Có thể kể đến như việc xác định pháp luật có mối liên hệ gắn bó nhất đối với người để lại di sản là người không quốc tịch hoặc người có nhiều quốc tịch; vấn đề năng lực lập, thay đổi hoặ
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP.HCM
KHOA LUẬT QUỐC TẾ
-*** -
TRẦN THÀNH ĐẠT
MSSV: 1753801015024GIẢI QUYẾT XUNG ĐỘT PHÁP LUẬT VỀ THỪA KẾ CÓ YẾU TỐ NƯỚC NGOÀI THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM – KIẾN NGHỊ VÀ GIẢI PHÁP TỪ KINH NGHIỆM CỦA LIÊN MINH CHÂU ÂU
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP Niên khóa: 2017 – 2021
Người hướng dẫn:
TS PHAN HOÀI NAM
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH – NĂM 2021
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP.HCM
KHOA LUẬT QUỐC TẾ
-*** -
TRẦN THÀNH ĐẠT
MSSV: 1753801015024GIẢI QUYẾT XUNG ĐỘT PHÁP LUẬT VỀ THỪA KẾ CÓ YẾU TỐ NƯỚC NGOÀI THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM – KIẾN NGHỊ VÀ GIẢI PHÁP TỪ KINH NGHIỆM CỦA LIÊN MINH CHÂU ÂU
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP Niên khóa: 2017 – 2021
Người hướng dẫn:
TS PHAN HOÀI NAM
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH – NĂM 2021
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Khóa luận tốt nghiệp cử nhân luật này là công trình nghiên cứu của riêng tôi, được thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của Tiến sĩ Phan Hoài Nam Các nội dung và kết quả nghiên cứu trong đề tài là trung thực Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về lời cam đoan này
Tác giả Khóa luận
Trần Thành Đạt
Trang 4MỤC LỤC
LỜI NÓI ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT CHUNG VỀ XUNG ĐỘT PHÁP LUẬT VÀ GIẢI QUYẾT XUNG ĐỘT PHÁP LUẬT VỀ THỪA KẾ CÓ YẾU TỐ NƯỚC NGOÀI 13
1.1 Khái quát về quan hệ thừa kế có yếu tố nước ngoài 13
1.1.1 Khái niệm quan hệ thừa kế có yếu tố nước ngoài 13
1.1.2 Đặc điểm quan hệ thừa kế có yếu tố nước ngoài 15
1.1.3 Nguyên tắc giải quyết quan hệ thừa kế có yếu tố nước ngoài 16
1.2 Xung đột pháp luật và giải quyết xung đột pháp luật về thừa kế có yếu tố nước ngoài 19
1.2.1 Khái niệm xung đột pháp luật về thừa kế có yếu tố nước ngoài 19
1.2.2 Nguyên nhân xung đột pháp luật về thừa kế có yếu tố nước ngoài 19
1.2.3 Giải quyết xung đột pháp luật về thừa kế có yếu tố nước ngoài 21
1.2.3.1 Phương pháp giải quyết xung đột pháp luật về thừa kế có yếu tố nước ngoài 21
1.2.3.2 Áp dụng pháp luật nước ngoài giải quyết xung đột pháp luật về thừa kế có yếu tố nước ngoài 24
1.3 Giải quyết xung đột pháp luật về thừa kế có yếu tố nước ngoài theo pháp luật Việt Nam và Liên minh Châu Âu 28
1.3.1 Giải quyết xung đột pháp luật về thừa kế có yếu tố nước ngoài theo pháp luật Việt Nam 28
1.3.1.1 Nguyên tắc chung trong giải quyết xung đột pháp luật về thừa kế có yếu tố nước ngoài 28
1.3.1.2 Giải quyết xung đột pháp luật về thừa kế có yếu tố nước ngoài trong trường hợp có di chúc 30
1.3.2 Giải quyết xung đột pháp luật về thừa kế có yếu tố nước ngoài theo pháp luật Liên minh Châu Âu 33
Trang 51.3.2.1 Nguyên tắc chung trong giải quyết xung đột pháp luật về thừa kế có yếu tố
nước ngoài 351.3.2.2 Giải quyết xung đột pháp luật về thừa kế có yếu tố nước ngoài trong trường
hợp có di chúc 371.3.2.3 Giải quyết xung đột pháp luật về thừa kế có yếu tố nước ngoài trong trường
hợp người để lại di sản lựa chọn pháp luật 38
Kết luận Chương 1 42 CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ GIẢI QUYẾT XUNG ĐỘT PHÁP LUẬT VỀ THỪA KẾ CÓ YẾU TỐ NƯỚC NGOÀI – KIẾN NGHỊ VÀ GIẢI PHÁP TỪ KINH NGHIỆM LIÊN MINH CHÂU ÂU 44 2.1 Nguyên tắc chung trong việc giải quyết xung đột pháp luật về thừa kế có
yếu tố nước ngoài 44 2.2 Giải quyết xung đột pháp luật về thừa kế có yếu tố nước ngoài trong
trường hợp có di chúc 57 2.3 Giải quyết xung đột pháp luật về thừa kế có yếu tố nước ngoài trong
trường hợp người để lại di sản lựa chọn pháp luật 61 Kết luận Chương 2 76 PHẦN KẾT LUẬN 79 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 6DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT TRONG KHÓA LUẬN
the European Union
Tòa án Công lý của Liên minh Châu Âu
Trang 7LỜI NÓI ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong thời đại toàn cầu hóa, việc hội nhập quốc tế là xu hướng tất yếu đối với các quốc gia trên thế giới Việt Nam cũng không là ngoại lệ khi tập trung tăng cường quan hệ hợp tác đa lĩnh vực với các nước, vùng lãnh thổ, tham gia vào các tổ chức trong khu vực và quốc tế Từ đây đã dần hình thành nên con đường di cư của người Việt Nam sang nước ngoài và cả người nước ngoài đến Việt Nam với nhiều mục đích khác nhau như sinh sống, học tập, làm việc,…Các quan hệ dân sự có yếu
tố nước ngoài cũng từ đó mà phát sinh và xuất hiện ngày một phổ biến, trong đó bao gồm cả quan hệ thừa kế có yếu tố nước ngoài
Trên thực tế, quan hệ thừa kế có yếu tố nước ngoài phát triển ngày càng nhiều với tính chất ngày càng đa dạng và phức tạp Điều này xuất phát từ bản chất của thừa
kế vừa là một quan hệ tài sản vừa là một quan hệ nhân thân Đồng thời pháp luật điều chỉnh cho các vấn đề phát sinh không chỉ bao gồm pháp luật Việt Nam mà còn có sự tham gia của những hệ thống pháp luật khác Do đó đặt ra những yêu cầu từ phía pháp luật ở một mức độ đầy đủ, hoàn thiện để tạo ra một môi trường pháp lý mà quyền và lợi ích của các chủ thể tham gia được đảm bảo tốt nhất
Hiện tại, nhìn chung, Việt Nam đã có khung pháp lý điều chỉnh các vấn đề xoay quanh quan hệ thừa kế có yếu tố nước ngoài như thẩm quyền xét xử của tòa án quốc gia, xác định pháp luật áp dụng, công nhận và cho thi hành các quyết định nước ngoài Riêng đối với việc giải quyết XĐPL về thừa kế được quy định tại BLDS 2015, mặc dù đã có sự sửa đổi, bổ sung so với BLDS 2005 trước đây để phù hợp hơn với thực tiễn nhưng vẫn còn tồn tại một số điểm hạn chế có khả năng dẫn đến khó khăn trong quá trình áp dụng Có thể kể đến như việc xác định pháp luật có mối liên hệ gắn
bó nhất đối với người để lại di sản là người không quốc tịch hoặc người có nhiều quốc tịch; vấn đề năng lực lập, thay đổi hoặc hủy bỏ di chúc của người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi; hoặc hiểu như thế nào là “trái với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam” trong quá trình xem xét áp dụng pháp luật nước ngoài để giải quyết XĐPL về thừa kế (bảo lưu trật tự công cộng),…
Trang 8Thông qua quá trình tìm hiểu, so sánh với một số quy định về thừa kế có yếu
tố nước ngoài trên thế giới, tác giả nhận thấy tại EU có đưa một hệ thống các quy phạm pháp luật điều chỉnh quan hệ này Theo đó, EU chủ trương sử dụng một hệ thống pháp luật thống nhất để giải quyết vấn đề thừa kế; đưa ra yếu tố kết nối giữa người để lại di sản với quốc gia liên quan để lựa chọn pháp luật điều chỉnh; có đề cập một số cơ sở để tòa án xem xét áp dụng bảo lưu trật công cộng trong quan hệ thừa kế
có yếu tố nước ngoài Hơn nữa, pháp luật EU còn cho phép cá nhân người để lại di sản lựa chọn pháp luật để điều chỉnh vấn đề thừa kế, điều mà pháp luật Việt Nam hiện nay vẫn chưa thừa nhận
Từ những cơ sở trên, tác giả cho rằng pháp luật của EU có thể là một trong
hệ thống pháp luật phù hợp để nghiên cứu, đánh giá và lấy đó làm kinh nghiệm tham khảo có giá trị cho Việt Nam nhằm giải quyết các khó khăn mà pháp luật Việt Nam
đang gặp phải Và đó cũng chính là lý do tác giả chọn vấn đề “Giải quyết xung đột
pháp luật về thừa kế có yếu tố nước ngoài theo pháp luật Việt Nam – Kiến nghị
và giải pháp từ kinh nghiệm của Liên minh Châu Âu” làm đề tài Khóa luận tốt
nghiệp cử nhân luật của mình
2 Tổng quan tình hình nghiên cứu
2.1 Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam
Bên cạnh giáo trình của các cơ sở đào tạo luật như Trường Đại học Luật TP.HCM, Đại học Luật Hà Nội,… và các sách chuyên khảo về TPQT ở Việt Nam thì cũng có nhiều tác giả công bố các công trình nghiên cứu có liên quan đến TPQT nói chung và quan hệ thừa kế có yếu tố nước ngoài nói riêng; các công trình nghiên cứu
so sánh vấn đề thừa kế có yếu tố nước ngoài với pháp luật EU Trong khả năng tiếp cận của tác giả, có thể đề cập đến một số công trình sau:
2.1.1 Các công trình nghiên cứu về Tư pháp quốc tế nói chung và quan hệ thừa kế có yếu tố nước ngoài nói riêng
Luận án Tiến sĩ “Cơ sở lý luận và thực tiễn về hoàn thiện hệ thống quy phạm xung đột pháp luật ở Việt Nam” của tác giả Nguyễn Bá Chiến (Khoa Luật, Đại học quốc gia Hà Nội, bảo vệ năm 2008) Luận án phân tích các cơ sở lý luận cũng như
Trang 9thực trạng hệ thống quy phạm pháp luật xung đột ở Việt Nam Đồng thời, đưa ra một
số kinh nghiệm của nước ngoài trong việc ban hành và áp dụng các quy phạm pháp luật xung đột Tuy Luận án được thực hiện tại thời điểm BLDS 2005 đang có hiệu lực, nhưng những cơ sở lý luận cũng như giải pháp và phương hướng hoàn thiện hệ thống quy phạm pháp luật xung đột từ công trình vẫn còn mang tính thời sự và có giá trị tham khảo cho quá trình nghiên cứu của Khóa luận này
Đề tài Nghiên cứu khoa học cấp bộ “Nghiên cứu hoàn thiện hệ thống pháp luật Tư pháp quốc tế ở Việt Nam” do tác giả Lê Thị Nam Giang làm chủ nhiệm (nghiệm thu năm 2017) Đề tài nghiên cứu vấn đề lý luận và thực tiễn áp dụng của các quy định trong lĩnh vực TPQT tại Việt Nam Đồng thời tác giả kết hợp so sánh với pháp luật của EU và một số nước như Trung Quốc, Nhật Bản, Pháp, Bỉ,…nhằm
đề xuất giải pháp, kiến nghị hoàn thiện pháp luật Việt Nam Vì đề tài được nghiên cứu trong khoảng thời gian BLDS 2015 chưa được thông qua nên một số giải pháp không còn mang tính thời sự Tuy nhiên những cơ sở lý luận chung cũng như hướng giải pháp vẫn mang tính tham khảo cho Khóa luận để vận dụng vào quan hệ thừa kế
có yếu tố nước ngoài
Khóa luận tốt nghiệp cử nhân luật với đề tài “Thừa kế có yếu tố nước ngoài tại Việt Nam Một số vấn đề pháp lý phát sinh và hướng giải quyết” của tác giả Nguyễn Nữ Diễm Uyên (bảo vệ năm 2011 tại Trường Đại học Luật TP.HCM) đề cập đến vấn đề lý luận và thực tiễn xoay quanh hai nội dung chính là việc xác định thẩm quyền của Tòa án quốc gia đối với vụ việc thừa kế có yếu tố nước ngoài và áp dụng pháp luật giải quyết vụ việc đó Khóa luận này có nghiên cứu so sánh với quy định của một số quốc gia và quy định tại các điều ước quốc tế Từ đó, nội dung liên quan đến việc áp dụng pháp luật đã gợi mở cho tác giả nhằm nghiên cứu và phân tích chuyên sâu hơn trong Khóa luận này về XĐPL trong quan hệ thừa kế có yếu tố nước ngoài cũng như hướng giải quyết cho sự XĐPL đó
Bài viết “Nội dung Điều 695 Dự thảo Bộ luật Dân sự (sửa đổi) và đề xuất hoàn thiện” của tác giả Bành Quốc Tuấn, được đăng trên Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp số 23 (279), tháng 12/2014 Bài viết phân tích, đánh giá Điều 760 BLDS 2005
Trang 10có nội dung liên quan đến xác định pháp luật áp dụng đối với người không quốc tịch, người nước ngoài có hai hay nhiều quốc tịch Thông qua đó, tác giả chỉ ra những điểm bất cập để làm cơ sở cho việc hoàn thiện tại Điều 695 Dự thảo BLDS (sửa đổi) Đặc biệt là vấn đề về pháp luật có mối liên hệ gắn bó nhất sẽ được Khóa luận tiếp tục khai thác, phân tích trong quan hệ thừa kế có yếu tố nước ngoài
Bài viết “Đề xuất bổ sung quy phạm xung đột của Phần thứ năm Dự thảo Bộ luật Dân sự (sửa đổi)” của tác giả Bành Quốc Tuấn, được đăng trên Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp số 19 (299), tháng 10/2015 Bài viết trình bày những lĩnh vực quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài còn thiếu quy phạm xung đột điều chỉnh trong BLDS năm 2005, ví dụ như các quy định liên quan đến áp dụng pháp luật nước ngoài, giải thích các khái niệm pháp lý trong quá trình xác định pháp luật áp dụng, thiếu quy định cụ thể để đảm bảo quyền thỏa thuận chọn luật của các chủ thể cũng như điều kiện chọn luật trong quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài,…Từ đó, tác giả đề xuất các giải pháp, kiến nghị để hoàn thiện pháp luật Các cơ sở đánh giá, bình luận của bài viết này sẽ có giá trị tham khảo để Khóa luận tiếp tục khai thác những vấn đề mà chưa được hoàn thiện trong quy định của BLDS 2015 hiện hành
Bài viết “Quyền lựa chọn pháp luật trong Tư pháp quốc tế Việt Nam” của tác giả Đỗ Văn Đại được đăng trên Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp số 02+03 (234+235), tháng 1+2/2013 Trong bài viết, tác giả đã nêu ra thực trạng và hướng mở rộng quyền lựa chọn pháp luật trong TPQT Việt Nam Theo đó, xu hướng cho phép các bên chủ thể có quyền lựa chọn pháp luật áp dụng không chỉ nên bó hẹp trong lĩnh vực hợp đồng (theo BLDS 2005) mà nên được mở rộng ở các quan hệ có yếu tố nước ngoài khác như: bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, ly hôn, thừa kế…Thông qua việc phân tích ưu điểm và nhược điểm, cũng như so sánh với kinh nghiệm của một số quốc gia
đã có sự ghi nhận cơ chế này trong TPQT, tác giả đã đề xuất các giải pháp và kiến nghị theo hướng pháp luật Việt Nam nên ghi nhận quyền lựa chọn pháp luật áp dụng của các bên chủ thể trong một giới hạn nhất định Mặc dù cho đến thời điểm hiện tại thì BLDS 2015 vẫn chưa có sự công nhận điều này ở nhiều quan hệ dân sự có yếu tố
Trang 11nước ngoài, đặc biệt là quan hệ thừa kế, nhưng chính bài viết đã gợi mở để vấn đề này tiếp tục nghiên cứu và phát triển trong Khóa luận
Bài viết “Pháp luật áp dụng cho quan hệ thừa kế có yếu tố nước ngoài theo
Bộ luật Dân sự 2005” của tác giả Bành Quốc Tuấn, được đăng trên Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp số 14 (222)/Kỳ 2, tháng 7/2012 Bài viết đã phân tích các quy định liên quan tại BLDS 2005, đồng thời đưa ra các vấn đề cụ thể có khả năng phát sinh trong thực tiễn để làm rõ các hạn chế trong pháp luật Việt Nam tại thời điểm thực hiện nghiên cứu Thông qua đó tác giả đã đưa ra những góp ý, kiến nghị sửa đổi để có thể
mở ra nhiều cơ hội áp dụng cho pháp luật Việt Nam trong quan hệ thừa kế có yếu tố nước ngoài Trong bài viết, một số quy định của các hệ thống pháp luật trên thế giới cũng được nhắc đến nhằm mở rộng vấn đề nhưng chỉ dừng lại ở mức độ đề cập nên trong Khóa luận này, một số quy định pháp luật nước ngoài sẽ được khai thác ở mức
độ chi tiết, chuyên sâu hơn
Bài viết “Xác định pháp luật áp dụng đối với quan hệ thừa kế có yếu tố nước ngoài theo pháp luật Việt Nam” của tác giả Trần Minh Ngọc được đăng trên Tạp chí Luật học số 9/2018 Bài viết phân tích, đánh giá quy định tại Điều 680 và Điều 681 BLDS 2015 nhằm tìm ra những điểm mới so với BLDS 2005 Ngoài ra, tác giả kết hợp phân tích có so sánh với quy định của một số quốc gia làm bật lên ưu điểm và hạn chế của pháp luật Việt Nam trong việc điều chỉnh quan hệ này Trên cơ sở đó bài viết đưa ra kiến nghị hoàn thiện về xác định pháp luật áp dụng đối với quan hệ thừa
kế có yếu tố nước ngoài Vì bài viết được thực hiện vào thời điểm BLDS 2015 đang
có hiệu lực nên những bình luận, đánh giá của tác giả mang tính thời sự, có giá trị tham khảo cao để Khóa luận kế thừa và phát triển
Nhìn chung từ những công trình nghiên cứu này, các tác giả đều đưa ra được các vấn đề lý luận và thực tiễn áp dụng các quy định pháp luật trong lĩnh vực TPQT nói chung và quan hệ thừa kế có yếu tố nước ngoài nói riêng Thông qua đó, các công trình đã chỉ ra được các vấn đề bất cập trong quy định pháp luật Việt Nam và đề xuất các giải pháp thiết thực cũng như kiến nghị sửa đổi, bổ sung nhằm hướng đến mục tiêu hoàn thiện hệ thống pháp luật cho TPQT tại Việt Nam
Trang 122.1.2 Các công trình nghiên cứu pháp luật Liên minh Châu Âu, nghiên cứu so sánh giữa pháp luật Liên minh Châu Âu và Việt Nam về thừa kế có yếu tố nước ngoài
Đề tài Nghiên cứu khoa học cấp trường của sinh viên Trường Đại học Luật TP.HCM “Nghiên cứu pháp luật Liên minh Châu Âu: Cơ sở hoàn thiện các quy phạm xung đột về thừa kế theo pháp luật Việt Nam” (do tác giả Châu Mai Hoàng Uyển và Nguyễn Thị Thảo Trang thực hiện, nghiệm thu 2014) đã phân tích các quy định pháp luật của EU điều chỉnh quan hệ thừa kế có yếu tố nước ngoài để từ đó nghiên cứu so sánh với các quy định pháp luật hiện hành của Việt Nam và đề ra hướng hoàn thiện, sửa đổi một số quy định của Việt Nam Cụ thể, nhóm tác giả có kiến nghị bổ sung việc mở rộng hệ thống pháp luật điều chỉnh hình thức di chúc, sự đóng góp của kiến nghị này đến thời điểm hiện tại đã được ghi nhận tại khoản 2 Điều 681 BLDS 2015 Hay nhóm tác giả đã kiến nghị pháp luật Việt Nam nên cho phép người để lại di sản thừa kế có quyền lựa chọn luật áp dụng Tuy nhiên quan điểm này đến nay vẫn chưa được pháp luật Việt Nam ghi nhận bởi lẽ còn tồn tại các quan điểm trái chiều Do đó những kết quả từ công trình nghiên cứu này sẽ được tác giả khai thác chuyên sâu, chi tiết hơn trong Khóa luận
Bài viết “Giải quyết xung đột pháp luật về thừa kế theo pháp luật Liên minh Châu Âu và pháp luật Việt Nam” của nhóm tác giả gồm Lê Thị Nam Giang, Ngô Kim Hoàng Nguyên và Nguyễn Lê Hoài, trích Tài liệu hội thảo “Quyền công dân trong các quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài trong pháp luật của Liên minh Châu Âu” (Citizen rights in international civil relationships within European Union Law), Trường Đại học Luật TP.HCM (2013) Bài viết đã phân tích các nguyên tắc chung, các quy định điều chỉnh riêng trong trường hợp có di chúc và sự lựa chọn pháp luật
áp dụng của người để lại di sản trong quan hệ thừa kế có yếu tố nước ngoài theo pháp luật EU Đồng thời, nhóm tác giả có nghiên cứu so sánh với pháp luật Việt Nam tại thời điểm đó để đưa ra đánh giá về những tiến bộ và hạn chế trong hai hệ thống pháp luật này, làm cơ sở đề xuất các giải pháp và kiến nghị hoàn thiện cho pháp luật Việt Nam Mặc dù tại thời điểm thực hiện nghiên cứu, nhóm tác giả sử dụng BLDS 2005
Trang 13nhưng các vấn đề lý luận có thể không thay đổi quá nhiều về mặt bản chất, đó là điều
mà Khóa luận này sẽ kế thừa và phát triển cũng như cập nhật thêm để phù hợp với quy định hiện hành
Bài viết “Bảo vệ quyền công dân trong Tư pháp quốc tế của Liên minh Châu
Âu và Việt Nam” của nhóm tác giả gồm Lê Thị Nam Giang, Phùng Hồng Thanh, trích Tài liệu hội thảo “Quyền công dân trong các quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài trong pháp luật của Liên minh Châu Âu” (Citizen rights in international civil relationships within European Union Law), Trường Đại học Luật TP.HCM (2013) Bài viết nêu ra các khía cạnh bảo vệ công dân thông qua việc phân tích có so sánh một số quy định nổi bật của hệ thống pháp luật EU (gồm Nghị định Rome I, Nghị định Rome II, Nghị định Rome III và Nghị định Brussels IV) với quy định pháp luật Việt Nam Từ đó bài viết đưa ra một số kinh nghiệm cho Việt Nam tại các lĩnh vực hợp đồng, ngoài hợp đồng, hôn nhân gia đình và thừa kế có yếu tố nước ngoài thông qua hai nội dung chính: Một là tôn trọng và mở rộng tối đa quyền tự do định đoạt của các bên chủ thể; Hai là bảo vệ các bên yếu thế hơn trong việc xây dựng quy phạm xung đột Bài viết đã gợi ý cho Khóa luận tiếp tục nghiên cứu, khai thác vấn đề theo hướng tôn trọng hơn quyền tự định đoạt tài sản của người để lại di sản và nâng cao
sự bảo vệ quyền và lợi ích cho người thừa kế, đặc biệt là trẻ em
Phân tích tình hình nghiên cứu ở Việt Nam cho thấy liên quan đến vấn đề về thừa kế có yếu tố nước ngoài đã được nhiều tác giả nghiên cứu, đặc biệt là trong giai đoạn BLDS 2005 có hiệu lực vì đây là lần đầu tiên BLDS có điều khoản riêng quy định cho quan hệ thừa kế có yếu tố nước ngoài Ở thời điểm hiện tại, khi BLDS 2015
có hiệu lực, các quy định áp dụng cho quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài nói chung
và thừa kế có yếu tố nước ngoài nói riêng đã được thay đổi, bổ sung để phù hợp với bối cảnh xã hội Tuy nhiên, một số vấn đề liên quan đến quan hệ thừa kế có yếu tố nước ngoài vẫn cần được tiếp tục khai thác, nghiên cứu để đáp ứng nhu cầu của thực tiễn cũng như xu hướng chung của thế giới
2.2 Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài
Trang 14Các công trình nghiên cứu về Tư pháp quốc tế nói chung và quan hệ thừa kế có yếu tố nước ngoài nói riêng tại Liên minh Châu Âu và một số quốc gia thành viên
Công trình nghiên cứu “Guide on international private law in successions matters” (tiếng Việt: Hướng dẫn về Tư pháp quốc tế trong các vấn đề thừa kế) của tác giả Dan Andrei Popescu thực hiện trong Dự án “Cải thiện hợp tác giữa thẩm phán
và công chứng viên trong các vấn đề dân sự có yếu tố nước ngoài” (2014) Tác giả tập trung chủ yếu vào vấn đề lý luận trong thừa kế có yếu tố nước ngoài, phân tích, đánh giá thông qua các quy định liên quan của EU Bên cạnh các nội dung về thẩm quyền xét xử của tòa án quốc gia, việc công nhận và cho thi hành, thì tác giả làm rõ nội dung về giải quyết XĐPL trong thừa kế có yếu tố nước ngoài bằng cách đưa ra các nguyên tắc chung trong TPQT Đồng thời tác giả đưa ra những vụ việc thực tiễn liên quan đến XĐPL nhằm nhấn mạnh sự đa dạng và phức tạp của quan hệ này, làm bật lên những vấn đề mà pháp luật cũng như phần lý luận chưa thể bao quát hết Điều này có giá trị tham khảo rất lớn cho Khóa luận để từ đó đưa ra dự đoán những vấn đề
có thể phát sinh trên thực tế cho Việt Nam
Luận án Tiến sĩ “Quyền trẻ em trong Tư pháp quốc tế” của tác giả Eimear Long (Đại học Dublin, bảo vệ năm 2008) Từ việc đưa ra các cơ sở về quyền trẻ em được ghi nhận tại các văn bản quốc tế phổ biến, Luận án tập trung phân tích quyền trẻ em gắn với các nội dung lớn của TPQT: thẩm quyền xét xử, lựa chọn pháp luật áp dụng, công nhận và cho thi hành quyết định của cơ quan có thẩm quyền nước ngoài Mục đích của tác giả hướng đến là đảm bảo quyền lợi tốt nhất của trẻ em xuyên suốt quá trình giải quyết vụ việc, đồng thời nhấn mạnh TPQT cần lắng nghe nhiều hơn đối với trẻ em Mặc dù nghiên cứu chủ yếu dựa trên TPQT của Ireland nhưng những cơ
sở này vẫn có giá trị tham khảo cho Khóa luận để vấn đề bảo vệ trẻ em được lồng ghép trong việc giải quyết XĐPL về thừa kế có yếu tố nước ngoài
Bài viết “Một số vấn đề thực tiễn về quan hệ thừa kế trong Tư pháp quốc tế” của tác giả Gerald Goldstein, được đăng trên Kỷ yếu hội thảo “Quelques aspects pratiques du droit international privé des personnes, de la famille et des biens” được
Trang 15tổ chức ngày 25-27/05/2005, Hà Nội Trong bài viết, tác giả tập trung phân tích nhược điểm cho hai trường hợp: áp dụng nhiều hệ thống pháp luật và áp dụng một hệ thống pháp luật thống nhất cho quan hệ thừa kế có yếu tố nước ngoài Tác giả đưa ra lập luận để lý giải nguyên nhân cho các trường hợp áp dụng và đề xuất một số giải pháp giúp các bên chủ thể tham gia vào quan hệ đạt được mục đích hiệu quả hơn
ưu-Nhóm các bài viết: “General Private International Law Institutes in the EU Succession Regulation – Some Remarks” (tiếng Việt: Các quy tắc Tư pháp quốc tế chung trong Nghị định về thừa kế của Liên minh Châu Âu” của tác giả Andreas Köhler; “The Boundaries of the law applicable to succession” (tiếng Việt: Các giới hạn của luật áp dụng cho vấn đề thừa kế) của tác giả Dennis Solomon; và “The Choice
of the law applicable to the succession under Regulation 650/2012 – An outline” (tiếng việt: Việc lựa chọn pháp luật áp dụng cho vấn đề thừa kế tại Nghị định 650/2012 – Bản phác thảo) của tác giả Evangelos Vassilakakis Nhóm bài viết được đăng trong kỷ yếu Hội thảo Tư pháp quốc tế khu vực lần thứ 12 “Private International Law on Stage – National, European and International Perspective” của Khoa Luật Trường Đại học Zenica (2016) Nhóm bài viết phân tích một số vấn đề liên quan đến nguyên tắc một chế định thừa kế dùng để điều chỉnh toàn bộ di sản, di sản không người thừa kế, các quy tắc dẫn chiếu (renvoi) Đặc biệt có hai vấn đề được tập trung khai thác, liên quan đến người để lại di sản chọn luật điều chỉnh và quy định liên quan đến trật tự công (việc chọn luật tạo ra sự phân biệt đối xử hoặc ảnh hưởng đến quyền được hưởng di sản bắt buộc của người thừa kế) Từ những cơ sở này sẽ được tác giả tham khảo và đúc kết kinh nghiệm cho quy định Việt Nam
Bài viết “The Public Policy (Ordre Public) Rule of The EU Succession Regulation and The Hungarian Inheritance Law” (tiếng Việt: Quy định về Chính sách công (Trật tự công) tại Nghị định về Thừa kế của Liên minh Châu Âu và tại Luật Thừa kế của Hungary) của tác giả Csöndes Mónika, được đăng trong kỷ yếu Hội thảo Khoa học Quốc tế “EU and Comparative Law Issues and Challenges Series Issue (ECLIC)”, số thứ 3 có tên “EU and Member States – Legal and Economic Issues” của Khoa Luật Trường Đại học Osijek (2019) Bài viết tập trung phân tích, đánh giá
Trang 16các cơ sở để cơ quan có thẩm quyền áp dụng trật tự công theo quy định của Nghị định Brussels IV và một số quy định của pháp luật Hungary, trong đó có hai cơ sở được tập trung nghiên cứu là vấn đề phân biệt đối xử và phần di sản bắt buộc Điều này đã gợi mở cho Khóa luận việc nghiên cứu đối với pháp luật Việt Nam, đặc biệt là khi BLDS 2015 vẫn chưa có nhiều quy định liên quan về nội dung này
Như vậy, có thể thấy, vấn đề giải quyết XĐPL về thừa kế có yếu tố nước ngoài là vấn đề đang ngày càng có nhiều nhà khoa học quan tâm nghiên cứu Mục đích chung của các nghiên cứu là cố gắng nêu ra được những hướng giải quyết hoàn thiện nhất có thể, vừa phù hợp với bối cảnh xã hội, văn hóa của quốc gia, khu vực, vừa đảm bảo tốt nhất quyền và lợi ích của các chủ thể tham gia trong quan hệ này
3 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở luận giải để làm rõ những vấn đề lý luận và thực tiễn pháp luật Việt Nam về XĐPL trong quan hệ thừa kế có yếu tố nước ngoài và trên cơ sở đúc kết kinh nghiệm từ EU cũng như một số nước thành viên, Khóa luận sẽ đánh giá, phân tích để chỉ ra những bất cập, khó khăn, vướng mắc và luận giải để hoàn thiện pháp luật về giải quyết XĐPL trong quan hệ thừa kế có yếu tố nước ngoài, nhằm đáp ứng yêu cầu của Việt Nam trong tiến trình mở cửa và hội nhập quốc tế hiện nay Trong
đó, nhấn mạnh đến vấn đề nâng cao khả năng bảo hộ đối với trẻ em trong quan hệ đặc thù này
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Giải quyết XĐPL về thừa kế có yếu tố nước ngoài là một vấn đề phức tạp và
có thể được nghiên cứu dưới nhiều góc độ và cách tiếp cận khác nhau Trong khuôn khổ đề tài, đối tượng nghiên cứu của Khóa luận là những vấn đề lý luận, các quy định pháp luật và thực tiễn áp dụng các quy định của pháp luật liên quan đến việc giải quyết xung đột về thừa kế có yếu tố nước ngoài
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi về nội dung: Khóa luận nghiên cứu, khai thác những vấn đề lý luận
cơ bản về quan hệ thừa kế có yếu tố nước ngoài cũng như hiện tượng XĐPL và giải
Trang 17quyết XĐPL trong quan hệ thừa kế có yếu tố nước ngoài Bên cạnh đó, Khóa luận sẽ trình bày thực trạng pháp luật Việt Nam đối với việc giải quyết xung đột trong quan
hệ thừa kế có yếu tố nước ngoài để làm cơ sở đưa ra giải pháp, kiến nghị phù hợp
Phạm vi về không gian: Khóa luận nghiên cứu pháp luật và thực tiễn giải quyết XĐPL trong quan hệ thừa kế có yếu tố nước ngoài của Việt Nam cũng như EU
và một số quốc gia thành viên Việc lựa chọn pháp luật EU và một số quốc gia thành viên xuất phát từ lý do: EU là một tiêu biểu cho truyền thống Dân luật (Civil Law) Trong hệ thống pháp luật Việt Nam nói chung và các nguyên tắc TPQT Việt Nam nói riêng đa phần tiếp thu kinh nghiệm cũng như chịu sự ảnh hưởng nhất định từ những những quốc gia theo truyền thống pháp luật này Từ những nỗ lực cho chủ trương pháp điển hóa, nhất thể hóa pháp luật của các quốc gia thành viên, EU đã đưa ra một
hệ thống pháp luật chung tiến bộ và hiện đại ở nhiều lĩnh vực khác nhau, trong đó có riêng một đạo luật dùng để điều chỉnh quan hệ thừa kế có yếu tố nước ngoài Vì vậy, việc tham khảo, tiếp thu và học tập pháp luật EU sẽ mang lại nhiều kinh nghiệm cho Việt Nam trong quá trình hoàn thiện pháp luật trong lĩnh vực đặc thù này
Phạm vi về thời gian: Đối với quy định pháp luật Việt Nam được nghiên cứu vào thời điểm BLDS 2015 hiện hành đang có hiệu lực, ngoài ra vẫn có so sánh đối chiếu với quy định tại thời điểm BLDS 2005 trước đây Đối với quy định pháp luật
EU được nghiên cứu từ thời điểm Nghị định Brussels IV được ban hành chính thức vào ngày 17 tháng 08 năm 2012 cho đến thời điểm hiện tại thực hiện Khóa luận này
5 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp phân tích: là phương pháp được sử dụng để đưa ra những nhận xét, đánh giá các vấn đề liên quan đến nội dung của Khóa luận Phương pháp này được sử dụng trong toàn bộ Khóa luận Khi áp dụng phương pháp này, tác giả tập trung phân tích những quy định pháp luật Việt Nam thuộc phạm vi nghiên cứu những vấn đề lý luận như khái niệm, đặc điểm về quan hệ thừa kế có yếu tố nước ngoài, về XĐPL và giải quyết XĐPL trong quan hệ thừa kế có yếu tố nước ngoài tại mục 1.1
và 1.2 của Chương 1; phân tích các quy định các quy định cụ thể của Việt Nam, EU
Trang 18và một số quốc gia thành viên đối với việc giải quyết XĐPL trong quan hệ thừa kế
có yếu tố nước ngoài tại mục 1.3 của Chương 1 và tại Chương 2 của Khóa luận
Phương pháp so sánh: là phương pháp được sử dụng trong quá trình phân tích, nhằm đặt các quy định pháp luật Việt Nam trong mối tương quan với pháp luật
EU để tìm ra được điểm tương đồng và khác biệt Phương pháp này được sử dụng chủ yếu ở Chương 2 của Khóa luận Theo đó, tác giả phân tích có so sánh quy định của Việt Nam và EU cũng như một số quốc gia thành viên, để làm bật lên những điểm tương đồng và khác biệt, lý giải cho sự tương đồng và khác biệt đó Đồng thời đánh giá được ưu điểm và hạn chế trong quy định của EU làm cơ sở cho việc tìm ra những giải pháp phù hợp với điều kiện Việt Nam đối với các vấn đề đang gặp phải
Phương pháp tổng hợp: là phương pháp được sử dụng để xâu chuỗi, liên kết các vấn đề được phân tích trong đề tài Phương pháp này được sử dụng trong toàn bộ Khóa luận Cụ thể phương pháp được sử dụng nhằm tổng hợp các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước; hệ thống các vấn đề lý luận, các quy định pháp luật liên quan đến giải quyết XĐPL trong quan hệ thừa kế có yếu tố nước ngoài tại Chương 1 Đồng thời Khóa luận cũng hệ thống một số vấn đề nổi bật cần tập trung nghiên cứu trong quy định pháp luật Việt Nam và EU
6 Kết cấu của Khóa luận
Ngoài Lời nói đầu, Phần kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của Khóa luận gồm 2 chương:
Chương 1 Khái quát chung về xung đột pháp luật và giải quyết xung đột pháp luật về thừa kế có yếu tố nước ngoài
Chương 2 Thực trạng pháp luật Việt Nam về giải quyết xung đột pháp luật
về thừa kế có yếu tố nước ngoài – kiến nghị và giải pháp từ kinh nghiệm Liên minh Châu Âu
Trang 19CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT CHUNG VỀ XUNG ĐỘT PHÁP LUẬT VÀ GIẢI QUYẾT XUNG ĐỘT PHÁP LUẬT VỀ THỪA KẾ CÓ YẾU TỐ NƯỚC NGOÀI 1.1 Khái quát về quan hệ thừa kế có yếu tố nước ngoài
1.1.1 Khái niệm quan hệ thừa kế có yếu tố nước ngoài
Pháp luật về thừa kế là một trong những chế định pháp lý quan trọng trong lĩnh vực dân sự, là tổng hợp các quy phạm pháp luật điều chỉnh việc dịch chuyển tài sản của người chết cho người khác theo di chúc hoặc theo một trình tự nhất định, đồng thời quy định phạm vi quyền, nghĩa vụ và phương thức bảo vệ các quyền của người thừa kế1 Tuy nhiên, trong bối cảnh hội nhập toàn cầu, việc xuất hiện các yếu
tố nước ngoài trong các quan hệ dân sự là điều tất yếu2, quan hệ thừa kế cũng không
là ngoại lệ Lúc này, đặt ra thêm các yêu cầu mới từ quy định pháp luật để kịp thời điều chỉnh cho quan hệ thừa kế có yếu tố nước ngoài Để làm được điều đó, việc nắm bắt các khái niệm, đặc điểm liên quan là cần thiết để có sự điều chỉnh phù hợp
Cho đến hiện nay, tuy pháp luật không có một định nghĩa riêng biệt nhưng bởi vì thừa kế mang bản chất là một quan hệ dân sự nên việc tiếp cận khái niệm về quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài là căn cứ để xác định thế nào là quan hệ thừa kế
có yếu tố nước ngoài
Lần đầu tiên khái niệm về quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài được ghi nhận tại Điều 826 BLDS 1995 và từ đó quan hệ thừa kế có yếu tố nước ngoài được hiểu là các quan hệ thừa kế có người nước ngoài, pháp nhân nước ngoài tham gia hoặc căn cứ để xác lập, thay đổi, chấm dứt quan hệ đó phát sinh ở nước ngoài hoặc tài sản liên quan đến quan hệ đó ở nước ngoài
Sau đó, BLDS 2005 tiếp tục ghi nhận, sửa đổi, bổ sung tại Điều 758, trên tinh thần đó, quan hệ thừa kế có yếu tố nước ngoài là quan hệ thừa kế có ít nhất một trong các bên tham gia là cơ quan, tổ chức, cá nhân nước ngoài, người Việt Nam định cư ở
1 Đoàn Thị Ngọc Hải (2019), Chế định quyền thừa kế trong pháp luật dân sự Việt Nam Nguồn: https://phapluattoandan.com/tin-tuc/che-dinh-quyen-thua-ke-trong-phap-luat-dan-su-viet-nam/ (truy cập ngày 01/06/2021)
Việt Nam, Luận án Tiến sĩ, Đại học quốc gia Hà Nội, tr.88
Trang 20nước ngoài hoặc là các quan hệ thừa kế giữa các bên tham gia là công dân, tổ chức Việt Nam nhưng căn cứ để xác lập, thay đổi, chấm dứt quan hệ đó theo pháp luật nước ngoài, phát sinh tại nước ngoài hoặc tài sản liên quan đến quan hệ đó ở nước ngoài Tại quy định của BLDS 2005 đã có sự ghi nhận thêm về mặt chủ thể đối với người người Việt Nam định cư ở nước ngoài Điều này được xem là hợp lý khi xét đến thực tiễn tại thời điểm đó, bởi việc công dân Việt Nam ở nước ngoài sẽ phát sinh gắn bó về mặt pháp lý với hệ thống pháp luật của nước nơi họ thường trú và việc gắn
bó này liên quan đến quyền và nghĩa vụ của người Việt Nam thường trú ở nước ngoài3
Hiện tại, với khái niệm về quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài tại khoản 2 Điều 663 BLDS 2015, ta có thể hiểu quan hệ thừa kế có yếu tố nước ngoài là quan hệ thừa kế thuộc một trong các trường hợp sau:
Thứ nhất, có ít nhất một trong các bên tham gia là cá nhân, pháp nhân nước ngoài
Thứ hai, các bên tham gia đều là công dân Việt Nam, pháp nhân Việt Nam nhưng việc xác lập, thay đổi, thực hiện hoặc chấm dứt quan hệ thừa kế đó xảy ra tại nước ngoài
Thứ ba, các bên tham gia đều là công dân Việt Nam, pháp nhân Việt Nam nhưng đối tượng của quan hệ thừa kế đó ở nước ngoài
So với BLDS 2005 trước đây, xét về mặt chủ thể thì BLDS 2015 đã loại bỏ người Việt Nam định cư ở nước ngoài và cơ quan, tổ chức không có tư cách pháp nhân Tuy nhiên, vẫn chưa có quy định cụ thể cho chủ thể là quốc gia Bởi lẽ, trong một số trường hợp đặc biệt, điển hình là trường hợp khi một công dân chết và để lại
di sản ở một quốc gia khác nhưng không có người thừa kế, khi này quốc gia mà người chết là công dân có khả năng sẽ trở thành một chủ thể tham gia vào quan hệ thừa kế
có yếu tố nước ngoài
Trang 21
Như vậy, quan hệ thừa kế sẽ được xem là quan hệ thừa kế có yếu tố nước ngoài khi xuất hiện một trong ba căn cứ được để cập trên: (i) chủ thể; (ii) sự kiện pháp lý; (iii) đối tượng của quan hệ thừa kế
1.1.2 Đặc điểm quan hệ thừa kế có yếu tố nước ngoài
Trước khi có sự tham gia của các yếu tố nước ngoài, quan hệ thừa kế mang những đặc điểm của một quan hệ pháp luật dân sự, tồn tại ngay cả khi chưa có quy phạm pháp luật nào trực tiếp điều chỉnh Địa vị pháp lý của các chủ thể trong quan
hệ thừa kế đều bình đẳng Bình đẳng về khả năng tham gia vào quan hệ theo các điều kiện do luật định, bình đẳng trong việc hưởng quyền và thực hiện nghĩa vụ, được pháp luật bảo vệ như nhau khi quyền và lợi ích bị xâm phạm4
Khi có sự xuất hiện của các yếu tố nước ngoài thì quan hệ thừa kế sẽ mang những đặc điểm sau:
Thứ nhất, quan hệ thừa kế có yếu tố nước ngoài là quan hệ mang bản chất dân sự Theo cách tiếp cận của BLDS 2015 hiện hành, quan hệ dân sự được hiểu theo nghĩa rộng, tức quan hệ được hình thành trên cơ sở bình đẳng, tự do ý chí, độc lập về tài sản và tự chịu trách nhiệm5 Trên thực tế đã hình thành rất nhiều quan hệ xã hội thỏa mãn các tiêu chí trên, có thể kể đến các quan hệ lao động, thương mại, hôn nhân gia đình,…và thừa kế cũng không là ngoại lệ
Thứ hai, quan hệ thừa kế có yếu tố nước ngoài là quan hệ có liên quan đến ít nhất hai hệ thống pháp luật trở lên Một là, vì có sự chuyển dịch quyền sở hữu tài sản của người để lại thừa kế cho người còn sống, dẫn đến quan hệ thừa kế là một quan hệ tài sản và do đó có quan hệ với pháp luật nơi có tài sản Hai là, vì có sự chuyển dịch quyền sở hữu tài sản của người để lại thừa kế cho người còn sống trên cơ sở huyết thống, dẫn đến quan hệ thừa kế là một quan hệ nhân thân và do đó có liên hệ với pháp luật nhân thân của người để lại thừa kế Ba là, khi chết, người để lại thừa kế có thể chưa chấm dứt các quan hệ dân sự thiết lập với các đối tác khác (bên thứ ba), nhất là
Trang 22
quan hệ dân sự trong hợp đồng và quan hệ dân sự ngoài hợp đồng, do vậy quan hệ thừa kế cũng là quan hệ tài sản đối với bên thứ ba6
Việc nghiên cứu đặc điểm quan hệ thừa kế có yếu tố nước ngoài trong TPQT càng trở nên quan trọng và có ý nghĩa thực tiễn vì những đặc điểm này sẽ tác động đến các vấn đề cơ bản như phương pháp điều chỉnh, nguồn luật áp dụng, thẩm quyền giải quyết các quan hệ thừa kế có yếu tố nước ngoài7,… đặc biệt trong việc điều chỉnh các vấn đề về di sản Từ đó tác động đến các quyền và lợi ích của những người nhận thừa kế Trong số đó, trẻ em là nhóm chủ thể có sự phụ thuộc nhất định vào cha, mẹ hoặc người giám hộ Tùy theo quy định pháp luật của từng quốc gia về độ tuổi được xem là trẻ em cũng như các quyền và nghĩa vụ liên quan nhưng nhìn chung trẻ em thông thường là người không có năng lực hành vi dân sự hoặc có năng lực hành vi dân sự chưa đầy đủ Do đó, trong các quan hệ pháp luật hình sự, dân sự, hành chính khi có sự tham gia của trẻ em, việc đảm bảo quyền và lợi ích tốt nhất cho trẻ em cần được xem xét, cân nhắc kỹ lưỡng bên cạnh giải quyết các vấn đề phát sinh liên quan Đối với quan hệ thừa kế có yếu tố nước ngoài cũng không là ngoại lệ
1.1.3 Nguyên tắc giải quyết quan hệ thừa kế có yếu tố nước ngoài
Hiện nay, có hai nguyên tắc đang được áp dụng để giải quyết quan hệ thừa
kế có yếu tố nước ngoài8:
Thứ nhất, nguyên tắc một chế định thừa kế Nguyên tắc này xem quan hệ thừa kế là quan hệ nhân thân giữa người để lại di sản và người thừa kế Do đó, các quy phạm pháp luật tập trung vào yếu tố nhân thân của người để lại di sản và xem di sản là một khối thống nhất, không có sự phân chia di sản thành động sản và bất động sản Nguyên tắc này được thể hiện trong TPQT bằng việc áp dụng một hệ thống pháp luật duy nhất, thông thường sẽ áp dụng luật nhân thân để giải quyết 9
9 Gerald Goldstein (2005), Một số vấn đề thực tiễn về quan hệ thừa kế trong Tư pháp quốc tế, Kỷ yếu hội thảo
“Một số vấn đề thực tiễn về quan hệ nhân thân và tài sản trong Tư pháp quốc tế” (Quelques aspects pratiques
du droit international privé des personnes, de la famille et des biens), Hà Nội, tr.81
Trang 23Thứ hai, nguyên tắc hai chế định thừa kế Nguyên tắc này xuất phát chủ yếu
từ các nước theo hệ thống Thông luật (Common Law), cách tiếp cận này mang tính thực tiễn hơn, xem thừa kế là một phương thức chuyển giao tài sản Theo quan điểm này, các quy phạm pháp luật tập trung vào các hành vi lần lượt tác động đến mỗi tài sản, xảy ra suốt trong quá trình chuyển giao tài sản đó Trong TPQT, quan điểm thừa
kế mang tính tài sản được thể hiện bằng việc áp dụng nhiều hệ thống pháp luật đối với một quan hệ thừa kế (cơ chế chia nhỏ quan hệ thừa kế)10 Các quốc gia áp dụng nguyên tắc này, sẽ có sự phân chia di sản thành động sản và bất động sản Nhìn chung đối với di sản là động sản thì cơ quan có thẩm quyền sẽ áp dụng luật nhân thân, tức luật quốc tịch hoặc luật nơi cư trú, tuỳ vào đặc điểm của từng quốc gia mà luật quốc tịch hay luật nơi cư trú sẽ được ưu tiên áp dụng nhiều hơn Đối với di sản là bất động sản thì luật nơi có tài sản sẽ được áp dụng
Nguyên tắc một chế định thừa kế cho phép áp dụng một hệ thống pháp luật thống nhất, vì luật nội dung về thừa kế thường quy định việc phân chia toàn bộ di sản một cách hài hòa có tính đến cả yêu cầu của người hưởng di sản và yêu cầu của các bên thứ ba (thường là các chủ nợ của người để lại di sản) Nói một cách khác, nguyên tắc này hướng đến việc chuyển nhượng di sản cùng với các quyền, trách nhiệm đối với di sản đó sẽ được nhất quán dù di sản tồn tại dưới nhiều hình thức hay có nhiều người hưởng di sản hoặc bên thứ ba Ngược lại, việc áp dụng nguyên tắc hai chế định thừa kế sẽ dẫn đến hệ quả không nhất quán cho những người hưởng di sản hoặc bên thứ ba11, xuất phát từ việc ưu tiên sự điều chỉnh của hệ thống pháp luật thực sự có kết nối với bản chất của loại tài sản12 Thế nên việc phân chia di sản thành động sản và bất động sản đưa đến sự phân biệt về quyền, trách nhiệm của những người hưởng di
10 Gerald Goldstein (2005), Một số vấn đề thực tiễn về quan hệ thừa kế trong Tư pháp quốc tế, Kỷ yếu hội thảo
“Một số vấn đề thực tiễn về quan hệ nhân thân và tài sản trong Tư pháp quốc tế”, tlđd, tr.81
11 Dennis Solomon (2016), The Boundaries of the law applicable to succession, Annals of the Faculty of Law
of the University of Zenica, tr.198 Nguồn: https://heinonline.org/HOL/P?h=hein.journals/zenici17&i=193 (truy cập ngày 23/06/2021)
12 Janeen M Carruthers, Private international law: Embracing diversity, Private international Law & wills and succession
https://www.blogs.law.ed.ac.uk/ipldiscourse/wp-content/uploads/sites/32/2017/02/Carruthers-IPL-PILIM-Succession-Abstract-SUBMISSION.pdf (truy cập ngày 27/06/2021)
Trang 24sản, các bên thứ ba đối với những hình thức khác nhau của di sản13 Những vấn đề khó khăn phổ biến có thể phát sinh trên thực tế như việc quy định hàng thừa kế sẽ khác nhau, tỷ lệ phân chia di sản khác nhau,…
Tuy nhiên, một hạn chế mà các quốc gia áp dụng nguyên tắc một chế định thừa kế sẽ gặp phải là vấn đề công nhận và cho thi hành các bản án, quyết định của
cơ quan có thẩm quyền khi bất động sản nằm ngoài lãnh thổ của quốc gia nơi có cơ quan giải quyết vụ việc đó Trên thực tế, những bản án, quyết định liên quan đến bất động sản ở nước ngoài sẽ gặp trở ngại để được quốc gia, nơi bất động sản tọa lạc, công nhận và cho thi hành, bởi lẽ mỗi một quốc gia sẽ có những chính sách, sự điều chỉnh khác nhau đối với loại tài sản đặc thù này và hơn hết là theo thông lệ quốc tế, đối với di sản là bất động sản thường sẽ thuộc thẩm quyền riêng biệt của tòa án nơi đang có bất động sản thụ lý và giải quyết14 Do đó, những quốc gia tiếp cận nguyên tắc hai chế định thừa kế có xu hướng dựa trên cơ sở này nhằm đảm bảo pháp luật điều chỉnh liên quan đến bất động sản được chính cơ quan giải quyết nơi có bất động sản
áp dụng, mang lại sự điều chỉnh phù hợp nhất đối với bất động sản15
Vì vậy, mỗi nguyên tắc sẽ phát huy những ưu điểm riêng cũng như sẽ gặp những hạn chế nhất định trong việc giải quyết quan hệ thừa kế có yếu tố nước ngoài Tùy vào chủ trương của từng quốc gia hay khu vực cũng như cách tiếp cận về quan
hệ thừa kế có yếu tố nước ngoài để lựa chọn nguyên tắc giải quyết phù hợp Đứng dưới góc độ của người nghiên cứu, chúng ta nên nhìn nhận và tiếp cận các nguyên
13 Dennis Solomon (2016), The Boundaries of the law applicable to succession, Annals of the Faculty of Law
of the University of Zenica, tlđd, tr.198
thừa kế theo pháp luật Liên minh Châu Âu và pháp luật Việt Nam, trích Tài liệu hội thảo “Quyền công dân trong các quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài trong pháp luật của Liên minh Châu Âu”, Trường Đại học Luật TP.HCM, tr.71-81
15 Policy Department for Citizen's Rights and Constitutional Affairs (European Parliament's Committee on Legal Affairs) (2017), The state of implementation of the EU Succession Regulation’s provisions on public policy’s exception, universal application and renvoi, the European Certificate of Succession and access to registers, tr.07
Nguồn:
https://www.europarl.europa.eu/RegData/etudes/BRIE/2017/596821/IPOL_BRI(2017)596821_EN.pdf (truy cập ngày 28/06/2021)
Trang 25tắc dưới cái nhìn đa chiều, khách quan đối với từng quốc gia, khu vực trong những hoàn cảnh cụ thể
1.2 Xung đột pháp luật và giải quyết xung đột pháp luật về thừa kế có yếu
tố nước ngoài
1.2.1 Khái niệm xung đột pháp luật về thừa kế có yếu tố nước ngoài
Khi nhắc đến TPQT nói chung và quan hệ thừa kế có yếu tố nước ngoài nói riêng thì một trong các vấn đề cốt lõi được các nhà nghiên cứu quan tâm chính là XĐPL Có rất nhiều người nhầm lẫn XĐPL là hiện tượng có nhiều quy phạm khác nhau trong cùng hệ thống pháp luật của một quốc gia để điều chỉnh một quan hệ pháp luật phát sinh Tuy nhiên, về mặt bản chất ta nên hiểu đây không phải là hiện tượng XĐPL mà là sự mâu thuẫn (chồng chéo) giữa các ngành, các văn bản pháp luật trong quốc gia đó16 Trong TPQT, khái niệm XĐPL nên được tiếp cận ở mức độ chính xác hơn, đó là tồn tại nhiều hệ thống pháp luật từ các quốc gia khác nhau cùng điều chỉnh một vấn đề mà dẫn đến các hệ quả không giống nhau
Như vậy, ta có thể hiểu XĐPL về thừa kế là hiện tượng có hai hay nhiều hệ thống pháp luật khác nhau cùng có thể được áp dụng để giải quyết đối với quan hệ thừa kế có yếu tố nước ngoài17
1.2.2 Nguyên nhân xung đột pháp luật về thừa kế có yếu tố nước ngoài
Hiện tượng XĐPL là một hiện tượng đặc thù của TPQT, do đó luôn đặt ra yêu cầu hướng đến giải quyết sự XĐPL Tuy nhiên, cơ quan có thẩm quyền không thể áp dụng đồng thời hai hay nhiều hệ thống pháp luật để cùng điều chỉnh một vấn
đề hoặc không thể lựa chọn tùy tiện bất kỳ hệ thống pháp luật nào để áp dụng mà cần
có hướng giải quyết dựa trên các cơ sở chọn luật phù hợp Để làm được điều đó thì việc nghiên cứu những nguyên nhân làm phát sinh hiện tượng XĐPL về thừa kế có yếu tố nước ngoài là rất cần thiết
Nguyên nhân thứ nhất là khả năng áp dụng nhiều hệ thống pháp luật khác nhau khi phát sinh quan hệ thừa kế có yếu tố nước ngoài Như đã đề cập trong phần
Trang 26
đặc điểm của quan hệ này sẽ liên quan đến ít nhất hai hệ thống pháp luật trở lên, mà xét theo bình diện chung, tất cả các quốc gia trên thế giới đều chấp nhận khả năng áp dụng pháp luật của quốc gia nước ngoài để giải quyết các vấn đề của quan hệ đó Có thể là pháp luật của quốc gia nơi người để lại di sản mang quốc tịch hoặc có nơi cư trú, hoặc pháp luật quốc gia nơi đang có di sản, hoặc pháp luật quốc gia nơi xảy ra các sự kiện pháp lý làm phát sinh quan hệ thừa kế đó18
Nguyên nhân thứ hai là có sự khác nhau trong pháp luật các nước khi cùng điều chỉnh quan hệ thừa kế có yếu tố nước ngoài Sự khác nhau này là hệ quả từ nhiều yếu tố chi phối đến quá trình xây dựng và ban hành quy định pháp luật liên quan đến quan hệ thừa kế của quốc gia đó Các yếu tố có thể kể đến là quan điểm chính trị, hệ
tư tưởng, phong tục, tập quán, tôn giáo, trình độ phát triển kinh tế, điều kiện xã hội19…Ví dụ như pháp luật thừa kế của một số quốc gia có quy định phần thừa kế bắt buộc cho người có quan hệ huyết thống với người để lại di sản nhằm bảo vệ quyền được hưởng di sản cho dù không nằm trong sự định đoạt của người để lại di sản Trong khi đó, một số quốc gia không có quy định như vậy nhằm tôn trọng ý chí và
sự định đoạt của người để lại di sản Chính vì có sự khác biệt về nội dung nên cùng một quan hệ thừa kế có yếu tố nước ngoài nhưng hệ quả của việc giải quyết sẽ khác nhau Điều này dẫn đến sự XĐPL
Trong xu thế hội nhập và toàn cầu hóa, các quốc gia luôn đẩy mạnh và tăng cường hợp tác quốc tế, tuy nhiên trên cơ sở lý luận cũng như thực tiễn, TPQT ở các quốc gia còn nhiều sự khác biệt Do đó việc xác định nguyên nhân XĐPL về thừa kế
có yếu tố nước ngoài sẽ góp phần tìm ra những cách thức, phương pháp giải quyết phù hợp, tạo ra khung pháp lý theo hướng hoàn thiện hơn để đảm bảo quyền và lợi ích của các chủ thể trong quan hệ này
Nguyễn Bá Chiến (2008), Cơ sở lý luận và thực tiễn về hoàn thiện hệ thống quy phạm xung đột pháp luật ở Việt Nam, Luận án Tiến sĩ, Đại học quốc gia Hà Nội, tlđd, tr.69
Trang 271.2.3 Giải quyết xung đột pháp luật về thừa kế có yếu tố nước ngoài
1.2.3.1 Phương pháp giải quyết xung đột pháp luật về thừa kế có yếu tố nước ngoài
Việc quy định các phương pháp giải quyết XĐPL về thừa kế là quyền tự do lựa chọn của mỗi quốc gia, tuy nhiên khi đưa ra các phương pháp giải quyết xung đột, cần quan tâm đến quyền và lợi ích của các bên chủ thể, quyền lợi của quốc gia
và cộng đồng quốc tế20 Có thể kể đến hai phương pháp phổ biến sau đây, mỗi một phương pháp sẽ đóng vai trò nhất định, không có một phương pháp nào mang tính tối
ưu nhất và thay thế các phương pháp khác:
Thứ nhất, xây dựng và áp dụng quy phạm thực chất Các quy phạm thực chất này có thể được chứa đựng trong các điều ước quốc tế (quy phạm thực chất thống nhất) hoặc trong pháp luật quốc gia (quy phạm thực chất của quốc gia), trực tiếp điều chỉnh vấn đề XĐPL về thừa kế có yếu tố nước ngoài Ưu điểm của phương pháp này chính là quy định cụ thể quyền và nghĩa vụ của các bên tham gia quan hệ21, giúp đơn giản hóa các thủ tục cũng như các quy định “chồng chéo” nhau, giúp việc giải quyết XĐPL một cách có hiệu quả, thuận tiện và nhanh chóng Điều này xuất phát từ việc các cơ quan có thẩm quyền không cần lựa chọn pháp luật áp dụng như đối với quy phạm xung đột22 Tuy nhiên, đối với các quy phạm thực chất thống nhất, do bản chất đặc thù chịu sự chi phối bởi yếu tố truyền thống, lịch sử của quan hệ thừa kế, nên việc các quốc gia cùng nhau thỏa thuận và xây dựng một quy định chung dường như chưa đạt được hiệu quả23 Bởi lẽ có những quy phạm khi áp dụng sẽ rất phù hợp với hoàn cảnh xã hội, kinh tế, văn hóa của quốc gia này nhưng có khả năng không phù hợp đối với một quốc gia khác Ví dụ như có quốc gia quy định việc đăng ký quyền sở hữu đối với di sản là bất động sản trước tiên phải là người thuộc hàng thừa kế có quan hệ huyết thống với người để lại di sản, sau đó những người thừa kế này sẽ chuyển giao lại cho những người hưởng di sản không có quan hệ huyết thống (nếu có) Trong khi
23 Đại học Luật Hà Nội (2017), Giáo trình Tư pháp quốc tế, NXB Công an Nhân dân, tr.278
Trang 28đó quy định này lại tỏ ra không phù hợp khi có người thừa kế là người không có quan
hệ huyết thống với người để lại di sản, điều mà ở một số quốc gia khác không có quy định Hơn nữa quá trình đàm phán để thông qua các quy phạm thực chất thống nhất cần một thời gian lâu dài, mang tính chất phức tạp và tốn kém
Thứ hai, xây dựng và áp dụng quy phạm xung đột Các quy phạm xung đột này có thể được chứa đựng trong các điều ước quốc tế (quy phạm xung đột thống nhất) hoặc trong pháp luật quốc gia (quy phạm xung đột của quốc gia) Khác với phương pháp thứ nhất, các quy phạm xung đột được xây dựng sẽ không trực tiếp quy định quyền và nghĩa vụ của các bên chủ thể trong quan hệ thừa kế Thay vào đó, phương pháp này sẽ đưa ra các nguyên tắc chung cho các cơ quan có thẩm quyền lựa chọn pháp luật áp dụng để giải quyết Cũng chính điều này đã khiến cho phương pháp
có điểm hạn chế, vì các cơ quan có thẩm quyền phải thực hiện lựa chọn hệ thống pháp luật điều chỉnh nên việc áp dụng cũng trở nên phức tạp hơn đặc biệt trong trường hợp
có hiện tượng dẫn chiếu ngược hoặc dẫn chiếu đến pháp luật của một nước thứ ba Tuy nhiên, so với phương pháp thứ nhất thì trong phương pháp này, việc các quốc gia cùng nhau xây dựng các quy phạm xung đột thống nhất dường như dễ dàng hơn Bởi lẽ, suy cho cùng thì đó chỉ là các nguyên tắc chung mang tính chất hướng dẫn để các bên lựa chọn pháp luật phù hợp chứ không mang tính áp đặt hay ràng buộc các bên áp dụng một hướng giải quyết cụ thể, hay mang một ý chí chủ quan của bất kỳ bên quốc gia ký kết nào Hiện nay các quốc gia áp dụng phương pháp này rất phổ biến, điển hình chính là thông qua các quy phạm tại các Hiệp định tương trợ tư pháp
Đồng thời, các quốc gia cũng chủ động xây dựng các quy phạm xung đột của quốc gia đó trong những trường hợp không có điều ước quốc tế với các nước thì đây chính là cơ sở để cơ quan có thẩm quyền lựa chọn pháp luật giải quyết các vấn đề thừa kế có yếu tố nước ngoài Trong quá trình xây dựng, một số hệ thuộc luật được
sử dụng phổ biến như: hệ thuộc luật nhân thân, hệ thuộc luật nơi có tài sản, hệ thuộc luật lựa chọn,…
Hệ thuộc luật nhân thân (lex personalis) là hệ thuộc chỉ ra pháp luật liên quan đến nhân thân của chủ thể trong quan hệ Đây là hệ thuộc luật được sử dụng phổ biến
Trang 29để điều chỉnh quan hệ mang bản chất dân sự có yếu tố nước ngoài bao gồm cả thừa
kế Về vấn đề này, có nhận định rằng: “Trong hầu hết các hệ thống XĐPL, những vấn
đề liên quan đến những mối quan hệ nhân thân và tài sản giữa các thành viên của một gia đình được điều chỉnh bởi luật nhân thân như là một nguyên tắc chung”24 Trong quan hệ thừa kế có yếu tố nước ngoài, hệ thuộc luật nhân thân được áp dụng để điều chỉnh một số vấn đề như thừa kế di sản là động sản, năng lực lập, thay đổi hoặc hủy
bỏ di chúc, hình thức di chúc,…Hệ thuộc luật nhân thân tồn tại trong hai hình thức25:
Một là, hệ thuộc luật quốc tịch (lex patriae/lex nationalis) là pháp luật của nước mà chủ thể trong quan hệ mang quốc tịch Hệ thuộc luật quốc tịch có ưu điểm rất quan trọng là tính ổn định cao, bởi vì, việc thay đổi quốc tịch không diễn ra một cách thường thường xuyên và dễ dàng Nhưng cũng chính đặc tính này sẽ là nhược điểm khi người nhập cư sinh sống lâu dài ở một quốc gia khác quốc gia họ mang quốc tịch, cản trở sự hòa nhập của họ vào cộng đồng nơi họ đang thực sự sinh sống26
Hai là, hệ thuộc luật nơi cư trú (lex domicilii), là pháp luật của nước mà chủ thể trong quan hệ có nơi cư trú Ưu điểm của hệ thuộc luật này tính linh hoạt, tạo điều kiện hòa nhập của người nhập cư đã đề cập trên Tuy nhiên hạn chế chính là tính không ổn định của hệ thuộc luật này, vì nơi cư trú có thể thay đổi một cách thường xuyên, hoặc trở nên khó xác định khi một người có nhiều nơi cư trú khác nhau27
Hệ thuộc luật nơi có tài sản (lex rei sitae) là hệ thuộc chỉ ra pháp luật của nước đang có tài sản liên quan đến quan hệ phát sinh Trong quan hệ thừa kế có yếu
tố nước ngoài, hệ thuộc luật nơi có tài sản thường được áp dụng để điều chỉnh những vấn đề liên quan đến thừa kế di sản là bất động sản hoặc việc thực hiện quyền đối với bất động sản,…điều này xuất phát từ bản chất đặc thù của bất động sản thường gắn liền với đất đai, liên quan đến chủ quyền quốc gia nơi đang có bất động sản Tuy nhiên, không phải tất cả mọi trường hợp liên quan đến bất động sản đều sẽ sử dụng
24 Nguyễn Bá Chiến (2008), Cơ sở lý luận và thực tiễn về hoàn thiện hệ thống quy phạm xung đột pháp luật ở Việt Nam, Luận án Tiến sĩ, Đại học quốc gia Hà Nội, tlđd, tr.28
26 Nguyễn Bá Chiến (2008), Cơ sở lý luận và thực tiễn về hoàn thiện hệ thống quy phạm xung đột pháp luật ở Việt Nam, Luận án Tiến sĩ, Đại học quốc gia Hà Nội, tlđd, tr.28
27 Nguyễn Bá Chiến (2008), Cơ sở lý luận và thực tiễn về hoàn thiện hệ thống quy phạm xung đột pháp luật ở Việt Nam, Luận án Tiến sĩ, Đại học quốc gia Hà Nội, tlđd, tr.29
Trang 30hệ thuộc luật nơi có tài sản để giải quyết, điều này còn tùy thuộc vào nguyên tắc giải quyết quan hệ thừa kế có yếu tố nước ngoài mà quốc gia tiếp cận, ví dụ như pháp luật của EU áp dụng hệ thuộc luật nhân thân để giải quyết chung các vấn đề thừa kế bao gồm cả bất động sản
Hệ thuộc luật lựa chọn (lex voluntatis) là hệ thuộc chỉ ra pháp luật của một nước do các bên chủ thể lựa chọn để giải quyết vấn đề phát sinh trong quan hệ Trên thực tế, thông thường các quốc gia thừa nhận quyền chọn luật của các chủ thể chủ yếu trong quan hệ hợp đồng có yếu tố nước ngoài để điều chỉnh một số vấn đề nhất định Tuy nhiên, hiện nay các quốc gia có xu hướng mở rộng phạm vi áp dụng của hệ thuộc luật này dựa trên cơ sở tôn trọng sự tự do ý chí, không chỉ giới hạn trong phạm
vi lĩnh vực hợp đồng mà còn mở rộng đến quan hệ hôn nhân và gia đình, thừa kế28,…
Thông qua hai phương pháp trên, có thể thấy mặc dù các quốc gia luôn nỗ lực xây dựng và hoàn thiện các quy phạm pháp luật để có sự điều chỉnh phù hợp với quan hệ thừa kế có yếu tố nước ngoài, nhưng việc đưa ra các quy phạm nhằm mục đích bảo vệ quyền lợi trẻ em trong loại quan hệ này dường như chưa thực sự được thể hiện rõ nét, đặc biệt là trong các quy phạm thực chất và quy phạm xung đột của quốc gia
1.2.3.2 Áp dụng pháp luật nước ngoài giải quyết xung đột pháp luật về thừa kế
có yếu tố nước ngoài
Với xu hướng hội nhập và hợp tác quốc tế thì hầu hết các quốc gia đều thừa nhận khả năng áp dụng pháp luật nước ngoài Điều này xuất phát từ việc khi xây dựng các quy phạm xung đột, không phải mọi trường hợp quy phạm xung đột đều dẫn chiếu đến pháp luật của quốc gia có tòa án, điều này đồng nghĩa với quốc gia đã thừa nhận
sự dẫn chiếu đến pháp luật của một quốc gia khác để áp dụng giải quyết XĐPL29
Trong TPQT, pháp luật nước ngoài có thể hiểu là pháp luật của một vùng lãnh thổ khác với vùng lãnh thổ đang có Tòa án giải quyết vụ việc Khi đề cập đến pháp luật nước ngoài là đề cập đến pháp luật của vùng lãnh thổ mà không nhất thiết
Trang 31
phải hiểu bó hẹp là pháp luật của quốc gia theo cách hiểu Công pháp quốc tế Vùng lãnh thổ đó có thể không có đầy đủ các yếu tố để được xem là một quốc gia nhưng đáp ứng được điều kiện tiên quyết là vùng lãnh thổ đó có hệ thống pháp luật riêng, thì đó vẫn là pháp luật nước ngoài (đối với Tòa án giải quyết vụ việc tọa lạc ở vùng lãnh thổ khác)30
Việc áp dụng pháp luật nước ngoài là rất cần thiết do pháp luật nước ngoài cũng là một trong những nguồn luật để giải quyết cho quan hệ thừa kế có yếu tố nước ngoài trên cơ sở bình đẳng giữa pháp luật của các quốc gia liên quan31 Nguyên nhân xuất phát từ việc giải quyết hiện tượng XĐPL Thông thường sẽ có hai trường hợp phát sinh việc áp dụng pháp luật nước ngoài
Trường hợp thứ nhất, bởi vì cho đến thời điểm hiện tại, số lượng các quy phạm thực chất thống nhất do các quốc gia cùng nhau xây dựng còn rất hạn chế, nhiều lĩnh vực vẫn chưa có những quy định chung để điều chỉnh32, nên pháp luật nước ngoài
có thể được áp dụng dưới sự dẫn chiếu của quy phạm xung đột thống nhất hoặc quy phạm xung đột của quốc gia Ví dụ, một công dân Việt Nam đi du lịch và lập di chúc tại Pháp Để có thể xem xét tính hợp pháp về hình thức, cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam căn cứ theo khoản 2 Điều 681 BLDS 2015, theo đó hình thức của di chúc được xác định theo pháp luật của nước nơi di chúc được lập Do đó, pháp luật của Pháp, là pháp luật nước ngoài, được áp dụng để điều chỉnh tính hợp pháp về mặt hình thức cho di chúc trên
Trường hợp thứ hai, pháp luật nước ngoài còn có khả năng được áp dụng khi
có sự thỏa thuận của các bên về một hệ thống pháp luật nước ngoài cụ thể để điều chỉnh cho quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài phát sinh (nếu đáp ứng các điều kiện chọn luật)33 Điển hình là các bên có thể thỏa thuận lựa chọn pháp luật áp dụng cho
31 Nguyễn Bá Chiến (2008), Cơ sở lý luận và thực tiễn về hoàn thiện hệ thống quy phạm xung đột pháp luật ở Việt Nam, Luận án Tiến sĩ, Đại học quốc gia Hà Nội, tlđd, tr.65
chí Nghiên cứu lập pháp số 3 (331), tháng 2/2017, tr.03-10
Nguồn: quoc-te-Viet-Nam.html (truy cập ngày 30/06/2021)
Trang 32quan hệ hợp đồng34, hoặc cho việc bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng có yếu tố nước ngoài35 Tuy nhiên trong lĩnh vực thừa kế có yếu tố nước ngoài, do hiện nay pháp luật Việt Nam vẫn chưa thừa nhận việc chọn luật áp dụng của các chủ thể tham gia, đặc biệt là đối với người để lại di sản nên hầu như pháp luật nước ngoài được áp dụng khi có sự dẫn chiếu bởi quy phạm xung đột trong các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên hoặc quy phạm xung đột trong các văn bản pháp luật do cơ quan
có thẩm quyền Việt Nam ban hành
Mặc dù vậy, không phải mọi trường hợp, pháp luật nước ngoài đều có thể áp dụng để giải quyết vấn đề xung đột trong quan hệ thừa kế có yếu tố nước ngoài, đó
là khi pháp luật nước ngoài chống lại trật tự công cộng của nước áp dụng Nói một cách khác, các cơ quan có thẩm quyền không được phép áp dụng pháp luật nước ngoài khi có lý do phải bảo vệ trật tự công cộng, mặc dù quy phạm xung đột dẫn chiếu đến việc áp dụng pháp luật nước ngoài36 Cần lưu ý rằng, việc loại bỏ không áp dụng pháp luật nước ngoài chỉ được thực hiện đối với một số quy phạm riêng lẻ có nội dung trái trật tự công cộng chứ không nhằm mục đích loại bỏ toàn bộ hệ thống pháp luật nước ngoài đó Bên cạnh các quan điểm cần loại bỏ toàn bộ hệ thống pháp luật đang cần xem xét thì phần lớn các quan điểm ủng hộ rằng chỉ không áp dụng một
số quy định của pháp luật nước ngoài bị coi là trái trật tự công cộng chứ không phải
là loại bỏ toàn bộ hệ thống pháp luật nước ngoài đó bởi dẫn đến việc nhìn nhận hệ thống pháp luật nước ngoài sẽ thiếu thống nhất và không đầy đủ37
Vấn đề bảo lưu trật tự công cộng không có một tiêu chí chung duy nhất và cũng không có một cách hiểu thống nhất trên thế giới38 Về thuật ngữ “Bảo lưu trật
tự công cộng”, tùy vào truyền thống pháp luật của các quốc gia mà có cách gọi khác nhau Các quốc gia thuộc hệ thống Dân luật (Civil Law) gọi đó là “Trật tự công” (Public order) Còn ở các quốc gia thuộc hệ thống Thông luật (Common Law) sẽ được
36 Đoàn Năng (2001), Một số vấn đề lý luận cơ bản về Tư pháp quốc tế, NXB Chính trị quốc gia, tr.53
38 Nguyễn Bá Chiến (2008), Cơ sở lý luận và thực tiễn về hoàn thiện hệ thống quy phạm xung đột pháp luật ở Việt Nam, Luận án Tiến sĩ, Đại học quốc gia Hà Nội, tlđd, tr.113-114
Trang 33sử dụng bằng thuật ngữ “Chính sách công” (Public policy) Tại Việt Nam thuật ngữ này thường được dùng bằng “Nguyên tắc cơ bản của pháp luật”39
TPQT của hầu hết các nước đều quy định ngoại lệ bảo lưu trật tự công trong việc áp dụng pháp luật nước ngoài Bởi vì quy định này cho phép quốc gia bảo vệ được chủ quyền cũng như lợi ích của các chủ thể trong các quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài Theo đó, việc bảo lưu trật tự công như một công cụ tự vệ trong những trường hợp cần thiết nhằm loại bỏ việc áp dụng pháp luật nước ngoài được coi
là không phù hợp hoặc có nội dung không chấp nhận được trong nội luật40 Liên hệ với vấn đề bảo vệ quyền lợi của trẻ em trong quan hệ thừa kế có yếu tố nước ngoài trước sự điều chỉnh khác nhau của các hệ thống pháp luật, bảo lưu trật tự công cộng
có thể được xem là một công cụ khả thi Tuy nhiên, để có thể phát huy hiệu quả của
cơ chế này thì quốc gia cần xây dựng các nguyên tắc, các quy phạm pháp luật liên quan đến quyền lợi của trẻ em được áp dụng trong nước Từ đó làm cơ sở để cơ quan
có thẩm quyền xem xét áp dụng bảo lưu trật tự công cộng
Riêng hiện nay tại Việt Nam, hầu như chưa có một văn bản pháp luật nào đưa ra quy định chi tiết cũng như giải thích trực tiếp đối với “bảo lưu trật tự công cộng” hay “nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam” Tuy nhiên, tại điểm đ khoản
2 Điều 4 Nghị quyết số 01/2014/NQ-HĐTP hướng dẫn thi hành Quy định Luật Trọng tài thương mại do Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao ban hành, theo đó
“Phán quyết trọng tài trái với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam” là phán quyết vi phạm các nguyên tắc xử sự cơ bản có hiệu lực bao trùm đối với việc xây dựng và thực hiện pháp luật Việt Nam Nghị quyết cũng đưa ra một số ví dụ minh họa như trong trường hợp các bên đã tự thỏa thuận về việc giải quyết tranh chấp và thỏa thuận này không trái pháp luật, đạo đức xã hội nhưng Hội đồng trọng tài không ghi nhận sự thỏa thuận đó của các bên trong phán quyết trọng tài…Do đó, theo tinh thần của Nghị quyết này thì vi phạm nguyên tắc cơ bản có thể hiểu là những vi phạm
pháp luật quốc tế Nguồn: https://moj.gov.vn/qt/tintuc/Pages/nghien-cuu-trao-doi.aspx?ItemID=1900 (truy cập ngày 01/06/2021)
Trang 34nghiêm trọng lợi ích của nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức trong xã hội41
Tuy nhiên cách tiếp cận trên cũng chưa thể xem là cụ thể, rõ ràng để các cơ quan có thẩm quyền sử dụng một cách thống nhất trên thực tế Hơn nữa, cách xác định này xuất phát từ việc hướng dẫn liên quan đến lĩnh vực trọng tài thương mại, chỉ
có thể mang tính chất tham khảo chứ không thể áp dụng tương tự vào các quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài khác nói chung và quan hệ thừa kế có yếu tố nước ngoài nói riêng
1.3 Giải quyết xung đột pháp luật về thừa kế có yếu tố nước ngoài theo pháp luật Việt Nam và Liên minh Châu Âu
1.3.1 Giải quyết xung đột pháp luật về thừa kế có yếu tố nước ngoài theo pháp luật Việt Nam
1.3.1.1 Nguyên tắc chung trong giải quyết xung đột pháp luật về thừa kế có yếu
tố nước ngoài
Căn cứ theo pháp luật hiện hành, cụ thể dựa trên khoản 1 Điều 680 BLDS
2015 đưa ra quy tắc áp dụng chung: “Thừa kế được xác định theo pháp luật của nước
mà người để lại di sản thừa kế có quốc tịch ngay trước khi chết” Tuy nhiên, khoản
2 Điều 680 BLDS 2015 có quy định: “Việc thực hiện quyền thừa kế đối với bất động
sản được xác định theo pháp luật của nước nơi có bất động sản đó”
Như vậy, trên nguyên tắc chung, Việt Nam áp dụng thống nhất luật quốc tịch của người để lại di sản ngay trước khi chết để điều chỉnh các vấn đề phát sinh trong quan hệ thừa kế có yếu tố nước ngoài như hàng thừa kế, thời điểm mở thừa kế, tỷ lệ phân chia di sản, quản lý di sản,…Riêng đối với di sản là bất động sản, vì là một loại tài sản đặc thù, nên việc thực hiện quyền đối với bất động sản, đơn cử như việc xác định người thừa kế có được trở thành chủ sở hữu hay chỉ được hưởng phần giá trị tương đương của bất động sản đó, hoặc nếu được trở thành chủ sở hữu thì cần đáp ứng những yêu cầu, điều kiện gì,…sẽ do luật nơi có bất động sản điều chỉnh
Trang 35
Ví dụ, ông A có một quốc tịch duy nhất là quốc tịch Pháp ngay trước khi chết
và có để lại di sản gồm động sản ở Pháp và căn nhà ở Việt Nam, không có di chúc
Áp dụng nguyên tắc giải quyết chung tại khoản 1 Điều 680 BLDS 2015, pháp luật Pháp sẽ được lựa chọn để giải quyết các vấn đề thừa kế, bao gồm cả động sản ở Pháp
và căn nhà ở Việt Nam Tuy nhiên, do căn nhà là bất động sản nằm trên lãnh thổ Việt Nam nên việc xem xét người thừa kế của A có được chứng nhận quyền sở hữu đối với căn nhà hay chỉ được hưởng phần giá trị thì do pháp luật Việt Nam điều chỉnh
Do Việt Nam sử dụng hệ thuộc luật quốc tịch làm nguyên tắc chung giải quyết XĐPL về thừa kế nên trên thực tế sẽ có khả năng phát sinh hai trường hợp, đó là người để lại di sản thừa kế không có quốc tịch hoặc có hai quốc tịch trở lên Khi có
sự tham gia của hai chủ thể này, việc giải quyết các vấn đề XĐPL cũng trở nên phức tạp hơn khi chưa thể xác định chính xác quốc gia liên quan đối với người không quốc tịch hoặc có nhiều hơn hai quốc gia liên quan, bảo hộ cho người có nhiều quốc tịch42 Mỗi một trường hợp sẽ có những hướng giải quyết khác nhau:
Đối với trường hợp người để lại di sản không có quốc tịch, căn cứ theo khoản
1 Điều 672 BLDS 2015, pháp luật của nước nơi người đó cư trú43 vào thời điểm phát sinh quan hệ thừa kế có yếu tố nước ngoài sẽ được áp dụng Nếu người để lại di sản
có nhiều nơi cư trú hoặc không xác định được nơi cư trú vào thời điểm phát sinh quan
hệ thì áp dụng pháp luật của nước nơi người đó có mối liên hệ gắn bó nhất So với trước đây, BLDS 2005 lựa chọn áp dụng pháp luật Việt Nam (hệ thuộc luật Tòa án) trong trường hợp không thể áp dụng luật nơi cư trú, hiện nay BLDS 2015 đã tiếp cận với cách giải quyết khách quan hơn, đảm bảo tôn trọng, công bằng hơn cho các chủ thể trong quan hệ thừa kế có yếu tố nước ngoài và phù hợp với nguyên tắc quan trọng trong TPQT là bình đẳng giữa các hệ thống pháp luật44
42 Lê Thị Bích Thủy (2019), Pháp luật áp dụng đối với cá nhân trong quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài theo
https://sti.vista.gov.vn/tw/Lists/TaiLieuKHCN/Attachments/275200/CVv209S012019057.pdf (truy cập ngày 23/06/2021)
43 Về khái niệm “cư trú” theo cách tiếp cận tại khoản 1 và khoản 2 Điều 40 BLDS 2015, là nơi người đó thường xuyên sinh sống, trường hợp không xác định được nơi người đó thường xuyên sinh sống thì nơi cư trú của cá nhân là nơi người đó đang sinh sống
44 Lê Thị Bích Thủy (2019), Pháp luật áp dụng đối với cá nhân trong quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài theo
Bộ luật dân sự năm 2015, Tạp chí Luật học số 1/2019, tlđd, tr.59
Trang 36Đối với trường hợp người để lại di sản có nhiều quốc tịch, tức từ hai quốc tịch trở lên Việc XĐPL cũng trở nên phức tạp và được các quốc gia quan tâm giải quyết Tại khoản 2 Điều 672 BLDS 2015 quy định áp dụng pháp luật của nước nơi người để lại di sản có quốc tịch và cư trú vào thời điểm phát sinh quan hệ thừa kế có yếu tố nước ngoài Có thể thấy, khi một người để lại di sản có từ hai quốc tịch trở lên, pháp luật bắt buộc phải đưa ra thêm một hoặc nhiều tiêu chí bổ sung để cơ quan có thẩm quyền có đủ cơ sở lựa chọn pháp luật áp dụng, cụ thể BLDS 2015 đã đưa thêm luật nơi cư trú thay vì chỉ áp dụng luật quốc tịch theo nguyên tắc chung
Tuy nhiên, trên thực tế sẽ tồn tại không ít các trường hợp gây khó khăn khi áp dụng pháp luật nơi cư trú Ví dụ như người đó có nhiều nơi cư trú hoặc không xác định được nơi cư trú hoặc nơi cư trú và nơi có quốc tịch khác nhau vào thời điểm phát sinh quan hệ trên BLDS 2015 đã đưa ra hướng giải quyết thông qua xác định pháp của nước mà người để lại di sản có quốc tịch và có mối liên hệ gắn bó nhất
Mặc dù vậy, để làm tăng cơ hội áp dụng pháp luật của Việt Nam khi giải quyết
vụ việc, trong trường hợp người để lại di sản có nhiều quốc tịch nhưng trong đó có quốc tịch Việt Nam thì theo đoạn thứ hai khoản 2 Điều 672 BLDS 2015 có quy định:
“Trường hợp pháp luật được dẫn chiếu đến là pháp luật của nước mà cá nhân có
quốc tịch nhưng cá nhân đó là người có nhiều quốc tịch, trong đó có quốc tịch Việt Nam thì pháp luật áp dụng là pháp luật Việt Nam”
Nguyên tắc chung để giải quyết XĐPL về thừa kế có yếu tố nước ngoài cho đến nay vẫn chưa có quy định riêng đề cập hay điều chỉnh liên quan đến chủ thể là người thừa kế nói chung và trẻ em nói riêng
1.3.1.2 Giải quyết xung đột pháp luật về thừa kế có yếu tố nước ngoài trong trường hợp có di chúc
Một trong những nội dung quan trọng, đặc trưng khi đề cập đến thừa kế chính
là di chúc bởi lẽ di chúc là sự thể hiện ý chí của cá nhân nhằm chuyển tài sản của mình cho người khác sau khi chết45 Do đó khi quan hệ thừa kế có yếu tố nước ngoài
Trang 37
phát sinh thì cũng đặt ra một số vấn đề pháp lý nhất định xoay quanh di chúc của người để lại di sản
Thông thường, trên lãnh thổ Việt Nam, một di chúc được xem là hợp pháp khi đáp ứng đủ các điều kiện tại khoản 1 Điều 630 BLDS 2015, cụ thể: Người lập di chúc minh mẫn, sáng suốt trong khi lập di chúc; không bị lừa dối, đe doạ, cưỡng ép; Nội dung của di chúc không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội; hình thức di chúc không trái quy định của luật Riêng đối với quan hệ thừa kế có yếu
tố nước ngoài, năng lực chủ thể và hình thức di chúc là những nội dung được TPQT tập trung điều chỉnh
Vấn đề thứ nhất là năng lực lập, thay đổi, hủy bỏ di chúc Khoản 1 Điều 681
BLDS 2015 quy định: “Năng lực lập di chúc, thay đổi hoặc hủy bỏ di chúc được xác
định theo pháp luật của nước mà người lập di chúc có quốc tịch tại thời điểm lập, thay đổi hoặc hủy bỏ di chúc” Tương tự với nguyên tắc chung, BLDS áp dụng luật
quốc tịch của người lập di chúc để giải quyết XĐPL Song, cần lưu ý về thời điểm xác định luật quốc tịch được áp dụng phải là thời điểm lập, thay đổi, huỷ bỏ di chúc chứ không phải thời điểm người để lại di sản chết
So với BLDS 2005 thì BLDS 2015 đã có sự sửa đổi, quy định chi tiết hơn
Trước đây, tại khoản 1 Điều 768 BLDS 2005 quy định: “Năng lực lập di chúc, thay
đổi và hủy bỏ di chúc phải tuân theo pháp luật của nước mà người lập di chúc là công dân” Quy định như vậy là chưa đầy đủ và chưa rõ ràng bởi lẽ tại những thời
điểm khác nhau thì một người có thể có những quốc tịch khác nhau, điều này dẫn đến
sự tùy nghi trong việc lựa chọn pháp luật áp dụng46 Hiện tại, khi BLDS 2015 có hiệu lực đã khắc phục được hạn chế này
Vấn đề thứ hai là quy định liên quan đến hình thức di chúc Pháp luật của các quốc gia khác nhau sẽ có quy định riêng về hình thức để di chúc có hiệu lực Có những quốc gia công nhận đa dạng các loại hình thức của di chúc nhưng vẫn có những
46 Trần Minh Ngọc (2018), Xác định pháp luật áp dụng đối với quan hệ thừa kế có yếu tố nước ngoài theo pháp luật Việt Nam, Tạp chí Luật học số 9/2018, tr.64
Nguồn:http://www.cantholib.org.vn:84/Ebook.aspx?p=57B92A75353766A6964637B93B65654746C6B6563 7B91B857557 (truy cập ngày 23/06/2021)
Trang 38quốc gia chỉ công nhận một loại hình thức nhất định, điển hình là di chúc được lập thành văn bản Riêng đối với pháp luật Việt Nam cho phép di chúc có thể tồn tại một
trong hai hình thức, cụ thể tại Điều 627 BLDS 2015 có quy định: “Di chúc phải được
lập thành văn bản; nếu không thể lập được di chúc bằng văn bản thì có thể di chúc miệng”
Đứng trước những quy định khác nhau về hình thức cũng như sự đa dạng về thời điểm, địa điểm lập di chúc trên thực tế nên pháp luật Việt Nam đã ra đưa quy định với nhiều trường hợp khác nhau nhằm tạo điều kiện tối đa để hình thức di chúc trong quan hệ thừa kế có yếu tố nước ngoài được công nhận Theo đó, khoản 2 Điều
681 BLDS 2015 cho phép: “Hình thức của di chúc được xác định theo pháp luật của
nước nơi di chúc được lập Hình thức của di chúc cũng được công nhận tại Việt Nam nếu phù hợp với pháp luật của một trong các nước sau đây:
a) Nước nơi người lập di chúc cư trú tại thời điểm lập di chúc hoặc tại thời điểm người lập di chúc chết;
b) Nước nơi người lập di chúc có quốc tịch tại thời điểm lập di chúc hoặc tại thời điểm người lập di chúc chết;
c) Nước nơi có bất động sản nếu di sản thừa kế là bất động sản”
Đây cũng là một điểm mới so với quy định trước đây tại khoản 2 Điều 768
BLDS 2005: “Hình thức của di chúc phải tuân theo pháp luật của nước nơi lập di
chúc” Quy định này đã vô tình làm cho di chúc không phát sinh hiệu lực trong một
số trường hợp nhất định Ví dụ trong trường hợp vào thời điểm lập di chúc, người đó đang ở trên lãnh thổ quốc gia khác vì mục đích ngắn hạn như công tác, du lịch,…Trong trường hợp như vậy quốc gia đó không phải nơi họ là công dân, cũng không phải là nơi họ cư trú, hoặc cho dù là nơi họ cư trú nhưng thời gian cư trú chưa
đủ lâu dài, dẫn đến họ không thể nắm bắt được quy định pháp luật của quốc gia đó, khiến cho hình di chúc có khả năng bị vô hiệu
Vì vậy, ngoài pháp luật nơi thực hiện hành vi (nơi lập di chúc) thì pháp luật nơi cư trú, pháp luật quốc tịch và pháp luật nơi có bất động sản đều có khả năng được
áp dụng để giải quyết vấn đề liên quan đến hình thức di chúc Quy định như vậy đã
Trang 39làm tăng đáng kể cơ hội có hiệu lực đối với hình thức di chúc, nhằm tôn trọng ý chí của người lập di chúc và đảm bảo tốt nhất quyền hưởng di sản của người thừa kế47
1.3.2 Giải quyết xung đột pháp luật về thừa kế có yếu tố nước ngoài theo pháp luật Liên minh Châu Âu
Trong phạm vi các quốc gia thuộc khối EU, Nghị định số 650/2012 của Liên minh Châu Âu về thẩm quyền, luật áp dụng, công nhận và thi hành các quyết định, chấp thuận và thực thi các biện pháp chính thức trong các vấn đề về thừa kế, tạo lập Giấy chứng nhận Thừa kế của Châu Âu48 (sau đây gọi là “Nghị định Brussels IV”) là nguồn luật quan trọng điều chỉnh phần lớn các vấn đề phát sinh liên quan đến quan
hệ thừa kế có yếu tố nước ngoài, trong đó bao gồm cả quy định cho việc giải quyết XĐPL
Nghị định Nghị định Brussels IV là văn bản pháp luật thứ yếu, có giá trị ràng buộc áp dụng đối với các quốc gia thành viên49 Thuật ngữ “Quốc gia thành viên” phải được hiểu là bao gồm tất cả các quốc gia thành viên của EU ngoại trừ Đan Mạch, Ireland và Vương quốc Anh, vì các quốc gia này không tham gia vào Nghị định50
47 Trần Minh Ngọc (2018), Xác định pháp luật áp dụng đối với quan hệ thừa kế có yếu tố nước ngoài theo pháp luật Việt Nam, Tạp chí Luật học số 9/2018, tlđd, tr.63
on jurisdiction, applicable law, recognition and enforcement of decisions and acceptance and enforcement of authentic instruments in matters of succession and on the creation of a European Certificate of Succession
01/04/2021)
pháp luật trong Tư pháp quốc tế, trích Tài liệu hội thảo “Quyền công dân trong các quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài trong pháp luật của Liên minh Châu Âu”, Trường Đại học Luật TP.HCM, tr.41-44
Đối với hệ thống pháp luật Liên minh Châu Âu, tồn tại hai nguồn chính: Văn bản pháp luật chính yếu (Primary law) và văn bản pháp luật thứ yếu (Secondary law)
Thứ nhất, văn bản pháp luật chính yếu bao gồm: Các hiệp ước thành lập Liên minh Châu Âu, các cơ quan của Liên minh Châu Âu: Hiệp ước Paris 1951 (ECSC), Hiệp ước Roma (1957) đưa đến việc thành lập Cộng đồng Năng lượng nguyên tử Châu Âu (EAEC hoặc Euratom) và thành lập Cộng đồng Kinh tế Châu Âu (EEC)…; các Hiệp ước kết nạp thành viên mới; các Nghị định thư; Hiến chương của Liên minh Châu Âu về Các quyền
cơ bản và Các nguyên tắc pháp lý chung của luật do Tòa án Công lý của Liên minh Châu Âu (CJEU) thiết lập Nguồn: https://eur-lex.europa.eu/legal-content/EN/TXT/?uri=LEGISSUM%3Al14534 (truy cập ngày 03/06/2021)
Thứ hai, văn bản pháp luật thứ yếu gồm các văn bản mang tính ràng buộc áp dụng: Nghị định (Regulations), Chỉ thị (Directives), Quyết định (Decisions) và văn bản không mang tính ràng buộc áp dụng: Ý kiến (Opinions), Khuyến nghị (Recommendations), Nghị quyết (Resolutions), Kết luận (Conclusions), Sách trắng (White papers), Sách xanh (Green papers),…
Nguồn: https://eur-lex.europa.eu/legal-content/EN/TXT/?uri=LEGISSUM:l14528 ,
https://eur-lex.europa.eu/legal-content/EN/TXT/?uri=LEGISSUM:ai0037 (truy cập ngày 03/06/2021)
50 Phần mở đầu, đoạn số (82), (83) Nghị định Brussels IV
Trang 40Nghị định không giải quyết các vấn đề thuộc luật nội dung điều chỉnh quan thừa kế có yếu tố nước ngoài, chẳng hạn như ai là người thừa kế, thứ tự hàng thừa kế,
tỷ lệ phân chia di sản như thế nào,…Những vấn đề này sẽ được điều chỉnh bởi pháp luật quốc gia thành viên được dẫn chiếu đến Nghị định không điều chỉnh các vấn đề
có khả năng liên quan đến thừa kế mang yếu tố nước ngoài, điển hình như: vấn đề hộ tịch của công dân; chế độ tài sản của vợ chồng (nghĩa là, cách phân chia tài sản trong trường hợp một trong hai vợ chồng qua đời); việc ghi nhận thông tin tài sản được thừa kế (ví dụ như việc ghi nhận quyền sở hữu nhà ở vào các giấy tờ liên quan đến đất đai),…Nghị định này cũng không liên quan đến luật thuế, pháp luật quốc gia thành viên sẽ điều chỉnh về thuế đối di sản được thừa kế51
Nghị định này được ban hành là kết quả của quá trình nỗ lực hài hòa hóa các quy tắc áp dụng cho vụ việc thừa kế mang tính quốc tế khi đứng trước sự đa dạng của quy tắc và hệ thống pháp luật khác nhau được áp dụng ở các quốc gia thành viên đã gây ra sự phức tạp đáng kể cho cơ quan khi giải quyết Người thừa kế không cần phải đối mặt với nhiều đạo luật và cơ quan các quốc gia khác nhau Hơn nữa, Nghị định này cũng giúp các quyết định của tòa án hoặc văn bản công chứng liên quan đến vấn
đề thừa kế phát sinh hiệu lực ở một quốc gia thành viên khác một cách dễ dàng, thuận tiện52 Nghị định đã đóng góp đáng kể trong việc tạo điều kiện để cá nhân, tổ chức tham gia vào quan hệ một cách hiệu quả và nhanh chóng hơn
Nghị định Brussels IV được áp dụng cho các trường hợp liên quan đến tài sản thừa kế53, theo đó, Nghị định đưa ra các quy tắc chung trong việc giải quyết vấn
đề XĐPL đối với thừa kế có yếu tố nước ngoài, đồng thời đề ra hướng xử lý trong một số trường hợp như người để lại di sản có mối liên hệ rõ ràng và gần gũi với một quốc gia khác quốc gia mà người đó cư trú thường xuyên; người để lại di sản lựa chọn pháp luật áp dụng định đoạt di sản của mình
51 Publications Office of the European Union (2017), Cross border succession citizen's guide, tr.04-05 Nguồn: https://www.elra.eu/wp-content/uploads/2017/10/DS0417513ENN.en.pdf (truy cập ngày 15/05/2021)
52 Publications Office of the European Union (2017), Cross border succession citizen's guide, tlđd, tr.04
thừa kế theo pháp luật Liên minh Châu Âu và pháp luật Việt Nam, trích Tài liệu hội thảo “Quyền công dân trong các quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài trong pháp luật của Liên minh Châu Âu”, Trường Đại học Luật TP.HCM, tlđd, tr.71-81