện là điều kiện phát sinh là hợp đồng đã được giao kết nhưng còn

“chờ” điều kiện mới phát sinh hiệu lực, mới làm phát sinh hậu quả pháp lý”72.Tương tự, có quan điểm: “Trong trường hợp giao dịch dân sự có điều kiện phátsinh, việc xảy ra điều kiện đó sẽ làm phát sinh hiệu lực của giao dịch”73 Theo đó,

“Thời điểm hợp đồng có điều kiện phát sinh hiệu lực là thời điểm hợp đồng đó đãđược xác lập và điều kiện của hợp đồng đã xảy ra Thiếu một trong hai yếu tố trênthì hợp đồng chưa có hiệu lực”74 BLDS Pháp cũng có quy định: “Nghĩa vụ có hiệu lực kể từ khi thực hiện đầy đủ các điều kiện phát sinh”75 BLDS Nhật Bản có quy

định về thời điểm phát sinh hậu quả của điều kiện trong hợp đồng có điều kiện làthời điểm xảy ra điều kiện76

71 Trường Đại học Luật TP.HCM (2017), tlđd (3), tr 207.

72 Phạm Công Lạc (1998), tlđd (9), tr 29.

73 Hoàng Thế Liên (2009), tlđd (7), tr 292.

74 Lê Minh Hùng (2010), tlđd (1), tr 94.

75 Article 1304-6 French Civil Code (as amended and added up to February 10, 2016),

https://www.legifrance.gouv.fr/codes/id/LEGITEXT000006070721/#/, truy cập ngày 17/5/2021.

76 Viện Nghiên cứu Khoa học Pháp lý - Bộ Tư pháp (1995), tlđd (15), tr 179.

Ngày đăng: 08/03/2023, 11:27

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
9. Nguyễn Như Bích (2011), “Bàn về hiệu lực của hợp đồng có điều kiện”, Tạp chí Tòa án nhân dân, (19), tr. 12-20 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bàn về hiệu lực của hợp đồng có điều kiện”, "Tạp chí Tòa án nhân dân
Tác giả: Nguyễn Như Bích
Năm: 2011
10. Bộ luật dân sự và thương mại Thái Lan, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bộ luật dân sự và thương mại Thái Lan
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
11. Nguyễn Văn Cừ, Trần Thị Huệ (Đồng chủ biên) (2017), Bình luận khoa học Bộ luật dân sự năm 2015 của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Nxb.Công an nhân dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bình luận khoa học Bộluật dân sự năm 2015 của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Văn Cừ, Trần Thị Huệ (Đồng chủ biên)
Nhà XB: Nxb.Công an nhân dân
Năm: 2017
12. Đỗ Văn Đại (2017), Luật hợp đồng Việt Nam - Bản án và bình luận bản án (Tập 1) (Xuất bản lần thứ 6, có sửa đổi, bổ sung), Nxb. Hồng Đức - Hội luật gia Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật hợp đồng Việt Nam - Bản án và bình luận bản án (Tập1) (Xuất bản lần thứ 6, có sửa đổi, bổ sung)
Tác giả: Đỗ Văn Đại
Nhà XB: Nxb. Hồng Đức - Hội luật gia ViệtNam
Năm: 2017
13. Đỗ Văn Đại (2017), Luật hợp đồng Việt Nam - Bản án và bình luận bản án (Tập 2) (Xuất bản lần thứ 6, có sửa đổi, bổ sung), Nxb. Hồng Đức - Hội luật gia Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật hợp đồng Việt Nam - Bản án và bình luận bản án (Tập2) (Xuất bản lần thứ 6, có sửa đổi, bổ sung)
Tác giả: Đỗ Văn Đại
Nhà XB: Nxb. Hồng Đức - Hội luật gia ViệtNam
Năm: 2017
14. Nguyễn Ngọc Điện (2016), Giáo trình luật dân sự (Tập 1), Nxb. Đại học Quốc gia TP. HCM, TP. HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình luật dân sự (Tập 1)
Tác giả: Nguyễn Ngọc Điện
Nhà XB: Nxb. Đại học Quốc gia TP. HCM
Năm: 2016
15. Lê Thị Giang (2020), Hợp đồng tặng cho tài sản theo pháp luật Việt Nam - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn, Nxb. Tư pháp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hợp đồng tặng cho tài sản theo pháp luật Việt Nam - Mộtsố vấn đề lý luận và thực tiễn
Tác giả: Lê Thị Giang
Nhà XB: Nxb. Tư pháp
Năm: 2020
16. Lê Minh Hùng (2010), Hiệu lực của hợp đồng theo quy định của pháp luật Việt Nam, Luận án tiến sĩ, Trường Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hiệu lực của hợp đồng theo quy định của pháp luật Việt Nam
Tác giả: Lê Minh Hùng
Năm: 2010
17. Lê Minh Hùng (Chủ biên) (2019), Sách tình huống Pháp luật hợp đồng và bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, Nxb. Hồng Đức - Hội Luật gia Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sách tình huống Pháp luật hợp đồng và bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng
Tác giả: Lê Minh Hùng (Chủ biên)
Nhà XB: Nxb. Hồng Đức - Hội Luật gia Việt Nam
Năm: 2019
18. Phạm Công Lạc (1998), “Về “điều kiện” trong hợp đồng có điều kiện”, Tạp chí Luật học, (02), tr. 29-32 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về “điều kiện” trong hợp đồng có điều kiện”, "Tạp chí Luật học
Tác giả: Phạm Công Lạc
Năm: 1998
19. Nguyễn Lân (2004), Từ điển và từ ngữ Việt Nam, Nxb. TP.HCM, TP. Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển và từ ngữ Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Lân
Nhà XB: Nxb. TP.HCM
Năm: 2004
20. Hoàng Thế Liên (2009), Bình luận Khoa học Bộ luật dân sự năm 2005 (Tập 2), Nxb. Chính trị quốc gia - sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bình luận Khoa học Bộ luật dân sự năm 2005 (Tập 2)
Tác giả: Hoàng Thế Liên
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia - sự thật
Năm: 2009
21. Hoàng Thế Liên (2009), Bình luận Khoa học Bộ luật dân sự năm 2005 (Tập 1), Nxb. Chính trị quốc gia - sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bình luận Khoa học Bộ luật dân sự năm 2005 (Tập 1)
Tác giả: Hoàng Thế Liên
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia - sự thật
Năm: 2009
22. Tưởng Duy Lượng (2020), Pháp luật dân sự và thực tiễn xét xử (tái bản lần thứ sáu), Nxb. Chính trị quốc gia sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Pháp luật dân sự và thực tiễn xét xử (tái bản lần thứsáu)
Tác giả: Tưởng Duy Lượng
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia sự thật
Năm: 2020
23. Nhà pháp luật Việt - Pháp (2005), Bộ luật dân sự Pháp, Trương Quang Dũng dịch, Nxb. Tư pháp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bộ luật dân sự Pháp
Tác giả: Nhà pháp luật Việt - Pháp
Nhà XB: Nxb. Tư pháp
Năm: 2005
24. Hoàng Phê (2014), Từ điển tiếng Việt (tái bản lần thứ 6) , Nxb. Đà Nẵng, Đà Nẵng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển tiếng Việt (tái bản lần thứ 6)
Tác giả: Hoàng Phê
Nhà XB: Nxb. Đà Nẵng
Năm: 2014
25. Dương Anh Sơn (2013), “Những yêu cầu cần phải được đặt ra khi xây dựng chế định hợp đồng trong Bộ luật Dân sự”, Tạp chí Khoa học pháp lý, (02), tr. 48-53 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những yêu cầu cần phải được đặt ra khi xây dựng chếđịnh hợp đồng trong Bộ luật Dân sự”, "Tạp chí Khoa học pháp lý
Tác giả: Dương Anh Sơn
Năm: 2013
26. Trần Thị Như Trang (2014), Hợp đồng tặng cho tài sản có điều kiện theo quy định của pháp luật Việt Nam, Luận văn Thạc sĩ, Trường Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hợp đồng tặng cho tài sản có điều kiện theo quyđịnh của pháp luật Việt Nam
Tác giả: Trần Thị Như Trang
Năm: 2014
27. Trường Đại học Luật Hà Nội (2017), Giáo trình luật dân sự Việt Nam (tập 2), Nxb. Công an nhân dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình luật dân sự Việt Nam (tập 2)
Tác giả: Trường Đại học Luật Hà Nội
Nhà XB: Nxb. Công an nhân dân
Năm: 2017
28. Trường Đại học Luật Hà Nội (2014), Bộ luật Dân sự Đức - Chế định nghĩa vụ, Nxb. Lao động, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bộ luật Dân sự Đức - Chế định nghĩa vụ
Tác giả: Trường Đại học Luật Hà Nội
Nhà XB: Nxb. Lao động
Năm: 2014

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w