Cụ thể, bất cập trong việc xác định hệ quả pháp lý trong trường hợp bên được tặng cho đã thực hiện được một phần điều kiện hoặc trường hợp bên tặng cho khi vi phạm nghĩa vụ giao tài sản
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
ĐẶNG THỊ MAI PHƯƠNG
ĐIỀU KIỆN TRONG HỢP ĐỒNG TẶNG CHO
TÀI SẢN CÓ ĐIỀU KIỆN
CHUYÊN NGÀNH LUẬT DÂN SỰ
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH - THÁNG 7 - NĂM 2021
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
ĐẶNG THỊ MAI PHƯƠNG
ĐIỀU KIỆN TRONG HỢP ĐỒNG TẶNG CHO
TÀI SẢN CÓ ĐIỀU KIỆN
GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN: NCS TH.S LÊ THỊ DIỄM PHƯƠNG
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH - THÁNG 7 - NĂM 2021
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi là Đặng Thị Mai Phương, tôi cam đoan Khóa luận tốt nghiệp này là kết
quả nghiên cứu của riêng tôi, thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của NCS Th.s
Lê Thị Diễm Phương, đảm bảo tính trung thực và tuân thủ các quy định về trích
dẫn, chú thích tài liệu tham khảo Tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm về lời cam
đoan này
Tác giả
Đặng Thị Mai Phương
Trang 5MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ ĐIỀU KIỆN TRONG HỢP ĐỒNG TẶNG CHO TÀI SẢN CÓ ĐIỀU KIỆN 8
1.1 Khái niệm hợp đồng tặng cho tài sản và hợp đồng tặng cho tài sản có điều kiện 8
1.1.1 Khái niệm hợp đồng tặng cho tài sản 8
1.1.2 Khái niệm điều kiện tặng cho và hợp đồng tặng cho tài sản có điều kiện 10
1.2 Đặc điểm của hợp đồng tặng cho tài sản có điều kiện 15
1.2.1 Tính đơn vụ hay song vụ 15
1.2.2 Tính thực tế hay ưng thuận 17
1.2.3 Tính không có đền bù 21
1.3 Hiệu lực của hợp đồng tặng cho tài sản có điều kiện 25
1.4 Các yêu cầu pháp lý của điều kiện tặng cho trong hợp đồng tặng cho tài sản có điều kiện 30
1.4.1 Điều kiện tặng cho không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội 31
1.4.2 Điều kiện tặng cho phải xác định được 33
1.4.3 Điều kiện tặng cho phải có thể thực hiện được 34
1.4.4 Điều kiện tặng cho phải có tính khách quan 34
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 35
CHƯƠNG 2 HỆ QUẢ PHÁP LÝ DO VI PHẠM ĐIỀU KIỆN TRONG HỢP ĐỒNG TẶNG CHO TÀI SẢN CÓ ĐIỀU KIỆN VÀ KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN 36
2.1 Hệ quả pháp lý trong trường hợp điều kiện tặng cho vi phạm điều cấm, trái đạo đức xã hội và kiến nghị hoàn thiện 36
Trang 62.1.1 Xác định điều kiện tặng cho vi phạm điều cấm của luật, trái đạo đức xã
hội 36
2.1.2 Hệ quả pháp lý trong trường hợp điều kiện tặng cho vi phạm điều cấm, trái đạo đức xã hội 42
2.1.3 Kiến nghị hoàn thiện pháp luật 45
2.2 Hệ quả pháp lý trong trường hợp điều kiện tặng cho không xảy ra hoặc không thể thực hiện được; điều kiện tặng cho không được ghi nhận trong hợp đồng và kiến nghị hoàn thiện 45
2.2.1 Hệ quả pháp lý trong trường hợp điều kiện tặng cho không xảy ra hoặc không thể thực hiện được 45
2.2.2 Hệ quả pháp lý trong trường hợp điều kiện tặng cho không được ghi nhận trong hợp đồng tặng cho tài sản 50
2.2.3 Kiến nghị hoàn thiện pháp luật 54
2.3 Hệ quả pháp lý trong trường hợp bên tặng cho vi phạm nghĩa vụ giao tài sản cho bên được tặng cho và kiến nghị hoàn thiện 55
2.3.1 Hệ quả pháp lý trong trường hợp bên tặng cho vi phạm nghĩa vụ giao tài sản cho bên được tặng cho 55
2.3.2 Kiến nghị hoàn thiện pháp luật 60
2.4 Hệ quả pháp lý trong trường hợp bên được tặng cho vi phạm nghĩa vụ thực hiện điều kiện sau khi tặng cho và kiến nghị hoàn thiện 60
2.4.1 Hệ quả pháp lý trong trường hợp bên được tặng cho vi phạm toàn bộ nghĩa vụ thực hiện điều kiện sau khi được tặng cho 61
2.4.2 Hệ quả pháp lý trong trường hợp bên được tặng cho vi phạm một phần nghĩa vụ thực hiện điều kiện sau khi được tặng cho 67
2.4.3 Kiến nghị hoàn thiện pháp luật 71
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 72
KẾT LUẬN CHUNG 73 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 71
PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Kinh tế và khoa học – kĩ thuật ngày càng phát triển tạo ra càng nhiều của cải
dư thừa cho xã hội Trước sự hưng thịnh về vật chất, các chủ thể trong xã hội chuyển sang xây dựng cho mình các giá trị tinh thần hoặc tích lũy cho các thế hệ tương lai và chính sự gắn kết về tình cảm, sự quen biết, gần gũi về mặt tinh thần làm nảy sinh nhu cầu về tặng cho tài sản, tặng cho tài sản kèm theo một số điều kiện nhất định Chế định về hợp đồng tặng cho tài sản nói chung và hợp đồng tặng cho tài sản có điều kiện nói riêng được đưa ra như một giải pháp hiệu quả cho những vấn đề này
Trong chế định tặng cho tài sản có điều kiện thì điều kiện tặng cho là một vấn đề quan trọng, Bộ luật Dân sự năm 2015 dành riêng một Điều luật quy định về
tặng cho có điều kiện, theo đó bên tặng cho có thể yêu cầu bên được tặng cho thực
hiện một hoặc nhiều nghĩa vụ trước hoặc sau khi tặng cho Trường hợp phải thực hiện nghĩa vụ trước khi tặng cho, nếu bên được tặng cho đã hoàn thành nghĩa vụ mà bên tặng cho không giao tài sản thì bên tặng cho phải thanh toán nghĩa vụ mà bên được tặng cho đã thực hiện Trường hợp phải thực hiện nghĩa vụ sau khi tặng cho
mà bên được tặng cho không thực hiện thì bên tặng cho có quyền đòi lại tài sản và yêu cầu bồi thường thiệt hại Thực tế, bên tặng cho mong muốn tài sản của mình được tặng cho với ý nghĩa thể hiện tình cảm yêu thương, quý mến; tài sản tặng cho
là chuyển quyền sở hữu sang cho bên được tặng cho nên bên tặng cho có thể thoả thuận những điều kiện nhất định với bên được tặng cho để đảm bảo tài sản tặng cho được sử dụng một cách đúng đắn, hoặc bảo tồn được giá trị của tài sản tặng cho Quy định này tạo ra hành lang pháp lý quan trọng điều chỉnh điều kiện tặng cho trong hợp đồng tặng cho tài sản có điều kiện Tuy nhiên, trong quá trình áp dụng pháp luật quy định này còn bộc lộ nhiều hạn chế, thiếu sót; quy định hiện hành chưa phản ánh đầy đủ tính chất pháp lý của điều kiện tặng cho dẫn đến thực tiễn hoạt động xét xử của Tòa án còn nhiều bất cập Cụ thể, bất cập trong việc xác định hệ quả pháp lý trong trường hợp bên được tặng cho đã thực hiện được một phần điều kiện hoặc trường hợp bên tặng cho khi vi phạm nghĩa vụ giao tài sản cho bên được tặng cho; bất cập liên quan đến việc công nhận điều kiện tặng cho trong các hợp đồng tặng cho tài sản
Trang 82
Thực trạng áp dụng pháp luật đòi hỏi cần phải có những quy định cụ thể hơn điều chỉnh riêng về điều kiện tặng cho và hợp đồng tặng cho tài sản có điều kiện cũng như sửa đổi, bổ sung các quy định hiện hành để cơ chế vận hành chế định tặng cho có điều kiện hiệu quả trong thực tế, bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của các bên trong quan hệ pháp luật này Vì vậy, tác giả quyết định lựa chọn đề tài làm
Khóa luận tốt nghiệp “Điều kiện trong hợp đồng tặng cho tài sản có điều kiện” để
làm sáng tỏ những vấn đề lý luận và thực tiễn xoay quanh điều kiện tặng cho, vi phạm điều kiện và hệ quả pháp lý của các trường hợp vi phạm điều kiện; so sánh, phân tích các quy định của pháp luật đồng thời đưa ra những kiến nghị để hoàn thiện pháp luật điều chỉnh về quy định này
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Điều kiện trong hợp đồng tặng cho có điều kiện là một nội dung rất quan trọng trong chế định hợp đồng của Việt Nam và các nước trên thế giới Vấn đề này
đã và đang nhận được sự quan tâm, nghiên cứu từ nhiều nhà khoa học pháp lý trong
và ngoài nước dưới nhiều góc độ, khía cạnh khác nhau Trong đó có thể kể đến một
số công trình tiêu biểu sau:
- Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh (2017), Giáo trình hợp đồng
và bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng (tái bản lần thứ 1, có sửa đổi và bổ sung),
Nxb Hồng Đức – Hội Luật gia Việt Nam; nguồn tài liệu này cung cấp cho tác giả kiến thức lý luận về pháp luật hợp đồng và các đặc điểm cơ bản của một hợp đồng như tính đơn vụ hay song vụ; tính thực tế hay ưng thuận, tính đền bù hay không có đền bù; hậu quả pháp lý của hợp đồng vô hiệu và hủy bỏ hợp đồng Đây là nền tảng
để đi sâu vào nghiên cứu các vấn đề lý luận về điều kiện và hệ quả pháp lý của hủy
bỏ hợp đồng tặng cho tài sản có điều kiện
- Đỗ Văn Đại (2018), Luật Hợp đồng Việt Nam – Bản án và bình luận bản án,
tập 1 và tập 2, Nxb Hồng Đức – Hội Luật gia Việt Nam; tài liệu này cung cấp cho tác giả kiến thức lý luận và thực tiễn về điều kiện trong hợp đồng có điều kiện, bao gồm điều kiện phát sinh, điều kiện thực hiện và điều kiện chấm dứt hợp đồng Tài liệu là cơ sở để đưa ra các lập luận khi nghiên cứu khái niệm điều kiện trong hợp đồng tặng cho tài sản có điều kiện và hệ quả pháp lý trong trường hợp điều kiện bị
Trang 93
vi phạm; đồng thời tài liệu cung cấp cho tác giả kiến thức về tính hợp pháp của điều kiện trong hợp đồng có điều kiện, tạo cơ sở để xây dựng các yêu cầu pháp lý đối với điều kiện trong hợp đồng tặng cho tài sản có điều kiện
- Nguyễn Hải An (2012), Cơ sở lý luận và thực tiễn về tặng cho quyền sử dụng
đất, Luận án tiến sĩ, Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội; công trình này phân
tích, lý giải và làm rõ một số khái niệm khoa học về tặng cho quyền sử dụng đất, đặc điểm, bản chất pháp lý, vai trò, ý nghĩa của tặng cho quyền sử dụng đất; lược sử quá trình hình thành tặng cho tài sản ở Việt Nam, so sánh với pháp luật một số nước trên thế giới Tài liệu phân tích các quy định về tặng cho quyền sử dụng đất, tìm hiểu cơ sở của việc quy định các điều luật, phân tích tính kế thừa và phát triển, cũng như những điểm mới quy định về tặng cho quyền sử dụng đất kết hợp với thực tiễn hoạt động xét xử của Tòa án để đưa ra các giải pháp hoàn thiện pháp luật Từ tài liệu này, tác giả được cung cấp các góc nhìn khác nhau về khái niệm hợp đồng tặng cho tài sản và quan điểm về các đặc điểm cơ bản của hợp đồng này, đồng thời tiếp nhận thực tiễn xét xử của Tòa án đối với tặng cho quyền sử dụng đất có điều kiện, góp phần củng cố lập luận khi nghiên cứu về vi phạm điều kiện tặng cho
- Lê Thị Giang (2020), Hợp đồng tặng cho tài sản theo pháp luật Việt Nam –
Một số vấn đề lý luận và thực tiễn, Luận án tiến sĩ, Trường Đại học Luật Hà Nội;
công trình này xây dựng các khái niệm về hợp đồng tặng cho tài sản, tặng cho tài sản có điều kiện, đồng thời chỉ ra những đặc điểm đặc trưng làm cơ sở cho việc phân biệt hợp đồng tặng cho tài sản với các giao dịch khác như hứa thưởng, di tặng; phân tích các lý thuyết chính ảnh hưởng hay có tác động tới việc xây dựng các quy định về hợp đồng tặng cho tài sản Tài liệu đánh giá thực trạng áp dụng pháp luật về tặng cho tài sản và tặng cho có điều kiện kết hợp với nghiên cứu, so sánh quy định
có liên quan của một số nước trên thế giới để đưa ra các kiến nghị sửa đổi, bổ sung Nguồn tài liệu này giúp tác giả có được các góc nhìn khác nhau về tặng cho tài sản,
có được các luận điểm, luận cứ khi xây dựng các yêu cầu pháp lý đối với điều kiện tặng cho và hệ quả pháp lý trong trường hợp hủy bỏ hợp đồng do không thực hiện điều kiện
Trang 104
- Trần Thị Như Trang (2014), Hợp đồng tặng cho tài sản có điều kiện theo quy
định của pháp luật Việt Nam, Luận văn thạc sĩ, Trường Đại học Luật Thành phố Hồ
Chí Minh; tài liệu này nghiên cứu khái niệm, đặc điểm của điều kiện trong giao dịch
có điều kiện, hợp đồng có điều kiện và hợp đồng tặng cho tài sản; thời điểm phát sinh hiệu lực của hợp đồng tặng cho tài sản có điều kiện trong mối liên hệ với việc thực hiện điều kiện; đồng thời nghiên cứu bản chất pháp lý của điều kiện trong hợp đồng tặng cho tài sản và thực tiễn áp dụng pháp luật để đánh giá sự phù hợp của quy định hiện hành, đề xuất kiến nghị Công trình này góp phần củng cố lập luận của tác giả về khái niệm điều kiện trong hợp đồng tặng cho tài sản cũng như phân tích, bình luận các bất cập trong việc xử lý vấn đề về thực hiện điều kiện tặng cho
- Hồ Thị Thu Hà (2013), Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất giữa cha mẹ
và con theo quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành - Những vấn đề lý luận và thực tiễn, Khóa luận tốt nghiệp, Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh; tài
liệu này nghiên cứu lý luận và thực tiễn về khái niệm, đặc điểm, chủ thể, hình thức, thời điểm có hiệu lực, quyền và nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất giữa cha mẹ và con Tài liệu cung cấp cho tác giả các quan điểm khác nhau của thực tiễn xét xử đối với vấn đề vi phạm một phần điều kiện tặng cho
và vấn đề thanh toán phần nghĩa vụ mà bên được tặng cho đã thực hiện trong hợp đồng tặng cho tài sản có điều kiện theo quy định của Bộ luật Dân sự năm 2005, qua
đó góp phần củng cố lập luận khi xây dựng cơ chế hoàn thiện quy định về hệ quả pháp lý do vi phạm điều kiện tặng cho
- Lê Thị Hoài Ân (2015), “Quy định của pháp luật về tặng cho tài sản ở một số
quốc gia trên thế giới và ở Việt Nam”, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật, số 12; tài liệu
này nghiên cứu, so sánh các quy định có liên quan về hợp đồng tặng cho tài sản ở các quốc gia như Pháp, Nhật Bản, Thái Lan; trong đó nghiên cứu về khái niệm tặng cho tài sản, tặng cho tài sản có điều kiện, hiệu lực của hợp đồng tặng cho tài sản, hủy bỏ hợp đồng tặng cho tài sản và so sánh với pháp luật Việt Nam Qua đó giúp tác giả có góc nhìn khái quát về tặng cho tài sản nói chung và tặng cho tài sản có điều kiện nói riêng ở các quốc gia, từ đó có sự so sánh, đối chiếu khi nghiên cứu về
Trang 115
các quy định liên quan đến hợp đồng tặng cho tài sản có điều kiện theo pháp luật Việt Nam
- Dương Anh Sơn (2008), “Một số vấn đề về hợp đồng tặng cho”, Tạp chí
Khoa học pháp lý, số 4; tài liệu này phân tích, so sánh bản chất của hợp đồng tặng
cho, những giới hạn của hợp đồng và vấn đề hủy bỏ hợp đồng sau khi hợp đồng đã
có hiệu lực Qua đó tác giả được cung cấp góc nhìn về thời điểm có hiệu lực của hợp đồng tặng cho tài sản, nền tảng cho việc khái quát tính thực tế hay tính ưng thuận của hợp đồng này; lập luận để lý giải tính không có đền bù của hợp đồng tặng cho tài sản và cơ chế hủy bỏ hợp đồng này trong nghiên cứu, so sánh với pháp luật Nga, Thái Lan, Pháp
- Vũ Thị Hồng Yến (2018), “Bình luận quy định của Bộ luật dân sự năm 2015
về hợp đồng tặng cho tài sản”, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, số 09; trên cơ sở
nhận diện bản chất pháp lý của hợp đồng tặng cho tài sản, tài liệu phát hiện và bình luận những bất cập, thiếu sót trong các quy định về thời điểm phát sinh hiệu lực của hợp đồng; hậu quả pháp lý của việc tặng cho tài sản không thuộc quyền sở hữu của bên tặng cho; tặng cho có điều kiện; từ đó đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về nội dung này Đây là cơ sở để tác giả nhìn nhận và đánh giá các quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015 về thực hiện điều kiện tặng cho và hệ quả của việc vi phạm điều kiện trong hợp đồng tặng cho tài sản có điều kiện liên quan đến thanh toán phần nghĩa vụ đã được thực hiện đối với trường hợp điều kiện phải được thực hiện trước khi tặng cho
- Phạm Quang Huy (2016), ““Consideration” theo pháp luật hợp đồng Hoa
Kỳ”, Tạp chí Luật học, số 1; tài liệu phân tích khái niệm “consideration” theo pháp
luật hợp đồng Hoa Kỳ, bình luận một số nội dung liên quan của pháp luật hợp đồng Việt Nam hiện hành, đồng thời đưa ra một số lưu ý về “consideration” trong giao kết hợp đồng với đối tác Hoa Kỳ Nguồn tài liệu này cung cấp cho tác giả góc nhìn mới về khái niệm “consideration” để từ đó có định hướng áp dụng đối với hợp đồng tặng cho tài sản có điều kiện trong việc xác định quyền và nghĩa vụ của các bên trong trường hợp điều kiện được thực hiện trước khi tặng cho, qua đó góp phần
Trang 12cứu đề tài như: Lê Minh Hùng (2010), Hiệu lực của hợp đồng theo quy định của
pháp luật Việt Nam, Luận án tiến sĩ, Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh;
Phạm Văn Cheo (2009), Chuyên đề: “Thời điểm có hiệu lực của hợp đồng tặng cho
có điều kiện theo Điều 470 Bộ luật dân sự 2005”, Kỷ yếu hội thảo khoa học Thời
điểm giao kết và thời điểm có hiệu lực của hợp đồng theo quy định của Bộ luật dân
sự 2005, Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh; Lê Thị Giang (2018),
“Tặng cho tài sản trong Bộ luật dân sự Pháp”, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, số 03; Phùng Trung Tập (2020), “Bàn về hợp đồng tặng cho có điều kiện”, Tạp chí
Kiểm sát, số 04; Nguyễn Xuân Quang, Lê Nết, Nguyễn Hồ Bích Hằng (2007), Luật Dân sự Việt Nam, Nxb Đại học Quốc gia TPHCM…
3 Mục đích nghiên cứu của đề tài
Đề tài nghiên cứu với mục đích làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn về điều kiện trong hợp đồng tặng cho tài sản có điều kiện Trên cơ sở phân tích, đánh giá các quy định hiện hành về điều kiện và hợp đồng tặng cho có điều kiện, so sánh, đối chiếu với pháp luật các quốc gia, kết hợp với việc phân tích, bình luận thực tiễn hoạt động xét xử của Tòa án để phát hiện những hạn chế, thiếu sót trong các quy định pháp luật hiện hành Từ đó đưa ra các định hướng, kiến nghị hoàn thiện pháp luật liên quan đến vấn đề đang nghiên cứu
4 Phạm vi nghiên cứu của đề tài
Khi nghiên cứu đề tài, tác giả tập trung vào các quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015 điều chỉnh về bản chất và nội dung của điều kiện trong hợp đồng tặng cho tài sản có điều kiện Trong đó đề tài được giới hạn trong một số các vấn đề, bao gồm: (1) khái niệm, đặc điểm, hiệu lực của hợp đồng tặng cho tài sản có điều kiện; (2) khái niệm, các yêu cầu pháp lý của điều kiện tặng cho; (3) công nhận và thực hiện điều kiện; (4) vi phạm điều kiện Những vấn đề nằm ngoài phạm vi nghiên cứu của đề tài sẽ được nghiên cứu ở những công trình khoa học khác
Trang 137
5 Phương pháp tiến hành nghiên cứu
- Phương pháp lịch sử được sử dụng để tìm hiểu về tặng cho tài sản có điều kiện trong các quy định pháp luật dân sự của Việt Nam ở từng thời kỳ lịch sử Qua
đó phát hiện, kế thừa và phát triển những quy định đã tồn tại từ lâu trong pháp luật
cổ nhưng vẫn có giá trị áp dụng liên quan đến điều kiện trong hợp đồng tặng cho tài sản có điều kiện
- Phương pháp phân tích - tổng hợp được sử dụng xuyên suốt trong toàn bộ Khóa luận để tập trung nghiên cứu các quy định của pháp luật liên quan đến điều kiện trong hợp đồng tặng cho tài sản có điều kiện, khái quát những nội dung cơ bản, phân tích cách hiểu và vận dụng phù hợp quy định pháp luật, bổ sung, tổng hợp thành các quy định hoàn chỉnh liên quan đến vấn đề nghiên cứu
- Phương pháp so sánh được vận dụng hầu như xuyên suốt nhằm tìm hiểu, so sánh, đối chiếu quy định của pháp luật Việt Nam ở mỗi giai đoạn, đồng thời so sánh với pháp luật các quốc gia như Pháp, Nhật Bản, Thái Lan, Đức, Philippines… để thấy được những điểm tương đồng và khác biệt, từ đó có góc nhìn mới về các vấn
đề có liên quan chưa được luật hóa, làm cơ sở cho việc định hướng hoàn thiện pháp luật
- Phương pháp bình luận án được sử dụng chủ yếu ở Chương 2 để làm rõ thực trạng áp dụng pháp luật liên quan đến thực hiện điều kiện tặng cho trong hợp đồng tặng cho tài sản có điều kiện, qua đó đưa ra những quan điểm sửa đổi, bổ sung nhằm hoàn thiện pháp luật
6 Bố cục tổng quát của Khóa luận
Ngoài Phần mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo và Phụ lục thì nội dung nghiên cứu của khóa luận chia làm hai chương:
Chương 1: Khái quát chung về điều kiện trong hợp đồng tặng cho tài sản có điều kiện
Chương 2: Hệ quả pháp lý do vi phạm điều kiện trong hợp đồng tặng cho tài sản có điều kiện và kiến nghị hoàn thiện
Trang 148
CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ ĐIỀU KIỆN TRONG HỢP ĐỒNG
TẶNG CHO TÀI SẢN CÓ ĐIỀU KIỆN
1.1 Khái niệm hợp đồng tặng cho tài sản và hợp đồng tặng cho tài sản có điều kiện
Hợp đồng tặng cho là một trong những công cụ pháp lý được hình thành lâu đời trong pháp luật dân sự Ngay từ thế kỷ thứ V đến thế kỷ thứ I trước Công nguyên, trong Luật La Mã, hợp đồng tặng cho được coi là một trong những cơ sở làm phát sinh quyền sở hữu và được quy định một cách cụ thể, chi tiết 1 Tương tự, pháp luật các quốc gia như Pháp, Đức, Thái Lan, Philippines… cũng dần xây dựng cho mình chế định riêng về hợp đồng tặng cho tài sản (HĐTCTS), trong đó có Việt Nam Một số quốc gia xem tặng cho tài sản là hành vi pháp lý đơn phương như: Anh (bao gồm cả Scotland), Mỹ, Ấn Độ… khác với các quốc gia như Nhật Bản, Việt Nam, Đức, Thái Lan… xem tặng cho tài sản là hợp đồng dân sự Trong hệ
thống pháp luật Anh, tặng cho tài sản được gọi tên là “deed of gift” có nghĩa là
“hành vi tặng cho” mà không được quy định là “gift of contract” hay “donation
contract” (HĐTCTS) Theo đó, hành vi tặng cho được hiểu là việc chuyển giao tài
sản sang cho chủ thể khác mà không có đền bù Tương tự, trong pháp luật Ấn Độ chỉ cần bên tặng cho tuyên bố ý chí tặng cho là đầy đủ căn cứ pháp lý để hình thành giao dịch tặng cho mà chưa cần phải có sự chấp nhận của bên được tặng cho.2
Bộ luật Dân sự (BLDS) Việt Nam nói riêng và hệ thống pháp luật Việt Nam nói chung nhìn nhận tặng cho tài sản dưới góc độ là một hợp đồng dân sự mà không phải là một hành vi pháp lý đơn phương, vì vậy những phân tích dưới đây đều dựa vào lý luận tặng cho tài sản là một hợp đồng dân sự
1.1.1 Khái niệm hợp đồng tặng cho tài sản
Điều 457 BLDS năm 2015 đưa ra khái niệm HĐTCTS như sau: “hợp đồng
tặng cho tài sản là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên tặng cho giao tài sản của mình và chuyển quyền sở hữu cho bên được tặng cho mà không yêu cầu đền bù, bên được tặng cho đồng ý nhận” Có thể thấy rằng, quy định trên rõ ràng muốn
1 Dương Anh Sơn (2008), “Một số vấn đề về hợp đồng tặng cho”, Tạp chí Khoa học pháp lý, số 4, tr 13
2 Lê Thị Giang (2020), Hợp đồng tặng cho tài sản theo pháp luật Việt Nam - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn, Luận án tiến sĩ, Trường Đại học Luật Hà Nội, tr 21
Trang 159
nhấn mạnh vào việc chuyển quyền sở hữu tài sản từ bên tặng cho sang bên được tặng cho và bên được tặng cho chấp nhận điều đó Bên cạnh đó, BLDS năm 2015 còn nhấn mạnh vào yếu tố không có đền bù trong khái niệm của mình, đây là một trong những đặc điểm quan trọng nhất của pháp luật Việt Nam về HĐTCTS bên
cạnh tồn tại nhiều quan điểm trái chiều về tính “không có đền bù” này sẽ được làm
rõ hơn ở tiểu mục 1.2.3 của Khóa luận
Do tính thông dụng và phổ biến, khái niệm “HĐTCTS” được luật hóa rất
nhiều trong pháp luật dân sự của các quốc gia cũng như tồn tại trong khoa học pháp
lý dưới nhiều góc nhìn khác nhau Theo đó: “hợp đồng tặng cho tài sản là sự thoả
thuận giữa bên tặng cho và bên được tặng cho, theo đó khi còn sống, bên tặng cho giao tài sản của mình và chuyển quyền sở hữu cho bên được tặng cho mà không yêu cầu đền bù; còn bên được tặng cho nhận chuyển giao tài sản Hợp đồng tặng cho
có thể kèm điều kiện tặng cho hoặc không”3 Một tác giả khác cho rằng: “để tặng
cho được xác lập, lời đề nghị của người tặng cho không đủ, cần phải có sự chấp nhận của người được tặng cho Vậy, tặng cho là một hợp đồng”4
Tương tự như BLDS năm 2015 pháp luật các quốc gia cũng có quy định về HĐTCTS, theo đó Phần I Chương II Điều 1806 BLDS bang Quebec (Canada) quy
định: “tặng cho là hợp đồng mà một người, người tặng cho, chuyển giao quyền sở
hữu tài sản bằng danh nghĩa vô cớ cho người khác, người được tặng cho; một phần của quyền sở hữu, hoặc bất kỳ quyền nào khác do người đó nắm giữ, cũng có thể được chuyển nhượng bằng quà tặng Quà tặng có thể là inter vivos (tặng cho trước khi chết) hoặc mortis causa (tặng cho sau khi chết)” Điều 516 BLDS Đức quy
định: “tặng cho là việc định đoạt bằng cách một người nào đó làm giàu cho người
khác từ tài sản của chính mình là một khoản tặng cho nếu cả hai bên đồng ý rằng việc định đoạt xảy ra một cách vô cớ” Điều 521 BLDS và Thương mại Thái Lan
cũng đưa ra khái niệm tương tự: “tặng cho là một hợp đồng trong đó một người gọi
là người cho, chuyển một tài sản của mình cho một người khác, gọi là người nhận
mà không lấy tiền và người nhận nhận tài sản đó.”
Như vậy, có thể xem HĐTCTS là sự thỏa thuận chuyển giao tài sản và quyền
sở hữu tài sản của một bên (bên tặng cho) sang cho bên còn lại (bên được tặng cho)
3 Lê Thị Giang, tlđd (2), tr 29
4 Nguyễn Ngọc Điện (1999), Một số suy nghĩ về thừa kế trong Luật Dân sự Việt Nam, Nxb Trẻ, TPHCM, tr
160
Trang 1610
theo hợp đồng và bên được tặng cho đồng ý nhận tài sản đó
1.1.2 Khái niệm điều kiện tặng cho và hợp đồng tặng cho tài sản có điều kiện 1.1.2.1 Khái niệm điều kiện tặng cho
Theo từ điển tiếng Việt thì “điều kiện” là “cái cần phải có để cho một cái
khác có thể có hoặc có thể xảy ra”, là “điều nêu ra như một đòi hỏi trước khi thực hiện một việc nào đó” hay “những gì có thể tác động đến tính chất, sự tồn tại hoặc
sự xảy ra của một cái gì đó”5 Cần phân biệt điều kiện có hiệu lực của hợp đồng với điều kiện trong hợp đồng tặng cho tài sản có điều kiện (HĐTCTSCĐK) Theo đó,
điều kiện có hiệu lực của hợp đồng “là tổng hợp những yêu cầu pháp lý nhằm đảm
bảo cho hợp đồng được lập đúng bản chất đích thực của nó”6 , còn tặng cho có điều kiện là một loại hợp đồng được quy định tại Điều 462 BLDS năm 2015 Hiện nay, trong khoa học pháp lý cũng có bài viết, luận văn, luận án nghiên cứu về
HĐTCTSCĐK, tuy nhiên, rất ít công trình đi sâu vào phân tích khái niệm “điều kiện
tặng cho” Khoản 1 Điều 462 BLDS năm 2015 quy định: “bên tặng cho có thể yêu cầu bên được tặng cho thực hiện một hoặc nhiều nghĩa vụ trước hoặc sau khi tặng cho Điều kiện tặng cho không được vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức
xã hội” Có thể thấy BLDS năm 2015 xem “điều kiện tặng cho” là nghĩa vụ mà một
bên phải thực hiện vì lợi ích của bên kia Điều 274 BLDS năm 2015 nêu rõ khái
niệm “nghĩa vụ”: “nghĩa vụ là việc mà theo đó, một hoặc nhiều chủ thể (sau đây gọi
chung là bên có nghĩa vụ) phải chuyển giao vật, chuyển giao quyền, trả tiền hoặc giấy tờ có giá, thực hiện công việc hoặc không được thực hiện công việc nhất định
vì lợi ích của một hoặc nhiều chủ thể khác (sau đây gọi chung là bên có quyền).”
Điều 276 BLDS năm 2015 xác định đối tượng của nghĩa vụ bao gồm tài sản, công
việc phải thực hiện hoặc không được thực hiện
Trong khoa học pháp lý có một vài quan điểm về “điều kiện tặng cho” như:
“điều kiện tặng cho được hiểu là một hoặc nhiều nghĩa vụ mà bên được tặng cho
phải thực hiện trước hoặc sau khi nhận tài sản tặng cho Thông thường, điều kiện tặng cho do bên tặng cho đưa ra và được sự chấp thuận của bên được tặng cho.”7
5 Viện Ngôn ngữ học (2006), Từ điển Tiếng Việt, Nxb Đà Nẵng, tr 321 -322
6 Lê Thị Diễm Phương (2020), “Khái niệm về điều kiện trong loại hợp đồng có điều kiện”, xem tại https://www.tapchitoaan.vn/bai-viet/phap-luat/khai-niem-ve-dieu-kien-trong-loai-hop-dong-co-dieu-kien, truy cập lần cuối ngày 01/5/2021
7 Nguyễn Văn Cừ và Trần Thị Huệ (đồng chủ biên) (2017), Bình luận khoa học BLDS 2015, Nxb Công an
Trang 1711
Hoặc “điều kiện trong hợp đồng tặng cho có điều kiện là dự liệu về một hay một vài
nghĩa vụ dân sự (phải chuyển giao vật, chuyển giao quyền, trả tiền hoặc giấy tờ có giá, thực hiện công việc khác hoặc không thực hiện công việc nhất định vì lợi ích của một hoặc nhiều chủ thể khác) do các bên tự thỏa thuận trong hợp đồng mà bên được tặng cho phải thực hiện trên cơ sở không trái pháp luật, đạo đức xã hội, nhằm xác lập cơ sở tiền đề cho việc thực hiện tặng cho hoặc xác lập nghĩa vụ thanh toán khi bên tặng cho không thực hiện việc tặng cho hoặc là căn cứ hủy bỏ hiệu lực của việc tặng cho nếu sau khi được tặng cho mà bên được tặng cho không thực hiện nghĩa vụ” 8
Điểm khác biệt cốt lõi nhất giữa HĐTCTSCĐK với HĐTCTS thông thường
đó chính là “điều kiện tặng cho” Bên cạnh quy định tại Điều 462, cụm từ “điều
kiện” còn xuất hiện nhiều trong các quy định khác của BLDS năm 2015, trong đó phải kể đến quy định về giao dịch dân sự có điều kiện (khoản 1 Điều 120); quy định
về thực hiện nghĩa vụ có điều kiện (khoản 1 Điều 284); quy định về hợp đồng có điều kiện (khoản 6 Điều 402) Trong các quy định này, điều kiện được xem là sự
kiện pháp lý Theo đó, “sự kiện pháp lý” được hiểu là “những sự kiện, hoàn cảnh,
tình huống của đời sống thực tế” Theo một quan điểm: “không phải mọi sự kiện xảy ra trong thực tế đều là sự kiện pháp lý mà chỉ những sự kiện làm phát sinh những hậu quả pháp lý nhất định mới là sự kiện pháp lý có thể là hiện tượng tự nhiên hoặc là hành vi của con người…(…)… Sự kiện pháp lý trong quan hệ pháp luật dân sự nói chung là những sự kiện xảy ra trong thực tế được pháp luật dân sự
dự liệu, quy định làm phát sinh hậu quả pháp lý: phát sinh, thay đổi, chấm dứt quan
hệ pháp luật dân sự”9 Như vậy, vấn đề đặt ra: điều kiện tặng cho trong HĐTCTSCĐK có thể là một sự kiện pháp lý, bao gồm điều kiện phát sinh, điều kiện thay đổi và điều kiện chấm dứt hợp đồng không? Ví dụ: ông A và bà B đã tổ chức lễ đính hôn vào ngày 01/01/2021, tại lễ đính hôn, gia đình ông A đã tặng cho
bà B một số tài sản và thỏa thuận việc ông A và bà B sẽ tổ chức lễ cưới theo ngày giờ đã định Theo một quan điểm: “trong tình huống này, thực ra rất khó khai thác quy định tại Điều 462 BLDS năm 2015 về hợp đồng tặng cho vì phía bên nhà trai
nhân dân, Hà Nội, tr 690
8 Trần Thị Như Trang (2014), Hợp đồng tặng cho tài sản có điều kiện theo quy định của pháp luật Việt Nam,
Luận văn thạc sĩ, Trường Đại học Luật TPHCM, tr 26
9 Trường Đại học Luật Tp HCM (2018), Giáo trình những quy định chung về luật dân sự, Nxb Hồng Đức –
Hội Luật gia Việt Nam, TPHCM, tr 75 -76
Trang 1812
không yêu cầu phía bên nhà gái “thực hiện một hoặc nhiều nghĩa vụ dân sự trước
hoặc sau khi tặng cho” Trong trường hợp này, liệu có thể khai thác quy định về
giao dịch có điều kiện hủy bỏ thuyết phục hơn vì điều kiện ở đây không nhất thiết phải là thực hiện một hay nhiều nghĩa vụ dân sự? 10 Tuy nhiên, tác giả cho rằng vẫn
có thể khai thác quy định này, điều kiện tặng cho là phải tiến hành hôn lễ, trong trường hợp hôn ước bị huỷ bỏ thì bên được tặng cho phải trả lại tài sản tặng cho là sính lễ được tặng cho
Khi nghiên cứu về vấn đề điều kiện tặng cho có thể là sự kiện pháp lý, một
học giả có quan điểm như sau: “điều luật có tiêu đề là “Tặng cho tài sản có điều
kiện” và, khi đi vào nội dung, điều luật chỉ đề cập đến trường hợp bên tặng cho
“yêu cầu bên được tặng cho thực hiện một hay nhiều nghĩa vụ dân sự trước hoặc sau khi tặng cho” Với quy định như vậy, khi các bên thống nhất “bên được tặng cho thực hiện một hoặc nhiều nghĩa vụ dân sự trước hoặc sau khi tặng cho” thì tồn tại hợp đồng tặng cho có điều kiện Tuy nhiên, với tiêu đề và nội hàm của điều luật, chúng ta có thể cho rằng điều kiện trong hợp đồng tặng cho không chỉ giới hạn ở việc “bên được tặng cho thực hiện một hoặc nhiều nghĩa vụ dân sự trước hoặc sau khi tặng cho” Nói cách khác, đây chỉ là một trong những trường hợp có thể của hợp đồng tặng cho tài sản có điều kiện và hoàn toàn có thể tồn tại điều kiện khác (tùy vào sự tưởng tượng của các bên liên quan).”11 Trên thực tế xảy ra phổ biến các trường hợp điều kiện tặng cho được các bên thỏa thuận mang tính chất là điều kiện phát sinh, ví dụ: A thoả thuận tặng cho B 100 triệu đồng nếu B đạt giải nhất trong cuộc đua marathon, lúc này điều kiện phát sinh là cuộc đua xảy ra và A thắng, B phải có nghĩa vụ tặng cho 100 triệu đồng; hoặc trường hợp điều kiện tặng cho là điều kiện hủy bỏ như ví dụ về hợp đồng tặng cho sính lễ giữa ông A và bà B vừa nêu trên, nếu điều kiện “tổ chức lễ cưới theo ngày giờ đã định” không xảy ra thì hợp đồng bị hủy bỏ Như vậy, điều kiện tặng cho trong HĐTCTSCĐK cũng có thể được nhìn nhận là sự kiện mà quyền và nghĩa vụ của các bên phụ thuộc vào đó
BLDS Nhật Bản coi điều kiện tặng cho là nghĩa vụ khi quy định HĐTCTSCĐK là việc áp đặt các nghĩa vụ đối với bên được tặng cho 12 Điều 190
10 Đỗ Văn Đại (2018), Luật Hợp đồng Việt Nam – Bản án và bình luận bản án (tập 2), Nxb Hồng Đức – Hội
Luật gia Việt Nam, Hà Nội, tr 724 -725
11 Đỗ Văn Đại, tlđd (10), tr 724
12 Lê Thị Hoài Ân (2015), “Quy định của pháp luật về tặng cho tải sản ở một số quốc gia trên thế giới và ở
Trang 1913
Luật Hợp đồng Nhân dân Trung Hoa cũng quy định: “người tặng cho có thể kèm
thêm nghĩa vụ Nếu tặng cho kèm thêm nghĩa vụ, thì người được tặng cho cần thực hiện nghĩa vụ theo thỏa thuận” Tương tự, Điều 522 BLDS và Thương mại Thái
Lan quy định: “việc tặng cho có thể thực hiện được bằng cách đồng ý miễn cho
người nhận việc thi hành một nghĩa vụ, hoặc bằng cách thi hành một nghĩa vụ mà người nhận có bổn phận phải thi hành.” Có thể thấy, tuy không quy định cụ thể về
khái niệm điều kiện tặng cho trong chế định HĐTCTSCĐK của mình nhưng các quốc gia cho rằng điều kiện tặng cho chính là nghĩa vụ mà các bên thỏa thuận phải thực hiện trong hợp đồng
Như vậy, điều kiện tặng cho có thể được hiểu là thỏa thuận giữa các bên
trong HĐTCTSCĐK, theo đó bên được tặng cho phải thực hiện một hoặc một số nghĩa vụ nhất định theo yêu cầu của bên tặng cho Nghĩa vụ này có thể được thực hiện trước hoặc sau khi tặng cho theo thỏa thuận giữa các bên Điều kiện tặng cho cũng có thể là sự kiện làm phát sinh hoặc chấm dứt hợp đồng tặng cho tài sản
1.1.2.2 Khái niệm hợp đồng tặng cho tài sản có điều kiện
Trong BLDS năm 2015 tồn tại các thuật ngữ: “giao dịch dân sự có điều
kiện” và “hợp đồng có điều kiện”, “tặng cho tài sản có điều kiện” để làm rõ vấn đề
này cần có một công trình nghiên cứu sâu rộng và trong phạm vi đề tài nghiên cứu, tác giả chỉ nhìn nhận HĐTCTSCĐK dưới góc độ là một dạng của HĐTCTS từ những quy định có liên quan của BLDS năm 2015 Trong các quy định về
HĐTCTS, BLDS năm 2015 đã dành riêng một điều luật với tên gọi là Tặng cho tài
sản có điều kiện (Điều 462) để điều chỉnh các vấn đề phát sinh trong hợp đồng tặng
cho tài sản có kèm theo điều kiện Tuy nhiên, BLDS năm 2015 lại không đưa ra
khái niệm nào về “HĐTCTSCĐK” trong khi thực tiễn xét xử các Tòa án đều mạnh
dạng xác định quan hệ tranh chấp giữa các bên là quan hệ HĐTCTSCĐK Cụ thể,
Tòa án nhận định: “xét thấy hợp đồng tặng cho tài sản giữa ông Đ và chị A là hợp
đồng tặng cho tài sản có điều kiện: theo đó ông Đ sẽ cho chị A số tiền 500.000.000 đồng, chị có nghĩa vụ về chung sống như vợ chồng với ông”13 Một bản án khác cũng được Tòa án tuyên giữa các bên trong hợp đồng tồn tại quan hệ tặng cho tài
sản có điều kiện:“…bản chất của việc tặng cho nhà đất giữa bà V, ông L và bà D là
Việt Nam”, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật, số 12, tr 54
13 Bản án số 82/2020/ DS-ST ngày 03/11/2020 về việc “Tranh chấp hợp tặng cho tài sản” của TAND huyện Long Hồ tỉnh Vĩnh Long
Trang 2014
“Tặng cho tài sản có điều kiện” theo quy định tại Điều 462 Bộ luật Dân sự năm 2015”14 Rất tiếc trong các nhận định này, Tòa án chỉ xác định mà không lý giải khái niệm HĐTCTSCĐK
Trong khoa học pháp lý Việt Nam có một số tác giả đưa ra quan điểm về
HĐTCTSCĐK như sau: “hợp đồng tặng cho tài sản có điều kiện là sự thỏa thuận
trong đó bên tặng cho sẽ cân nhắc việc chuyển giao tài sản và quyền sở hữu tài sản cho bên thụ nhận sau khi bên thụ nhận thực hiện một hay nhiều nghĩa vụ dân sự là điều kiện của hợp đồng tặng cho hoặc là sự thỏa thuận về việc tặng cho sẽ bị hủy
bỏ sau khi được tặng cho mà bên nhận tặng cho không thực hiện được nghĩa vụ dân
sự do bên tặng cho yêu cầu trước khi tặng cho”.15 Một tác giả khác lại cho rằng:
“hợp đồng tặng cho tài sản có điều kiện là hợp đồng tặng cho tài sản, theo đó bên
tặng cho có thể yêu cầu bên được tặng cho thực hiện một hoặc nhiều nghĩa vụ trước hoặc sau khi tặng cho Điều kiện tặng cho không được vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội và không được làm thay đổi tính chất không có đền bù của hợp đồng tặng cho tài sản”16 Pháp luật các nước hầu như không đưa ra khái niệm HĐTCTSCĐK, tuy nhiên, trong bất kỳ quy định nào về HĐTCTS cũng đều đề cập đến loại hợp đồng này Điều 525 BLDS Đức quy định về tặng cho có điều kiện:
“bất kỳ ai tặng cho theo một điều kiện đều có thể yêu cầu rằng điều kiện đó phải
được đáp ứng nếu bản thân anh ta đã thực hiện Nếu việc thực hiện điều kiện là vì lợi ích công cộng, thì cơ quan công quyền có thẩm quyền cũng có thể yêu cầu thực hiện điều kiện sau khi người tặng cho qua đời.” Điều 522 BLDS và Thương mại
Thái Lan quy định: “việc tặng cho có thể thực hiện được bằng cách đồng ý miễn
cho người nhận việc thi hành một nghĩa vụ, hoặc bằng cách thi hành một nghĩa vụ
mà người nhận có bổn phận phải thi hành”
Như vậy, dựa trên lý luận về điều kiện tặng cho trong HĐTCTS theo quy định của BLDS năm 2015 cũng như góc nhìn của pháp luật nước ngoài có thể xem
HĐTCTSCĐK là HĐTCTS, theo đó các bên tự thỏa thuận với nhau về việc bên được tặng cho phải thực hiện một hoặc một số điều kiện tặng cho là sự kiện hoặc nghĩa vụ dân sự Điều kiện này có thể được thực hiện trước hoặc sau khi tặng cho
14 Bản án số 26/2019/DS-PT ngày 14/01/2019 về việc “Tranh chấp yêu cầu huỷ hợp đồng tặng cho” của TAND TPHCM
15 Trần Thị Như Trang, tlđd (8), tr 30
16 Lê Thị Giang, tlđd (2), tr 33
Trang 2115
1.2 Đặc điểm của hợp đồng tặng cho tài sản có điều kiện
HĐTCTSCĐK là một loại HĐTCTS, do đó HĐTCTSCĐK sẽ mang đầy đủ những đặc điểm đặc trưng nhất của một HĐTCTS Tuy nhiên, qua quá trình nghiên cứu, khoa học pháp lý cũng có nhiều quan điểm tranh luận về các đặc điểm của loại hợp đồng này, vấn đề này sẽ được tác giả phân tích dưới đây
1.2.1 Tính đơn vụ hay song vụ
Căn cứ vào tương quan quyền và nghĩa vụ của chủ thể trong hợp đồng, khoa học pháp lý chia hợp đồng thành các loại chủ yếu trong đó có hợp đồng song vụ và hợp đồng đơn vụ Hợp đồng song vụ là hợp đồng mà mỗi bên đều có nghĩa vụ đối với nhau (khoản 1 Điều 402 BLDS năm 2015) Trong hợp đồng song vụ, mỗi bên vừa có quyền vừa có nghĩa vụ Quyền và nghĩa vụ của các bên luôn đối ứng với nhau, quyền của bên này là nghĩa vụ của bên kia và ngược lại Hợp đồng đơn vụ là hợp đồng mà chỉ một bên có nghĩa vụ (khoản 1 Điều 401 BLDS năm 2015) 17
Đối với HĐTCTSCĐK thì còn nhiều quan điểm trái ngược nhau về tính đơn
vụ hay song vụ của hợp đồng Theo quan điểm pháp lý truyền thống của nước ta từ trước tới nay, HĐTCTS được xác định là hợp đồng đơn vụ 18 Theo đó: “…không thể
coi hợp đồng tặng cho có điều kiện là hợp đồng song vụ, trong đó hai bên cùng có nghĩa vụ được, vì quyền của bên này không tương ứng với nghĩa vụ của bên kia”.19
Nhưng cũng có học giả lại cho rằng: “hợp đồng tặng cho có thể là hợp đồng đơn vụ,
có thể là hợp đồng song vụ” Học giả cho rằng trong quan hệ hợp đồng này, một
bên được nhận tài sản tặng cho mà không phải thực hiện một nghĩa vụ gì đối với bên đã tặng cho (trừ trường hợp tặng cho có điều kiện) Như vậy, HĐTCTS không phải hoàn toàn bao giờ cũng là đơn vụ Đối với hợp đồng tặng cho có điều kiện được coi là hợp đồng song vụ 20
Hợp đồng tặng cho kèm theo điều kiện của người được tặng cho, được BLDS Nhật Bản xác định là loại hợp đồng song phương, vì nó phát sinh nghĩa vụ
của bên tặng cho cũng như bên được tặng cho: “các quy định liên quan tới hợp
17 Trường Đại học Luật TPHCM (2017), Giáo trình hợp đồng và bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng (tái bản lần thứ 1, có sửa đổi và bổ sung), Nxb Hồng Đức – Hội Luật gia Việt Nam, TPHCM, tr 128
Trang 22coi như là trách nhiệm đối với họ: “nếu việc tặng cho có kèm theo một trách nhiệm
và người nhận không thực hiện trách nhiệm đó, thì người cho có thể theo những điều kiện về hủy bỏ trong trường hợp là các hợp đồng song phương, yêu cầu hoàn trả vật tặng cho theo quy định và hoàn trả phần làm giàu không chính đáng trong chừng mực mà vật tặng cho phải được sử dụng để thực hiện trách nhiệm trên”
Dựa trên góc nhìn của khoa học pháp lý trong nước cũng như tham khảo quy định của pháp luật nước ngoài, tác giả cho rằng HĐTCTS sẽ là hợp đồng đơn vụ còn HĐTCTSCĐK là một hợp đồng song vụ Khoản 2 Điều 402 BLDS năm 2015
quy định: “hợp đồng đơn vụ là hợp đồng mà chỉ một bên có nghĩa vụ” Tính đơn vụ
trong HĐTCTS được xác định bởi trong hợp đồng này chỉ có bên tặng cho tài sản là bên có nghĩa vụ thông báo khuyết tật của tài sản (Điều 461) và trách nhiệm đối với bên được tặng cho khi cố ý tặng tài sản không thuộc quyền sở hữu của mình (Điều 460) Luật không quy định nghĩa vụ của bên nhận tài sản tặng cho, tuy nhiên, đối với HĐTCTSCĐK tác giả cho rằng hợp đồng này vẫn có thể được nhìn nhận dưới góc độ của một hợp đồng song vụ Tính song vụ được lý giải bởi khoản 1 Điều 402
BLDS năm 2015 định nghĩa: “hợp đồng song vụ là hợp đồng mà mỗi bên đều có
nghĩa vụ đối với nhau” Trong HĐTCTSCĐK, luật cũng có quy định nghĩa vụ giữa
bên cho và bên nhận đối với nhau Ngoài nghĩa vụ của bên tặng đã được phân tích ở tính đơn vụ thì bên được tặng cho cũng có nghĩa vụ thực hiện điều kiện tặng cho Theo đó, bên tặng cho là bên có quyền đưa ra điều kiện tặng cho buộc bên được tặng cho phải thực hiện, điều này thể hiện rất rõ trong quy định tại khoản 1 Điều
462 BLDS năm 2015: “bên tặng cho có thể yêu cầu bên được tặng cho thực hiện
một hoặc nhiều nghĩa vụ trước hoặc sau khi tặng cho” và lúc này tương ứng với
quyền của bên tặng cho, bên được tặng cho phải thực hiện điều kiện tặng cho Do
đó, việc thực hiện điều kiện tặng cho được xác định là nghĩa vụ của bên được tặng cho Bên cạnh đó, khoản 3 Điều 462 BLDS năm 2015 cũng quy định rất rõ về trách nhiệm của bên được tặng cho khi không thực hiện điều kiện tặng cho, theo đó:
“trường hợp phải thực hiện nghĩa vụ sau khi tặng cho mà bên được tặng cho không
thực hiện thì bên tặng cho có quyền đòi lại tài sản và yêu cầu bồi thường thiệt hại”
Trang 2317
Đây là quy định về hệ quả pháp lý của bên được tặng cho khi vi phạm điều kiện đã thỏa thuận trong hợp đồng, thực chất hành vi phạm điều kiện tặng cho này là hành
vi vi phạm nghĩa vụ để từ đó có cơ chế xử lý là buộc bên được tặng cho phải trả lại
tài sản đồng thời phải bồi thường thiệt hại Nếu không coi việc thực hiện điều kiện
tặng cho là nghĩa vụ của bên được tặng cho tài sản thì sẽ không có cơ sở pháp lý để giải quyết trường hợp bên tặng cho đã chuyển giao tài sản nhưng bên được tặng cho không thực hiện điều kiện.21 Như vậy, HĐTCTSCĐK vẫn có thể được xem xét
là một hợp đồng song vụ
Việc xác định tính đơn vụ hay song vụ của HĐTCTS nói chung và HĐTCTSCĐK nói riêng có ý nghĩa pháp lý quan trọng về mặt lý luận lẫn thực tiễn
Thứ nhất, tính song vụ của HĐTCTSCĐK là cơ sở để các bên xác định quyền và
nghĩa vụ của mình trong hợp đồng, từ đó đưa ra cách hành xử thiện chí để đạt được
mục đích giao kết cuối cùng mà các bên đã thỏa thuận Thứ hai, việc xác định tính
song vụ của HĐTCTSCĐK đồng nghĩa với việc xác định nghĩa vụ của bên tặng cho
và bên được tặng cho, là nền tảng để xác định hệ quả pháp lý và xây dựng chế tài xử
lý trong trường hợp một hoặc các bên vi phạm điều kiện đã thỏa thuận trong hợp đồng Đây là cơ chế để đảm bảo hiệu lực áp dụng của HĐTCTSCĐK
1.2.2 Tính thực tế hay ưng thuận
Lý thuyết về hợp đồng chỉ ra rằng, hợp đồng ưng thuận là hợp đồng mà hiệu lực của nó phát sinh từ thời điểm các bên thỏa thuận xong nội dung cần thiết (chủ yếu) của hợp đồng Về nguyên tắc, hợp đồng ưng thuận là hợp đồng mà hiệu lực của nó được tạo lập tại thời điểm các bên chấp nhận, đồng thuận hoàn toàn với nhau
về mặt nội dung của hợp đồng Hợp đồng thực tế là hợp đồng mà hiệu lực của nó phát sinh từ thời điểm mà các bên thực tế đã chuyển giao cho nhau đối tượng của hợp đồng Đặc điểm của cơ bản của hợp đồng thực tế là hiệu lực của nó lệ thuộc vào thời điểm thực tế, khi một bên hứa giao tài sản đã thực hiện hành vi chuyển giao tài sản cho bên kia 22 Phần lớn các quan điểm trong nước đều cho rằng HĐTCTS nói chung và HĐTCTSCĐK nói riêng là hợp đồng thực tế Cụ thể, theo
Giáo trình Luật Dân sự Việt Nam của Trường Đại học Luật Hà Nội thì: “hợp đồng
tặng cho tài sản là hợp đồng thực tế Đặc điểm thực tế của hợp đồng được thể hiện
21 Lê Thị Giang, tlđd (2), tr 35
22 Trường Đại học Luật TPHCM, tlđd (17), tr 132 -133
Trang 2418
khi bên được tặng cho nhận tài sản thì khi đó quyền của các bên mới phát sinh Do
đó, mọi thỏa thuận chưa có hiệu lực khi chưa giao tài sản”23 Một học giả khác
cũng có cùng quan điểm: “sự đồng ý của bên được tặng cho quyết định cho hợp
đồng được xác lập, song hợp đồng chỉ có hiệu lực khi tài sản được tặng cho được trao cho bên được tặng cho (hợp đồng thực tế) Như vậy, đây là hợp đồng thực tế, đơn vụ và không có đền bù”24 Ngược lại, có quan điểm cho rằng: “tặng cho tài sản
có thể là hợp đồng thực tế, có thể là hợp đồng ưng thuận”25 Một tác giả ủng hộ
quan điểm này nhận định như sau: “có thể khẳng định rằng, hợp đồng tặng cho là
hợp đồng không có tính đền bù, tuy nhiên nếu nói rằng hợp đồng tặng cho là hợp đồng thực tế thì còn cần phải xem xét”26 Tác giả này lý giải dựa vào quy định tại
khoản 1 Điều 458 BLDS năm 2015: “hợp đồng tặng cho động sản có hiệu lực kể từ
thời điểm bên được tặng cho nhận tài sản, trừ trường hợp có thỏa thuận khác” Tác
giả này cho rằng thời điểm “nhận tài sản” theo quy định trên có thể là nhận tài sản
về mặt pháp lý lẫn về mặt thực tiễn Nói cách khác, việc bên được tặng cho đồng ý nhận tài sản có thể là đồng ý nhận tài sản ngay tức thì và cũng có thể là đồng ý nhận tài sản vào thời điểm nào đó trong tương lai Và theo đó, HĐTCTS là hợp đồng thực tế khi thời điểm ký kết hợp đồng và thời điểm giao tài sản trùng nhau, tức là
“nhận tài sản” trên thực tế Trường hợp thời điểm giao tài sản và thời điểm ký hợp đồng không trùng nhau, thông thường trong trường hợp này tài sản sẽ được chuyển giao tại một thời điểm xác định trong tương lai sau khi HĐTCTS được ký kết, tức là
“nhận tài sản” về mặt pháp lý thì HĐTCTS là hợp đồng ưng thuận
Về việc xác định tính thực tế hay ưng thuận của HĐTCTS, pháp luật nước ngoài cũng quy định khác nhau BLDS Pháp cho rằng tặng cho là một hợp đồng
ưng thuận tuyệt đối khi quy định: “một chứng thư tặng cho phải lập trước công
chứng viên, theo hình thức thông thường của hợp đồng và được công chứng viên lưu bản chính Nếu không tuân thủ các quy định này, chứng thư tặng cho sẽ vô
của hai bên; quyền sở hữu tài sản tặng cho được chuyển cho người được tặng cho
23 Đại học Luật Hà Nội (2006), Giáo trình Luật Dân sự Việt Nam (tập 2), Nxb Công an Nhân dân, Hà Nội,
tr 156
24 Nguyễn Xuân Quang, Lê Nết, Nguyễn Hồ Bích Hằng (2007), Luật Dân sự Việt Nam, Nxb Đại học Quốc
gia TPHCM, tr 397
25 Nguyễn Hải An, tlđd (19), tr 17
26 Dương Anh Sơn, tlđd (1), tr 14
Trang 2519
mà không cần phải chuyển giao tài sản trên thực tế” (Điều 938) Điều 549 BLDS
Nhật Bản cũng xem HĐTCTS có tính ưng thuận, theo đó: “hợp đồng có hiệu lực,
khi một bên tuyên bố chuyển giao không hoàn lại tài sản của mình cho bên kia và bên kia đồng ý nhận nó.”27 Ngược lại, Điều 521 BLDS và Thương mại Thái Lan cho rằng tặng cho tài sản là một hợp đồng thực tế khi quy định tặng cho có hiệu lực
từ thời điểm bên được tặng cho nhận tài sản: “tặng cho là một hợp đồng trong đó
một bên gọi là bên tặng cho, chuyển một tài sản của chính mình cho bên kia, gọi là bên được tặng cho mà không đền bù và bên được tặng cho đồng ý nhận tài sản đó”
Như vậy, trong khoa học pháp lý Việt Nam cũng như pháp luật dân sự của Pháp, Thái Lan, Nhật Bản có quan điểm và quy định khác nhau về tính chất thực tế hay ưng thuận của HĐTCTS Qua nghiên cứu thấy rằng tính thực tế hay tính ưng thuận của hợp đồng đã được ghi nhận trong cổ luật Việt Nam28, khi đó dựa vào tiêu chí phân loại theo hình thức các khế ước chia thành: khế ước hiệp ý (les contrats consensuels) 29 , khế ước trọng thể (les contrats solennels) 30 và khế ước giao vật (les contrats réels) 31 Xét về bản chất có thể thấy rằng hợp đồng ưng thuận chính là khế ước hiệp ý, còn hợp đồng thực tế là khế ước giao vật Đồng thời, trong bài viết của mình, tác giả Vũ Văn Mẫu cũng khẳng định tặng cho động sản là khế ước giao vật
và tặng cho bất động sản là khế ước trọng thể.32 Trong lịch sử cổ luật La Mã, quan niệm khế ước giao vật chỉ đánh dấu một phản ứng chống lại quan niệm khế ước trọng thức trên con đường tiến đến nguyên tắc hiệp ý 33 Ngày nay, trong quy định tại Điều 458 và Điều 459 BLDS năm 2015 về thời điểm có hiệu lực của HĐTCTS
đề cập đến khế ước giao vật và khế ước trọng thể Theo đó, nếu đối tượng là tài sản
27 Lê Thị Hoài Ân, tlđd (12), tr 53
28 Vũ Văn Mẫu (1963), Việt Nam dân luật lược khảo - Khế ước và Nghĩa vụ, Bộ Giáo dục quốc gia xuất bản,
Hà Nội, tr 61 -63
29 Khế ước hiệp ý là các khế ước hiệp ý do sự ưng thuận của các người kết ước lập thành là loại khế ước chính yếu Cũng như Dân luật của Pháp, Dân luật Việt Nam công nhận nguyên tắc hiệp ý (principe du consesualisme) và coi sự ưng thuận là căn bản Như vậy, khế ước có thể được kết lập một khi ý chí của đôi bên đã gặp gỡ nhau và thỏa thuận, không cần phải ký kết một chứng thư gì cả
30 Khế ước trọng thể là trong các khế ước trọng thể, nhà lập pháp hoặc bắt buộc các khế ước ấy phải do chưởng thể hay một công lại có thẩm quyền soạn thảo, hoặc bắt buộc phải ghi một số điều khoản nhất định, mục đích để bảo vệ các đương sự trong trường hợp ký kết các khế ước quan trọng và lưu ý họ đặc biệt tới một số điều khoản thiết yếu
31 Khế ước giao vật là sự thiết lập các khế ước này phải tùy thuộc thiết yếu vào sự giao nạp đồ vật (la tradition) Nếu yếu tố này chưa thực hiện, chưa có khế ước giao vật
32 Giải pháp này đã được chấp nhận minh thị trong Điều 866 Dân luật Bắc và Điều 9769 Dân luật Trung: “sự tặng dữ tiền bạc hay động sản không phải theo hình thức nào cả Sự tặng dữ ấy được thực hiện bằng cách
người tặng chủ giao vật cho người thụ tặng.” (Xem Vũ Văn Mẫu, tlđd (28), tr 64.)
33 Vũ Văn Mẫu, tlđd (28), tr 65
Trang 2620
không phải đăng ký quyền sở hữu thì hợp đồng có hiệu lực từ thời điểm bên tặng cho nhận tài sản (khế ước giao vật); nếu đối tượng là tài sản phải đăng ký quyền sở hữu thì hợp đồng có hiệu lực từ thời điểm đăng ký (khế ước trọng thể) Hợp đồng trọng thức (khế ước trọng thể) là hợp đồng mà theo quy định của pháp luật, thì hiệu lực của nó phát sinh từ thời điểm các bên thỏa thuận xong nội dung chủ yếu của hợp đồng và sự thỏa thuận đó được thể hiện dưới một hình thức xác định, nếu pháp luật
có quy định hợp đồng phải được lập thành hình thức đó Đặc điểm cơ bản của hợp đồng trọng thức cũng có tính chất ưng thuận về nội dung, tức phải có sự trùng hợp ý chí giữa các bên, nhưng sự đồng thuận đó còn phải được thể hiện ra bên ngoài bằng một hình thức xác định thì hợp đồng mới có giá trị pháp lý 34 Cũng vì lẽ đó mà nhiều tác giả cho rằng tặng cho bất động sản phải xác lập bằng hình thức văn bản
nên thông thường sẽ là hợp đồng ưng thuận Theo đó, có tác giả nhận định: “thông
thường, nếu được ký kết bằng lời nói thì hợp đồng tặng cho là hợp đồng thực tế… nếu tặng cho được lập thành văn bản thì hợp đồng thường là hợp đồng ưng thuận”35 hoặc “để minh chứng cho rằng hợp đồng tặng cho có thể là hợp đồng thực
tế, có thể là hợp đồng ưng thuận, nếu tặng cho lập thành văn bản thì hợp đồng thường là hợp đồng ưng thuận”36
Điều 458 và Điều 459 BLDS năm 2015 quy định về thời điểm có hiệu lực của HĐTCTS, trong đó nếu đối tượng là tài sản không phải đăng ký quyền sở hữu thì hợp đồng có hiệu lực từ thời điểm bên được tặng cho nhận tài sản (khế ước giao vật); nếu đối tượng là tài sản phải đăng ký quyền sở hữu thì hợp đồng có hiệu lực từ thời điểm đăng ký (khế ước trọng thể) Tuy nhiên, đối với HĐTCTSCĐK, tác giả cho rằng không thể áp dụng Điều 458 và Điều 459 BLDS năm 2015 mà nên đưa vào quy định riêng trong luật chuyên ngành như Luật Đất đai, Luật Nhà ở… nếu không có quy định của luật chuyên ngành thì áp dụng quy định chung về thời điểm
có hiệu lực của hợp đồng theo Điều 401 BLDS năm 2015 37 Theo đó, nếu đối tượng của HĐTCTSCĐK là nhà ở thì hợp đồng có tính trọng thể (hợp đồng tặng cho nhà ở phải lập thành văn bản có công chứng, chứng thực và có hiệu lực từ thời điểm công chứng chứng thực (khoản 1 Điều 122 Luật Nhà ở năm 2014)); nếu đối tượng là quyền sử dụng đất thì HĐTCTSCĐK cũng là hợp đồng trọng thể (hợp đồng tặng
34 Trường Đại học Luật TPHCM, tlđd (17), tr 145
35 Dương Anh Sơn, tlđd (1), tr 16
36 Lê Thị Hoài Ân, tlđd (12), tr 58
37 Vấn đề này sẽ được phân tích chi tiết tại Mục 1.3 của Khóa luận này
Trang 2721
cho bất động sản phải tuân theo thủ tục đăng ký và có hiệu lực từ thời điểm đăng ký (khoản 3 Điều 188 Luật Đất đai năm 2013); nếu đối tượng của hợp đồng là các tài sản khác không có quy định của luật chuyên ngành thì HĐTCTSCĐK có hiệu lực từ thời điểm giao kết, tức là hợp đồng ưng thuận
1.2.3 Tính không có đền bù
Theo từ điển tiếng Việt, “đền bù” là “trả lại đầy đủ, tương xứng với công
lao, sự mất mát hoặc sự vất vả”.38 Dựa vào tính chất có đi có lại về lợi ích giữa các bên tham gia hợp đồng thì hợp đồng có đền bù là hợp đồng mà trong đó có một bên nhận được một lợi ích thì phải chuyển cho bên kia một lợi ích tương ứng Ví dụ hợp đồng mua bán, trao đổi, thuê tài sản, hay các hợp đồng dịch vụ, vận chuyển, gia công… Sự đền bù trong trường hợp này không đồng nghĩa với việc bồi thường thiệt hại Bồi thường thiệt hại là việc chủ thể có hành vi trái pháp luật xâm phạm tới tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, quyền và lợi ích hợp pháp của chủ thể khác gây thiệt hại thì phải bồi thường những thiệt hại do mình gây ra Việc bồi thường có thể xảy ra cho cả các quan hệ pháp luật trong hợp đồng hoặc ngoài hợp đồng Hợp đồng không có đền bù là hợp đồng mà trong đó một bên nhận được
từ bên kia một lợi ích nhưng không phải hoàn trả cho bên kia một lợi ích nào Trong hợp đồng không có đền bù thường không có sự trao đổi lợi ích giữa các bên, mà chủ yếu là chỉ có một bên chuyển giao lợi ích cho bên kia.39
Theo quan niệm truyền thống thì HĐTCTSCĐK là hợp đồng không có tính
đền bù Theo một quan điểm thì : “trong mọi trường hợp, điều kiện trong hợp đồng
tặng cho sẽ không bao giờ mang lại bất kỳ một lợi ích nào cho bản thân bên tặng cho”40 Tương tự, cũng có tác giả cho rằng: “có thể khẳng định rằng hợp đồng tặng
cho có điều kiện cũng phải mang tính chất không đền bù Điều kiện trong hợp đồng tặng cho có điều kiện phải là những công việc không mang lại lợi ích (cả vật chất lẫn tinh thần) cho bên tặng cho… Nếu điều kiện đó mang lại lợi ích cho bên tặng cho thì hợp đồng sẽ không được coi là hợp đồng tặng cho nữa Ví dụ: A tặng cho B chiếc xe đạp với điều kiện B phải quét vôi lại nhà cho A (hợp đồng này sẽ được coi
là hợp đồng dịch vụ có trả công dịch vụ bằng hiện vật chứ không phải là hợp đồng
38 Viện Ngôn ngữ học (2006), Từ điển Tiếng Việt, Nxb Đà Nẵng, tr 330
39 Trường Đại học Luật TPHCM, tlđd (17), tr 98
40 Tuấn Đạo Thanh và Phạm Thu Hằng (2014), “Bàn về điều kiện trong hợp đồng tặng cho tài sản”, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật, số 9, tr 17
Trang 2822
tặng cho tài sản, và khi phát sinh tranh chấp sẽ phải áp dụng các quy định đối với hợp đồng dịch vụ để giải quyết)”.41 Các quan điểm trên đều đồng tình HĐTCTSCĐK phải không có tính đền bù, các học giả lý giải tính “không có đền bù” dựa trên lý luận về việc bên được cho sẽ không nhận được bất kỳ một lợi ích nào (vật chất lẫn tinh thần) từ bên được tặng cho Tuy nhiên, hiện nay thực trạng giải quyết các tranh chấp về HĐTCTS, phần lớn Tòa án đều mạnh dạng xác định đối tượng tranh chấp là HĐTCTSCĐK với điều kiện tặng cho là nghĩa vụ chăm sóc, nuôi dưỡng, thờ cúng; nghĩa vụ trả một khoản tiền, thanh toán nợ… Rõ ràng các điều kiện vừa nêu đều mang lại cho chủ thể tặng cho ít nhiều các lợi ích nhất định
về vật chất lẫn tinh thần Như vậy, đặt ra vấn đề: trong HĐTCTS có những điều kiện tương tự vừa nêu có làm biến đổi bản chất cốt lõi của hợp đồng là tính “không
có đền bù” không?
Trước hết, bàn về khái niệm “không có đền bù”, theo từ điển Tiếng Việt thì
“đền bù” dùng đề chỉ “trả lại tương ứng với giá trị và công lao” 42 Thuật ngữ này tập trung nhấn mạnh vào yếu tố “tương ứng với giá trị”, vì vậy có thể nói rằng với những điều kiện tặng cho “không tương ứng với giá trị” thì tính “không có đền bù” của hợp đồng tặng cho tài sản vẫn được đảm bảo và việc “không tương ứng với giá trị” phải được hiểu với nghĩa rộng ra Điều kiện tặng cho nên có thể được chấp nhận
trong phạm vi “không tương ứng với giá trị”, bởi “thông thường một người nào đó
khi tặng cho người khác tài sản không phải không vì động cơ nào đó Động cơ tặng cho có thể không giống nhau: mong muốn thể hiện vị trí của mình đối với người được tặng cho; giúp đỡ người được tặng cho; làm vui lòng người được tặng cho, tỏ lòng biết ơn vì sự giúp đỡ trước đó; để được người được tặng cho tặng cho lại tài sản giá trị hơn hay sẽ có sự giúp đỡ của người này sau này… Như vậy, tính chất không bồi hoàn của hợp đồng tặng cho không có nghĩa là tặng cho không có nguyên nhân Trong một số trường hợp động cơ nằm trong hợp đồng (ý muốn nói tặng cho có điều kiện), tuy nhiên trong nhiều trường hợp khác động cơ nằm ngoài phạm vi hợp đồng”.43 Có thể xem xét đến những ví dụ sau để làm rõ phạm vi
“không tương ứng với giá trị”, ví dụ 1: trong HĐTCTS giữa bà A và anh B nêu rõ
bà A sẽ tặng cho toàn bộ quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất cho con trai
41 Bùi Đăng Hiếu (2006), “Tính chất đền bù của hợp đồng dân sự”, Tạp chí Luật học, số 11, xem tại
https://luatminhkhue.vn/tinh-chat-den-bu-cua-hop-dong-dan-su.aspx, truy cập lần cuối ngày 29/4/2021
42 Viện Ngôn ngữ học (2006), Từ điển Tiếng Việt, Nxb Đà Nẵng, tr 330
43 Dương Anh Sơn, tlđd (1), tr 17
Trang 2923
là anh B với điều kiện anh B phải có trách nhiệm, nghĩa vụ chăm sóc, phụng dưỡng
bà A đến cuối đời Ví dụ 2: Cụ S lập biên bản họp gia đình giao diện tích đất cho
bà T sử dụng và có kèm theo điều kiện bà T phải cấp dưỡng cho cụ S và cụ Đ mỗi năm là 9.000.000 đồng Những ví dụ đưa ra là những tranh chấp về HĐTCTSCĐK
điển hình trên thực tế với điều kiện tặng cho là chăm sóc, phụng dưỡng suốt đời hay cấp dưỡng với số tiền nhất định… và với những điều kiện như trên hoàn toàn đã được Tòa án chấp nhận 44 Xét về mặt lý luận cũng như về thực tiễn áp dụng, việc chấp nhận các điều kiện tặng cho trong HĐTCTSCĐK mang lại lợi ích vật chất hoặc lợi ích tinh thần ở mức độ nhất định hoàn toàn không làm mất đi tính “không
có đền bù” của HĐTCTS nói chung và HĐTCTSCĐK nói riêng bởi một số lý do
sau:
Thứ nhất, khoản 2 Điều 3 BLDS 2015 ghi nhận nguyên tắc tự do, tự nguyện
thỏa thuận không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội Như vậy, các bên trong HĐTCTS hoàn toàn có thể tự thỏa thuận với nhau các điều kiện tặng cho như chăm sóc, nuôi dưỡng, cấp dưỡng… bởi không một quy định pháp luật nào cấm thỏa thuận này Án lệ số 14/2017/AL về công nhận điều kiện của hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất mà điều kiện đó không được ghi trong hợp đồng, trong
đó Hội đồng Thẩm phán đã công nhận ba điều kiện tặng cho sau là hợp pháp, bao gồm: điều kiện làm nhà cho bên tặng cho ở, điều kiện nuôi dưỡng bên tặng cho và nuôi dưỡng cha mẹ của bên tặng cho Có thể thấy, các điều kiện vừa nêu ít nhiều mang lại lợi ích nhất định cho bên tặng cho nhưng đã được công nhận là điều kiện tặng cho hợp pháp trong hợp đồng và các điều kiện này không làm mất đi tính
“không có đền bù” của HĐTCTS Mặt khác, dưới góc nhìn của đạo đức xã hội từ muôn đời con cháu chăm sóc, nuôi dưỡng ông bà, cha mẹ, lo ma chay, thờ cúng tổ tiên là điều hợp với luân thường đạo lý
Thứ hai, xét về đúng bản chất của “đền bù”, tính “đền bù” nhấn mạnh yếu tố
“tương ứng với giá trị”, việc các bên trong HĐTCTS thỏa thuận với những điều
kiện dù mang lại cho bên tặng cho một hoặc một số lợi ích tinh thần hoặc lợi ích vật chất nhất định, nhưng những “lợi ích” được đề cập đến thường mang giá trị không
44 Bản án số 68/2020/DS-ST ngày 12/5/2020 về “Tranh chấp hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất và đòi lại tài sản” của TAND huyện HN, tỉnh Bình Định và Bản án số 119/2019/DS-PT ngày 15/11/2019 về “Tranh chấp hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất và hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất” của TAND tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu
Trang 3024
đáng kể so với giá trị tặng cho, vì vậy lợi ích này không thể được gán vào nhiệm vụ
“đền bù” cho bên tặng cho được Nói cách khác, khi giao vật cho bên được tặng cho, bên tặng cho đổi lại sẽ được hưởng một lợi ích nhất định từ việc bên kia thực hiện nghĩa vụ Tuy nhiên, điều này vẫn chưa thỏa mãn được tính chất mà một quan
hệ hợp đồng bền bù phải có Bởi lẽ, khi đó người tặng cho yêu cầu bên kia thực hiện vì nhu cầu tình cảm hay vật chất trong cuộc sống mà không tính toán đến những giá trị tương ứng với tài sản tặng cho 45 Đây là những hợp đồng không chịu
sự chi phối của quy luật giá trị mà mang tính chất tình cảm, tương trợ 46
Thứ ba, khi nói đến những điều kiện tặng cho “không tương ứng với giá trị”
thì tính “không có đền bù” của hợp đồng tặng cho tài sản vẫn được đảm bảo, tác giả
có đề cập đến việc “không tương ứng với giá trị” phải được hiểu rộng ra Phạm vi
rộng ở đây là nói đến nguồn gốc sâu xa nhất dẫn đến hình thành HĐTCTSCĐK Điều kiện cần để một chủ thể trao tặng lại tài sản của mình cho một chủ thể khác là xuất phát từ tình cảm cá nhân, lòng biết ơn, sự tin tưởng, tín nhiệm… và điều kiện
đủ để phát sinh hợp đồng này chính là sự “tự tin”, dư dả về mặt vật chất và sự đảm bảo đáp ứng đầy đủ nhu cầu cuộc sống của bên tặng cho Bởi một chủ thể dù xuất phát từ nhu cầu tình cảm cá nhân nhưng họ không sẵn sàng về mặt vật chất thì thật khó để họ tự nguyện dành tặng tài sản của mình cho một ai khác (không kể trường hợp HĐTCTS vô hiệu do giả tạo) Do đó, việc xác lập HĐTCTSCĐK, bên tặng cho yêu cầu được nhận lại một hoặc một số lợi ích không đáng kể so với tài sản tặng cho như chăm sóc, thờ cúng, cấp dưỡng… nên được xem xét dưới góc nhìn mở rộng cho cả bên tặng cho và bên được tặng cho mà không nên áp đặt những điều
kiện này vào tính “đền bù ngang giá” Vì thế, tác giả cũng đồng tình với quan điểm cho rằng: “tặng cho tài sản có điều kiện là hợp đồng chuyển giao tài sản và quyền
sở hữu tài sản cho bên được tặng cho không mang tính chất đền bù ngang giá Việc thực hiện một hay nhiều nghĩa vụ trước hoặc sau khi tặng cho chỉ là điều kiện tặng cho, mà không xác định cụ thể nghĩa vụ bên được tặng cho phải thực hiện trị giá được bằng tiền ngang giá với tài sản được tặng cho”47
45 Trần Thị Như Trang, tlđd (8), tr 35
46 Trường Đại học Luật TPHCM, tlđd (17), tr 126
47 Phùng Trung Tập (2020), “Bàn về hợp đồng tặng cho có điều kiện”, Tạp chí Kiểm sát, số 04, tr 40
Trang 3125
1.3 Hiệu lực của hợp đồng tặng cho tài sản có điều kiện
BLDS năm 2015 không quy định riêng về thời điểm có hiệu lực của HĐTCTSCĐK, do đó về nguyên tắc để xác định thời điểm có hiệu lực của hợp đồng này thì phải áp dụng quy định về thời điểm có hiệu lực của HĐTCTS tại Điều
458 và Điều 459 BLDS năm 2015 Theo đó: “hợp đồng tặng cho động sản có hiệu
lực kể từ thời điểm bên được tặng cho nhận tài sản, trừ trường hợp có thỏa thuận khác Đối với động sản mà luật có quy định đăng ký quyền sở hữu thì hợp đồng tặng cho có hiệu lực kể từ thời điểm đăng ký Tặng cho bất động sản phải được lập thành văn bản có công chứng, chứng thực hoặc phải đăng ký, nếu bất động sản phải đăng ký quyền sở hữu theo quy định của luật Hợp đồng tặng cho bất động sản
có hiệu lực kể từ thời điểm đăng ký; nếu bất động sản không phải đăng ký quyền sở hữu thì hợp đồng tặng cho có hiệu lực kể từ thời điểm chuyển giao tài sản” BLDS
năm 2015 quy định thời điểm có hiệu lực của HĐTCTS theo hai hình thức của tài sản là động sản và bất động sản là không cần thiết, vì suy cho cùng trong hai điều luật trên các nhà làm luật lại dựa vào tính chất của tài sản là tài sản có đăng ký hay không đăng ký quyền sở hữu Như vậy, đối với tài sản không phải đăng ký quyền sở hữu thì thời điểm bên được tặng cho nhận tài sản là thời điểm có hiệu lực của HĐTCTS Đối với tài sản phải đăng ký quyền sở hữu (như nhà, đất, ô tô, xe máy ) thì thời điểm hợp đồng có hiệu lực là thời điểm tài sản được đăng ký
Quy định này của BLDS năm 2015 là phù hợp với quy định tại khoản 3 Điều
188 Luật Đất đai năm 2013: “việc chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê
lại, thừa kế, tặng cho, thế chấp quyền sử dụng đất, góp vốn bằng quyền sử dụng đất phải đăng ký tại cơ quan đăng ký đất đai và có hiệu lực kể từ thời điểm đăng ký vào
sổ địa chính”, tuy nhiên lại không phù hợp với quy định của pháp luật nhà ở Cụ
thể, khoản 1 Điều 122 Luật Nhà ở năm 2014 quy định: “trường hợp mua bán, tặng
cho, đổi, góp vốn, thế chấp nhà ở, chuyển nhượng hợp đồng mua bán nhà ở thương mại thì phải thực hiện công chứng, chứng thực hợp đồng, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều này Đối với các giao dịch quy định tại khoản này thì thời điểm có hiệu lực của hợp đồng là thời điểm công chứng, chứng thực hợp đồng” Theo quy
định này thì thời điểm hợp đồng tặng cho nhà ở có hiệu lực là thời điểm hợp đồng được công chứng, nhưng theo quy định của BLDS năm 2015 cũng như Luật Đất đai năm 2013 thì thời điểm hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất, nhà ở có hiệu lực là thời điểm đăng ký Bên cạnh đó, khoản 1 Điều 5 Luật Công chứng năm 2014 cũng
Trang 3226
khẳng định: “văn bản công chứng có hiệu lực kể từ ngày được công chứng viên ký
và đóng dấu của tổ chức hành nghề công chứng” Vậy hợp đồng tặng cho nhà ở,
quyền sử dụng đất chỉ có công chứng mà không đăng ký thì sẽ phát sinh hiệu lực không? Khoản 2 Điều 129 BLDS năm 2015 đưa ra phương án giải quyết đối với trường hợp hợp đồng vi phạm về hình thức lẽ ra phải công chứng nhưng không công chứng thì Tòa án sẽ căn cứ vào thực tiễn thực hiện nghĩa vụ trong hợp đồng để
công nhận hiệu lực của hợp đồng đó Theo đó: “giao dịch dân sự đã được xác lập
bằng văn bản nhưng vi phạm quy định bắt buộc về công chứng, chứng thực mà một bên hoặc các bên đã thực hiện ít nhất hai phần ba nghĩa vụ trong giao dịch thì theo yêu cầu của một bên hoặc các bên, Tòa án ra quyết định công nhận hiệu lực của giao dịch đó Trong trường hợp này, các bên không phải thực hiện việc công chứng, chứng thực” Tuy nhiên, đối với trường hợp HĐTCTS lẽ ra phải đăng ký nhưng
không đăng ký thì BLDS năm 2015 vẫn chưa đưa ra được giải pháp
Hai khái niệm “thời điểm có hiệu lực” và “thời điểm chuyển quyền sở hữu tài sản” trong HĐTCTS là khác biệt nhưng có mối liên hệ mật thiết với nhau, vì thực chất trong HĐTCTS, khi quyền sở hữu tài sản tặng cho được chuyển sang cho bên được tặng cho thì lúc này mục đích cuối cùng của hợp đồng mới đạt được Các điều luật quy định về HĐTCTS không có quy định về thời điểm chuyển quyền sở hữu đối với tài sản tặng cho Đối với tài sản tặng cho là nhà ở thì khoản 2 Điều 12 Luật Nhà ở năm 2014 quy định thời điểm chuyển quyền sở hữu đối với nhà ở tặng
cho là thời điểm nhận bàn giao nhà: “trường hợp góp vốn, tặng cho, đổi nhà ở thì
thời điểm chuyển quyền sở hữu là thời điểm bên nhận góp vốn, bên nhận tặng cho, bên nhận đổi nhận bàn giao nhà ở từ bên góp vốn, bên tặng cho, bên đổi nhà ở” mà
không phụ thuộc vào việc hợp đồng đó có hiệu lực hay chưa Đối với các loại tài sản khác, thời điểm chuyển quyền sở hữu không được quy định chi tiết trong luật chuyên ngành, nhưng có thể căn cứ vào quy định chung về thời điểm xác lập quyền
sở hữu tài sản tại Điều 161 BLDS năm 2015 để xác định thời điểm chuyển quyền sở hữu tài sản trong HĐTCTSCĐK là thời điểm giao/nhận tài sản tặng cho Theo đó:
“thời điểm xác lập quyền sở hữu, quyền khác đối với tài sản thực hiện theo quy định
của Bộ luật này, luật khác có liên quan; trường hợp luật không có quy định thì thực hiện theo thỏa thuận của các bên; trường hợp luật không quy định và các bên không có thỏa thuận thì thời điểm xác lập quyền sở hữu, quyền khác đối với tài sản
là thời điểm tài sản được chuyển giao Thời điểm tài sản được chuyển giao là thời
Trang 3327
điểm bên có quyền hoặc người đại diện hợp pháp của họ chiếm hữu tài sản” Tuy
có quy định riêng trong luật chuyên ngành nhưng có thể thấy Luật Nhà ở năm 2014 cũng thống nhất với BLDS năm 2015 về thời điểm chuyển quyền sở hữu tài sản là thời điểm nhận tài sản hay chiếm hữu tài sản Từ những quy định không thống nhất giữa các điều luật của BLDS năm 2015 với luật chuyên ngành, tác giả cho rằng không thể vận dụng quy định tại Điều 458 và 459 BLDS năm 2015 vào trong việc xác định thời điểm có hiệu lực của HĐTCTSCĐK, vì những lý do sau đây:
Thứ nhất, việc xác định thời điểm nhận tài sản hoặc thời điểm đăng ký là
thời điểm có hiệu lực của HĐTCTSCĐK là không bảo vệ được quyền lợi của bên được tặng cho trong quan hệ hợp đồng này Khoản 2 Điều 462 BLDS năm 2015 quy
định: “trường hợp phải thực hiện nghĩa vụ trước khi tặng cho, nếu bên được tặng
cho đã hoàn thành nghĩa vụ mà bên tặng cho không giao tài sản thì bên tặng cho phải thanh toán nghĩa vụ mà bên được tặng cho đã thực hiện.” Theo quy định này,
giữa các bên đã tồn tại quan hệ tặng cho có điều kiện và bên được tặng cho cũng đã hoàn thành điều kiện tặng cho nhưng do thời điểm thực hiện nghĩa vụ là “trước khi tặng cho”, tức là trước thời điểm nhận tài sản hoặc thời điểm đăng ký và đồng nghĩa với việc trước thời điểm có hiệu lực của HĐTCTS Về nguyên tắc, hợp đồng chưa
có hiệu lực thì quyền và nghĩa vụ giữa các bên chưa phát sinh, do đó, bên tặng cho
có quyền không giao tài sản và chỉ cần phải thanh toán Sở dĩ tồn tại quy định tại khoản 1 Điều 462 BLDS năm 2015 như trên là do chịu ảnh hưởng của quy định về thời điểm có hiệu lực của HĐTCTS Quy định như trên là chưa cân nhắc thận trọng đến quyền lợi của bên được tặng cho, bởi trong quan hệ hợp đồng này, họ là bên đã thiện chí thực hiện hợp đồng, thiện chí hoàn thành điều kiện tặng cho mà các bên thỏa thuận, thiện chí thực hiện nguyện vọng, ý chí của bên tặng cho tài sản Vì vậy, trong trường hợp này, hợp đồng lẽ ra phải có hiệu lực, bên được tặng cho khi đã hoàn thành nghĩa vụ của mình thì phải có quyền yêu cầu bên tặng cho thực hiện nghĩa vụ mà cụ thể là nghĩa vụ giao tài sản tặng cho Việc bên tặng cho thiện chí hoàn thành điều kiện tặng cho thì họ xứng đáng có được “phần thưởng” mà bên tặng cho dành tặng đã được thỏa thuận khi các bên xác lập quan hệ tặng cho tài sản
có điều kiện Bên cạnh đó, việc phân định “trách nhiệm thanh toán nghĩa vụ” của
bên tặng cho theo quy định tại khoản 2 Điều 462 BLDS năm 2015 là không khả thi, việc thanh toán bao nhiêu, thanh toán như thế nào, xác định nghĩa vụ nào được thành toán… là những vấn đề quan trọng nhưng không được quy định hay hướng
Trang 3428
dẫn chi tiết là không đảm bảo quyền lợi của bên được tặng cho trong quan hệ hợp đồng này Ví dụ: A tặng cho B ngôi nhà với điều kiện B phải chăm sóc A đang bệnh tật đau yếu nằm viện Khi B đã thực hiện xong thì có thể vì những lý do chủ quan hay khách quan, A không thể thực hiện nghĩa vụ chuyển giao tài sản Như vậy, A phải có nghĩa vụ thanh toán chi phí, công sức B đã bỏ ra để thực hiện Tuy nhiên, việc xác định chi phí để thanh toán, chứng từ, chứng cứ khác để yêu cầu thanh toán
là điều không dễ dàng, nhất là khi bên tặng cho đã qua đời, thì việc yêu cầu người thừa kế phải thanh toán là điều khó khăn cho bên được tặng cho khi phải chứng minh những chi phí này
Thứ hai, thực tiễn xét xử đã có một số tranh chấp và Tòa án đã rất linh hoạt
khi công nhận hiệu lực của HĐTCTS ngay cả khi các hợp đồng này không đáp ứng quy định về thời điểm có hiệu lực tại Điều 458 và Điều 459 BLDS năm 2015 Quyết định giám đốc thẩm số 42/2013/DS-GĐT ngày 22/5/2013 về việc “yêu cầu công nhận hợp đồng tặng cho bất động sản và tranh chấp di sản thừa kế” của TANDTC,
trong đó Hội đồng Thẩm phán nhận định: “có cơ sở xác định, mặc dù việc tặng cho
nhà đất chưa được sang tên cho ông T nhưng việc tặng cho trên là thể hiện ý chí của cụ N và cho đến khi chết, cụ N không thay đổi ý kiến, nên Tòa án cấp phúc thẩm chấp nhận yêu cầu của ông T, công nhận hợp đồng tặng cho nhà ở là có căn cứ” Hoặc tại Quyết định giám đốc thẩm số 20/2013/DS-GĐT ngày 20/3/2013 về
việc “tranh chấp hợp đồng tặng cho nhà đất” của TANDTC, Hội đồng Thẩm phán
nhận định như sau: “cụ Nhớn lập “tờ tặng cho nhà, đất” có nội dung cho bà Trang
được quyền sở hữu một phần nhà, đất Việc tặng cho tuy chưa hoàn thành (chưa đăng ký tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền), bà Trang chưa quản lý nhà đất nhưng đến khi chết thì cụ Nhớn cũng không thay đổi ý chí cho bà Trang một phần nhà, đất Như vậy, phải xác định bà Trang có quyền sở hữu, sử dụng nhà, đất theo
“tờ tặng cho nhà, đất” ngày 17/12/2001 của cụ Nhớn theo đúng ý chí của cụ Nhớn” Có thể thấy trong hai Quyết định giám đốc thẩm trên, giữa các bên đã tồn
tại HĐTCTS, tuy nhiên, tài sản tặng cho chưa được chuyển giao cho bên được tặng cho cũng như chưa được đăng ký quyền sở hữu tài sản tặng cho Nhưng Hội đồng Thẩm phán đã rất linh hoạt khi cho rằng xét thực chất các bên có tồn tại quan hệ tặng cho tài sản và ý chí dành tặng tài sản của mình của bên tặng cho trong suốt thời gian trước khi chết cũng không thay đổi, do đó, trong những trường hợp này cần công nhận hiệu lực của hợp đồng tặng cho, tôn trọng ý chí cuối cùng của bên tặng
Trang 3529
cho trước khi chết Theo như những lập luận trên, có thể hiểu rằng Hội đồng Thẩm phán đã theo hướng xác định hiệu lực của hợp đồng dựa vào thời điểm xác lập hợp đồng, tôn trọng ý chí của bên tặng cho tài sản và việc thực hiện, hoàn thành nghĩa
vụ của bên được tặng cho tài sản hơn là quan trọng hình thức của hợp đồng, thiết nghĩ hướng giải quyết này đảm bảo quyền lợi của bên được tặng cho, đồng thời tôn trọng ý chí của bên tặng cho cũng như điều kiện đã thoả thuận trong HĐTCTSCĐK
Thứ ba, một số quốc gia khi xây dựng chế định tặng cho tài sản cũng có quy
định thời điểm có hiệu lực của HĐTCTS trùng với thời điểm giao kết hợp đồng
Điển hình như BLDS Pháp: “việc tặng cho coi như được hoàn tất ngay sau khi có
sự đồng ý của hai bên; quyền sở hữu tài sản tặng cho được chuyển giao cho người được tặng cho mà không cần phải chuyển giao tài sản trên thực tế” (Điều 938)
BLDS Philippines cũng có quy định tương tự khi cho rằng: “việc tặng cho được
hoàn thiện kể từ thời điểm người tặng cho nhận biết về sự chấp nhận của người được tặng cho” (Điều 734) Bên cạnh đó, hầu hết các bộ pháp điển về Luật Hợp
đồng trên thế giới đều quy định về một loại thời điểm là thời điểm giao kết hợp đồng, và thời điểm giao kết cũng là thời điểm có hiệu lực của hợp đồng 48 Cụ thể, BLDS Đức không qui định về thời điểm có hiệu lực của hợp đồng, nhưng có quy định chung về thời điểm có hiệu lực của sự tuyên bố ý chí, và quy định này cũng
được áp dụng cả với việc giao kết hợp đồng: “tuyên bố ý chí đối với một người vắng
mặt có hiệu lực vào thời điểm người đó nhận được tuyên bố” (khoản 1 Điều 130)
BLDS Liên Bang Nga cũng có quy định tương tự: “hợp đồng được giao kết tại thời
điểm bên đề nghị nhận được thư trả lời chấp nhận” (khoản 1 Điều 433)
Tuy đưa ra quan điểm áp dụng Điều 458 và Điều 459 BLDS năm 2015 để xác định thời điểm có hiệu lực của HĐTCTSCĐK là chưa phù hợp, nhưng tác giả không phủ nhận giá trị pháp lý của quy định về hình thức bắt buộc của HĐTCTSCĐK, trong đó trong những trường hợp luật định hợp đồng phải được xác lập dưới hình thức hợp đồng có công chứng, chứng thực hoặc có đăng ký Do đó, để
áp dụng thống nhất quy định của BLDS năm 2015 với quy định của các luật chuyên ngành như Luật Đất đai, Luật Nhà ở… về thời điểm có hiệu lực của HĐTCTSCĐK, tác giả cho rằng không cần thiết phải quy định riêng Điều 458 và Điều 459 Bởi từ
48 Lê Minh Hùng (2010), Hiệu lực của hợp đồng theo quy định của pháp luật Việt Nam, Luận án tiến sĩ,
Trường Đại học Luật TPHCM, tr 86
Trang 3630
những quy định cụ thể của luật chuyên ngành bên cạnh các quy định chung về hiệu lực của hợp đồng (Điều 401) và quy định về thời điểm xác lập quyền sở hữu, quyền khác đối với tài sản (Điều 161) của BLDS năm 2015 đã đầy đủ và phù hợp trong việc điều chỉnh thời điểm có hiệu lực cũng như thời điểm chuyển quyền sở hữu tài sản trong HĐTCTSCĐK Lúc này trong HĐTCTSCĐK, nếu tài sản tặng cho là quyền sử dụng đất thì căn cứ vào khoản 3 Điều 188 Luật Đất đai năm 2013 xác định thời điểm có hiệu lực của hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất là thời điểm đăng ký; nếu tài sản tặng cho là nhà ở thì căn cứ vào khoản 1 Điều 122 và khoản 2 Điều
12 Luật Nhà ở 2014 xác định thời điểm có hiệu lực của hợp đồng tặng cho nhà ở là thời điểm công chứng và thời điểm chuyển quyền sở hữu nhà ở là thời điểm nhận tài sản Đối với các tài sản khác không được quy định riêng trong luật chuyên ngành thì sẽ áp dụng quy định chung trong BLDS năm 2015 về thời điểm có hiệu lực của hợp đồng tại Điều 401, xác định thời điểm có hiệu lực của HĐTCTSCĐK là thời điểm giao kết (nếu các bên không có thỏa thuận khác) và Điều 161 của Bộ luật này quy định về thời điểm xác lập quyền sở hữu, quyền khác đối với tài sản từ thời điểm tài sản được bên được tặng cho chiếm hữu Bên cạnh đó, cũng cần thiết bổ sung thêm quy định công nhận hiệu lực của HĐTCTSCĐK chưa thực hiện thủ tục đăng
ký nhưng một hoặc các bên đã thực hiện ít nhất hai phần ba nghĩa vụ trong hợp đồng tương tự như quy định hiện hành tại khoản 2 Điều 129 BLDS năm 2015
Như vậy, khi xác định thời điểm có hiệu lực của HĐTCTSCĐK có thể dựa
vào quy định chung như Điều 401 và Điều 161 BLDS năm 2015, trường hợp nếu trong luật chuyên ngành có quy định thì áp dụng theo quy định của luật chuyên ngành, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác
1.4 Các yêu cầu pháp lý của điều kiện tặng cho trong hợp đồng tặng cho tài sản có điều kiện
Trong HĐTCTSCĐK, điều kiện tặng cho được xác định là một nghĩa vụ dân
sự Trước đây, trong BLDS năm 2005, Điều 282 quy định đối tượng của nghĩa vụ
phải đáp ứng được ba điều kiện: (i) tính xác định; (ii) tính có thể đem giao dịch
được (đối với tài sản) hay tính có thể thực hiện được (đối với công việc phải làm);
và (iii) tính hợp pháp Khi BLDS năm 2015 ra đời, Điều 276 đã lược bỏ các đặc
tính này, chỉ giữ lại là đối tượng của nghĩa vụ phải được xác định Sự lược bỏ này chẳng qua là để không nhắc lại các quy định đã tồn tại mang tính chất đương nhiên
Trang 3731
Bởi lẽ, giữa các đối tượng của nghĩa vụ được quy định tại Điều 276 phải phù hợp với điểm c khoản 1 Điều 117 BLDS Vậy, xem xét đến tính hợp pháp của nội dung trong hợp đồng, các điều khoản trong hợp đồng thì cũng chính là việc xét đến đối tượng của nghĩa vụ phát sinh từ hợp đồng (được hiểu là tài sản, công việc phải làm hoặc không được làm).49 Do đó, để điều kiện tặng cho trong HĐTCTSCĐK có hiệu lực pháp luật thì cũng phải đáp ứng các điều kiện nêu trên
1.4.1 Điều kiện tặng cho không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức
xã hội
Đây là điều kiện đầu tiên và cũng là điều kiện duy nhất mà các nhà lập pháp xây dựng cho “điều kiện tặng cho” và được quy định cụ thể trong các điều luật về
HĐTCTSCĐK Theo đó, khoản 1 Điều 462 BLDS năm 2015 quy định: “điều kiện
tặng cho không được vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội” Trước
đây, BLDS năm 2005 quy định: “điều kiện tặng cho không được trái pháp luật, đạo
đức xã hội”, như vậy, so với BLDS năm 2005 thì BLDS năm 2015 có hai sự thay
đổi: thứ nhất, BLDS năm 2015 chỉ yêu cầu điều kiện tặng cho “không vi phạm điều cấm” trong khi BLDS năm 2005 yêu cầu phải “không trái pháp luật” Thứ hai,
nguồn gốc của điều cấm trước đây theo BLDS năm 2005 là “pháp luật” còn ngày nay được giới hạn chỉ còn là “luật” Về mặt lý luận, khái niệm “vi phạm điều cấm”
có phạm vi hẹp hơn so với khái niệm “trái pháp luật” Khái niệm “trái pháp luật” bao trùm khái niệm “vi phạm điều cấm”, nên có thể nói những quy định không vi phạm điều cấm pháp luật là một phần, nằm trong khái niệm không trái pháp luật 50
Có thể thấy hành vi “vi phạm điều cấm của pháp luật” là hành vi “trái pháp luật” nhưng hành vi “trái pháp luật” thì chưa hẳn đã “vi phạm điều cấm” Mặt khác, trước đây BLDS năm 2005 sử dụng cụm từ “pháp luật” nên điều cấm có thể tồn tại trong rất nhiều văn bản ngoài văn bản luật do Quốc hội ban hành như chỉ thị, thông tư, công văn… Ngày nay, BLDS năm 2015 chỉ chấp nhận điều cấm “của luật”, tức chỉ giới hạn điều cấm bắt nguồn từ văn bản do Quốc hội ban hành Như vậy, có thể thấy hai sự thay đổi trong quy định trên của BLDS năm 2015 theo hướng mở rộng quyền
tự do thỏa thuận giữa các bên và giới hạn lại những hạn chế đối với tự do giao dịch
49 Lê Thị Diễm Phương, tlđd (6)
50 Nguyễn Văn Cường (2005), Giao dịch dân sự vô hiệu và việc giải quyết hậu quả pháp lý của giao dịch dân
sự vô hiệu, Luận án tiến sĩ, Trường Đại học Luật Hà Nội (Xem Đỗ Văn Đại (2018), Luật Hợp đồng Việt Nam – Bản án và bình luận bản án (tập 1), Nxb Hồng Đức – Hội Luật gia Việt Nam, Hà Nội, tr 584)
Trang 3832
dân sự
Điều 123 BLDS năm 2015 quy định rất rõ về khái niệm “điều cấm của luật”
và “đạo đức xã hội”, theo đó “điều cấm của luật là những quy định của luật không
cho phép chủ thể thực hiện những hành vi nhất định” và “đạo đức xã hội là những chuẩn mực ứng xử chung trong đời sống xã hội, được cộng đồng thừa nhận và tôn trọng” Nói cách khác, để là điều cấm thì quy định của luật phải có nội hàm “không
cho phép chủ thể thực hiện những hành vi nhất định” Ví dụ: A tặng cho B chiếc ô
tô với điều kiện B phải ly hôn với C Trong ví dụ này, điều kiện tặng cho là “ly hôn với C” là vi phạm điều cấm của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, cụ thể tại
điểm e khoản 2 Điều 5 của Luật này cấm các hành vi cưỡng ép ly hôn, lừa dối ly
hôn, cản trở ly hôn) Tuy nhiên, thực tế có một số quy định không thể hiện rõ nội
hàm của điều cấm gây khó khăn trong việc thỏa thuận điều kiện tặng Ví dụ: A tặng cho B một căn nhà và quyền sử dụng đất, với điều kiện B phải nuôi dưỡng A cho đến khi chết và chỉ được ở mà không được mua bán, chuyển nhượng Sau đó A chết, các thừa kế của A yêu cầu tuyên bố hợp đồng tặng cho vô hiệu do vi phạm quy định về quyền định đoạt tài sản của chủ sở hữu tại Điều 194 BLDS năm 2015 Thực
tiễn giải quyết các tranh chấp về điều kiện tặng cho có nội hàm “không được bán”
như trên vẫn còn tồn tại nhiều quan điểm khác nhau, trong đó có Tòa án công nhận nhưng cũng có Tòa án phủ nhận tính hợp pháp của điều kiện này 51
Khác với điều cấm của luật, đạo đức xã hội không là quy định của pháp luật
mà là chuẩn mực trong đời sống Thực ra, “thông thường các quy định của pháp luật trong đó đã hàm chứa những nội dung phù hợp với đạo đức xã hội Tuy nhiên, có một số giao dịch không có quy định của pháp luật nghiêm cấm, nhưng vẫn bị coi là
vô hiệu vì xâm phạm đạo đức xã hội, ví dụ hợp đồng ngăn cản cha mẹ và con cái sống chung được coi là vô hiệu vì vi phạm đạo đức xã hội”.52 Pháp luật nước ngoài cũng đưa ra yêu cầu đối với điều kiện tặng cho, BLDS Pháp cho rằng trong chứng thư tặng cho các điều kiện trái pháp luật hoặc trái đạo đức xã hội thì coi như không
có các điều kiện đó (Điều 900 BLDS Pháp) Tương tự, BLDS Philippines cũng quy
định các điều kiện bất hợp pháp sẽ không có hiệu lực (Điều 727)
Như vậy, BLDS năm 2015 ràng buộc tính hợp pháp của điều kiện là điều
51 Phần này được phân tích tại tiểu mục 2.1.1 của Khóa luận
52 Hoàng Thế Liên (2008), Bình luận khoa học Bộ luật dân sự năm 2005 (tập 1), Nxb Chính trị quốc gia, Hà
Nội, tr 298
Trang 3933
kiện tặng cho không thuộc những hành vi mà luật cấm, cũng như là những hành vi trái với chuẩn mực chung của xã hội là phù hợp, tạo môi trường thoáng hơn cho các chủ thể khi tham gia vào các giao dịch dân sự, trong đó có HĐTCTSCĐK Tuy nhiên, Toà án cũng cần có án lệ, hay hướng dẫn cụ thể đối với các hành vi được coi
là bị cấm để thống nhất áp dụng pháp luật trong việc xác định tính “vi phạm điều cấm của luật” của điều kiện tặng cho trong HĐTCTSCĐK trong thực tiễn giải quyết tranh chấp
1.4.2 Điều kiện tặng cho phải xác định được
Tính “phải xác định được” của “điều kiện tặng cho” tuy không được quy định minh thị trong nội dung của Điều 462 BLDS năm 2015 về tặng cho tài sản có điều kiện nhưng được quy định trong Điều 276 BLDS năm 2015 về đối tượng của nghĩa vụ dân sự Theo đó, “điều kiện tặng cho” trong HĐTCTSCĐK được nhìn nhận là một nghĩa vụ dân sự 53 Điều 276 BLDS năm 2015 quy định đối tượng của nghĩa vụ bao gồm tài sản, công việc phải thực hiện hoặc không được thực hiện và quy định kèm theo yêu cầu về đối tượng của nghĩa vụ là phải được xác định
Đặc trưng nhất của HĐTCTSCĐK chính là việc một bên muốn được nhận tài sản tặng cho thì phải thực hiện một hoặc một số điều kiện nhất định theo yêu cầu của bên tặng cho Do đó, trước hết muốn thực hiện được điều kiện, các bên trong hợp đồng phải xác định được cụ thể điều kiện tặng cho mà mình đã thỏa thuận Tính xác định của nghĩa vụ nói chung và điều kiện tặng cho nói riêng được thể hiện thông qua chính đối tượng của nghĩa vụ: (i) nếu đối tượng của nghĩa vụ là tài sản thì cần phải được xác định cụ thể về loại tài sản, số lượng tài sản Đối với tài sản hình thành trong tương lai thì loại tài sản này cũng được xác định qua các mô tả về chi tiết tài sản; (ii) nếu đối tượng của nghĩa vụ là công việc cần xác định loại công việc, địa điểm thực hiện công việc, công việc hướng tới chủ thể nào Như vậy, điều kiện tặng cho mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng phải được ghi nhận một cách chi tiết, cụ thể và bên được tặng cho phải xác định được, “hình dung” được điều kiện
mà mình phải thực hiện, lúc này tính xác định được của điều kiện tặng cho mới được đảm bảo
53 Được phân tích tại tiểu mục 1.1.2 của Khóa luận
Trang 4034
1.4.3 Điều kiện tặng cho phải có thể thực hiện được
Ngoài hai điều kiện nêu trên thì điều kiện trong HĐTCTSCĐK cần phải đáp
ứng thêm yêu cầu pháp lý là điều kiện tặng cho “phải có thể thể thực hiện được”,
nghĩa là điều kiện phải có tính khả thi BLDS năm 2015 không quy định cụ thể điều kiện tặng cho phải đáp ứng yêu cầu này Tuy nhiên, về nguyên tắc điều kiện phải thực hiện được, có nghĩa là phải có tính khả thi thì mới đảm bảo được hiệu lực trên thực tế Khác với BLDS năm 2015 của Việt Nam, Điều 900 BLDS Pháp có quy
định cụ thể về yêu cầu này: “nếu trong chứng thư tặng cho hoặc trong di chúc có
các điều kiện không thể thực hiện được, các điều kiện trái pháp luật hoặc trái đạo đức xã hội thì coi như không có các điều kiện đó.” Điều 727 BLDS Philippines
cũng quy định rõ: “các điều kiện bất hợp pháp hoặc bất khả thi đối với các khoản
quyên góp đơn giản và có tính thù lao sẽ được coi là không áp đặt”
Tính “phải có thể thực hiện được” hay còn gọi là tính khả thi của điều kiện tặng cho là “chất xúc tác” làm cho việc thực hiện một hay nhiều nghĩa vụ của bên được tặng cho được triển khai trên thực tế Do đó, điều kiện tặng cho trong hợp đồng tặng cho có điều kiện phải có thể thực hiện được
1.4.4 Điều kiện tặng cho phải có tính khách quan
Điều kiện tặng cho trong HĐTCTSCĐK ngoài đảm bảo ba điều kiện của đối tượng của nghĩa vụ thì còn phải đảm bảo tính khách quan, tức điều kiện phải xảy ra
một cách tự nhiên Khi quy định về Giao dịch dân sự có điều kiện tại Điều 120 và
Thực hiện nghĩa vụ có điều kiện tại Điều 284 BLDS năm 2015, tính khách quan của
điều kiện được BLDS năm 2015 thể hiện rất rõ Theo đó, điều kiện không xảy ra do
hành vi cố ý cản trở trực tiếp hoặc gián tiếp của một bên thì coi như điều kiện đó đã xảy ra; trường hợp có sự tác động trực tiếp hoặc gián tiếp của một bên cố ý thúc đẩy cho điều kiện xảy ra thì coi như điều kiện đó không xảy ra Quy định này có thể
áp dụng tương tự cho điều kiện tặng cho trong HĐTCTSCĐK, ví dụ: trong lễ ăn hỏi, gia đình A tặng cho B bộ trang sức trị giá 05 tỷ đồng với điều kiện A và B tổ chức lễ cưới vào ngày 30/5/2021, trong quá trình chuẩn bị cho lễ cưới, do có mâu thuẫn từ trước, bà C (mẹ ruột của A) đã giả tạo chứng cứ B ngoại tình làm lễ cưới không thể diễn ra Trong ví dụ này, bà C (bên tặng cho) đã có hành vi cố ý cản trở làm cho điều kiện không thể diễn ra, do đó, để đảm bảo quyền lợi của B phải coi như điều kiện trong hợp đồng đã được thực hiện và B không phải trả lại sính lễ theo