Trên cơ sở mục tiêu chung, tác giả cũng đặt ra các mục tiêu cụ thểvào những đối tượng nghiên cứu cụ thể như sau: - Tìm hiểu nghĩa vụ giao hàng của bên bán theo CISG; - Tìm hiểu cơ sở để
Trang 1-*** -TRẦN THỊ THANH THƯƠNGMSSV: 1753801012196
CÁC BIỆN PHÁP CHẾ TÀI DO VI
PHẠM NGHĨA VỤ GIAO HÀNG TRONG
CÔNG ƯỚC VIÊN 1980
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆPNiên khóa: 2017 - 2021
Người hướng dẫn:
ThS Nguyễn Thị Thu Thảo
TP.Hồ Chí Minh – Năm 2021
Trang 3Các nội dung nghiên cứu, kết quả trong đề tài này là trung thực Những thông tin,
số liệu, bản án, được lấy từ nhiều nguồn khác nhau phục vụ việc phân tích đề tài.Ngoài ra, trong khóa luận còn sử dụng một số nhận xét, đánh giá, báo cáo cũngnhư quan điểm của các tác giả khác, cơ quan, tô chức khác đều có trích dẫn vàchú thích nguồn gốc theo đúng quy định Nếu phát hiện có bất kỳ sự gian lậnnào, tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về nội dung luân trong văn của mình
TP Hồ Chí Minh, ngày 06 tháng 07 năm 2021
Tác giả
Trần Thị Thanh Thương
Trang 4Bộ luật Dân sự 2015 BLDS
Hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế Hợp đồng MBHHQT
đồng mua bán hàng hóa quốc tế
Trang 5NGHĨA VỤ GIAO HÀNG TRONG HỢP ĐỒNG MUA BÁN HÀNG HÓA
QUỐC TẾ 7
1.1 Khái niệm và đặc điểm của Hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế 7
1.1.1 Khái niệm 7
1.2.2 Đặc điểm 11
1.2 Vi phạm nghĩa vụ giao hàng trong Hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế 15
1.2.1 Nghĩa vụ giao hàng trong Hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế 15
1.2.2 Vi phạm nghĩa vụ giao hàng trong Hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế 17 1.3 Các biện pháp chế tài áp dụng do vi phạm nghĩa vụ giao hàng trong Công ước Viên 1980 18
1.3.1 Khái niệm về biện pháp chế tài 18
1.3.2 Các hình thức chế tài do vi phạm nghĩa vụ giao hàng 22
1.3.3 Các chức năng của việc áp dụng chế tài 23
1.3.4 Các nguyên tắc khi áp dụng các chế tài 24
Kết luận Chương I 27
CHƯƠNG II: QUY ĐỊNH VÀ THỰC TIẾN ÁP DỤNG CHẾ TÀI DO VI PHẠM NGHĨA VỤ GIAO HÀNG TRONG HỢP ĐỒNG MUA BÁN HÀNG HÓA QUỐC TẾ THEO CÔNG ƯỚC VIÊN 1980 28
2.1 Quy định và thực tiễn áp dụng về nghĩa vụ giao hàng trong Hợp đồng mua bán hàng hóa quôc tế theo Công ước viên 1980 28
2.1.1 Quy định về nghĩa vụ giao hàng của bên bán 28
2.1.2 Quy định về vi phạm nghĩa vụ giao hàng 35
2.2 Các chế tài áp dụng do vi phạm nghĩa vụ giao hàng của bên bán trong Hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế theo Công ước viên 1980 43
2.2.1 Tổng quan về các chế tài được thực hiện bởi bên mua 43
2.2.2 Buộc thực hiện nghĩa vụ 45
2.2.3 Hủy bỏ hợp đồng 54
2.2.4 Bồi thường thiệt hại 64
Trang 6trong hợp đồng theo pháp luật Việt Nam 78
Kết luận Chương II 88
KẾT LUẬN 89
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 91
Trang 7PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Kể từ khi Chiến tranh lạnh kết thúc, nền kinh tế thế giới đã và đang chịu tácđộng mạnh mẽ của xu thế tự do hóa và toàn cầu hóa các quan hệ kinh tế - thươngmại1 Công cuộc đẩy mạnh phát triển thương mại quốc tế dần trở thành một xu thếtất yếu được đặt ra tại nhiều quốc gia Sự phát triển nhanh chóng của thương mạiquốc tế đặt ra một yêu cầu lớn về việc xây dựng một văn bản luật chung thống nhất
để điều chỉnh hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế (MBHHQT)2 Đó là một trongnhững lý do đã thúc đẩy sự ra đời của Công ước Liên Hợp Quốc về Hợp đồng muabán hàng hóa quốc tế (CISG), được soạn thảo bởi Ủy ban Liên Hợp Quốc về LuậtThương mại quốc tế (UNCITRAL), được thông qua tại Vienna (Austria) ngày11/4/1980 Đây được xem là một văn bản pháp luật thống nhất về lĩnh vực mua bánhàng hóa quốc tế Tính đến ngày 1/1/2020, có 96 nước và vùng lãnh thổ đã thôngqua CISG CISG được xem là một trong những pháp luật quốc tế thống nhất thànhcông nhất, đã phát huy vai trò tích cực để thúc đẩy hoạt động ngoại thương củanhiều quốc gia kể từ khi ra đời
Tham gia vào CISG từ cuối năm 2015, Việt Nam có sự phát triển vượt bậc vềhoạt động xuất nhập khẩu Từ 2016 đến nay, cán cân thương mại xuất nhập khẩu hànghóa liên tục thặng dư với mức xuất siêu năm sau cao hơn năm trước Năm 2016, xuấtsiêu hàng hóa của nước ta đạt 1,6 tỷ USD; năm 2017 đạt 1,9 tỷ USD; năm 2018 tănglên 6,5 tỷ USD; năm 2019 đạt 10,9 tỷ USD và năm 2020 ước tính đạt 19,1 tỷ USD 3
1 Bùi Thanh Tuấn, “Một số xu hướng chuyển dịch trật tự kinh tế thế giới hiện nay”,
chuyen-dich-trat-tu-kinh-te-the-gioi-hien-nay.aspx, truy cập lần cuối ngày 4/7/2021.
https://www.tapchicongsan.org.vn/web/guest/the-gioi-van-de-su-kien/-/2018/821542/mot-so-xu-huong-2Trước đó, các quốc gia đã có nỗ lực để xây dựng luật thống nhất áp dụng cho hợp đồng MBHHQT kể
từ những năm 30 của thế kỷ XX Kết quả của các nỗ lực đó là sự ra đời của hai Công ước La Haye năm
1964 Tuy nhiên, hai Công ước này rất ít được sử dụng trên thực tế bởi nhiều lý do khác nhau Xem thêm: Lịch sử và nội dung cơ bản của Công ước Vienna 1980, Báo Chính phủ, xem tại: http://baochinhphu.vn/Hoi-dap/Lich-su-va-noi-dung-co-ban-cua-Cong-uoc-Vienna-1980/293717.vgp , truy cập lần cuối ngày 04/07/2021.
3Tổng cục thống kê, “Xuất, nhập khẩu năm 2020: Nỗ lực và thành công”, lieu-va-so-lieu-thong-ke/2021/01/xuat-nhap-khau-nam-2020-no-luc-va-thanh-cong/, truy cập lần cuối ngày 04/07/2021.
Trang 8https://www.gso.gov.vn/du-Năm 2020, Việt Nam vẫn duy trì mức tăng trưởng dương, đạt hơn 2,9% trong năm
2020 Đạt được thành tựu này là nhờ tư duy hội nhập cũng từng bước được điều chỉnhphù hợp với từng giai đoạn phát triển của đất nước Việt Nam không chỉ quan tâm tớităng trưởng xuất khẩu hay thu hút vốn đầu tư, mà đã hướng nhiều hơn đến tham gia xâydựng và điều chỉnh “luật chơi” trong thương mại – đầu tư quốc tế, cũng như mức độtham gia và hiệu quả mang lại đối với doanh nghiệp và người dân trong nước.4
Việt Nam gia nhập CISG từ đó CISG điều chỉnh các hợp đồng mua bánHHQT đã giúp cho thương mại xuất nhập khẩu hàng hóa của Việt Nam trở nênthuận lợi hơn Có thể thấy, CISG dành ra 30 điều (từ Điều 30 đến Điều 52, và Điều
71 đến Điều 78) quy định về nghĩa vụ của bên bán cũng như các chế tài mà bên mua
có thể áp dụng, chiếm gần 30% tổng số lượng các quy định trong CISG Bên cạnh
đó, theo thống kê5, các vụ tranh chấp vào năm 2020, có đến hơn 25% số vụ là tranhchấp về các Điều 30 đến Điều 52, là các điều khoản quy định về nghĩa vụ giao hàng
và các chế tài áp dụng Dễ nhận thấy rằng các chế tài áp dụng khi nghĩa vụ giaohàng bị vi phạm trong CISG là một nội dung chủ yếu được quan tâm, và thực tế cáctranh chấp về vấn đề này cũng rất phổ biến Do đó, việc chuẩn bị kiến thức về cácchế tài khi vi phạm nghĩa vụ giao hàng là rất cần thiết đối với các thương nhân ViệtNam khi tham gia vào các quan hệ thương mại quốc tế được điều chỉnh bởi CISG
Vậy cụ thể, các chế tài khi bên bán vi phạm nghĩa vụ giao hàng trong hợpđồng MBHHQT theo CISG là gì và các điều kiện để áp dụng các chế tài này ra sao.Đồng thời, các chế tài này có gì khác biệt so với các quy định hiện hành theo phápluật Việt Nam là vấn đề quan trọng, cần được nghiên cứu và làm rõ Chính vì vậy,
tác giả lựa chọn để tìm hiểu đề tài: “Các Biện Pháp Chế Tài Do Vi Phạm Nghĩa
Vụ Giao Hàng Trong Công Ước Viên 1980” để làm đề tài Khóa luận tốt nghiệp.
Trang 9https://iicl.law.pace.edu/sites/default/files/scholarly-writings/meta-Trong thời gian qua, các nội dung nghiên cứu về các biện pháp chế tài do viphạm nghĩa vụ theo CISG không phải là vấn đề quá mới Tuy nhiên, liên quan đếnviệc nghiên cứu các biện pháp chế tài do vi phạm nghĩa vụ giao hàng theo CISGdường như vẫn còn khá ít, chủ yếu là nhắc đến như một phần nhỏ trong khi nghiêncứu các quy định chung về các biện pháp chế tài theo CISG Cụ thể có thể kể đếnmột số công trình nghiên cứu như sau:
- Peter Huber và Alastair Mullis (2007), The CISG-a new textbook for studentsand practioners, Sellier European publisher Cuốn sách được trình bày theo cầu trúc củaCISG nhằm trình bày, giải thích các quy định của CISG một cách cơ bản, giúp chongười đọc dễ nắm bắt hơn các nội dung của CISG Đồng thời phân tích ý kiến,
quan điểm của nhiều học giả về các vấn đề liên quan từ đó rút ra quan điểm của tácgiả về từng vấn đề Tuy nhiên, vấn đề vi phạm nghĩa vụ giao hàng và các chế tài chỉ
là một phần nội dung được đề cập trong sách Bên cạnh đó, sách không đề cập đến
sự so sánh giữa quy định giữa CISG với Việt Nam
- Sách “101 câu hỏi - đáp về công ước của Liên Hợp Quốc về hợp đồng muabán hàng hóa quốc tế (CISG)” được công bố bởi Trung tâm trọng tài quốc tế ViệtNam bên canh phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VIAC) Sách khôngtrình bày theo cách phân tích từng điều khoản trong CISG, mà trình bày dưới dạngcâu hỏi-câu trả lời Mỗi câu hỏi là một vấn đề có thể có liên quan đến một hoặcnhiều điều khoản Đồng thời, sách cũng có đối chiếu với pháp luật Việt Nam Tuynhiên, vấn đề về các chế tài thì không được bàn luận đầy đủ mọi chế tài
- Bài viết của tác giả Nguyễn Thị Lan Hương, Ngô Nguyễn Thảo Vy (2017)
về “Quyền buộc thực hiện hợp đồng theo quy định của Công ước Liên hợp quốc về
hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế - Một số đề xuất cho Việt Nam” đăng trên Tạp chí Khoa học Pháp lý, số 07/2017 Bài viết này đi sâu phân tích biện pháp chế tài
buộc thực hợp đồng theo quy định của CISG Tác giả có so sánh và đề xuất các kiếnnghị cho Việt Nam Tuy nhiên, bài viết không bàn luận đến các chế tài khác trongCISG
Trang 10- Nguyễn Quốc Trưởng (2020) về “Trách nhiệm pháp lý khi vi phạm hợp đồng
thương mại” được đăng trên Tạp chí Tòa án nhân dân điện tử Bài viết bàn luận vàphân tích về các chế tài áp dụng đối với hợp đồng mua bán hàng hóa trong nước,không phân tích đến các chế tài được quy định trong CISG
- Phan Thị Thanh Thùy, “So sánh các quy định về trách nhiệm do vi phạmhợp đồng trong LTM 2005 và Công trớc Viên 1980”, Tạp chí Khoa học ĐHQGHN,
2014, Số 3, Tập 30 Bài viết có tập trung so sánh những quy định của Luật Thươngmại 2005 và CISG về trách nhiệm do vi phạm hợp đồng, phân tich các chế tài trongLuật Thương mại 2005 và trong CISG Tuy nhiên, bài biết lại không phân tích rõ vềcác quy định về chế tài trong CISG
- Võ Sỹ Mạnh, “Vi phạm cơ bản hợp đồng theo Công ước Viên năm 1980 vềHợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế và định hướng hoàn thiện các quy định có liênquan của pháp luật Việt Nam", Luận án Tiến sĩ Luật học Trường Đại học LuậtTPHCM, 2015 Luận án này chủ yếu nghiên cứu và phân tích chi tiết vấn đề viphạm cơ bản hợp đồng Luận án cũng có phân tích các chế tài nhưng chỉ đề cập haichế tài là hủy hợp đồng và yêu cầu giao hàng thay thế
Về tổng quan, có thể thấy hiện tại chưa có công trình nghiên cứu nào phântích về các biện pháp chế tài khi vi phạm nghĩa vụ giao hàng trong CISG, đồng thời
so sánh và đưa ra đề xuất đối với pháp luật Việt Nam
3 Mục đích nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của Khóa luận là làm rõ các vấn đề lý luận chung vềnghĩa vụ giao hàng của bên bán, cũng như là các chế tài cho việc vi phạm nghĩa vụtrong hợp đồng nói chung Sau đó, Khóa luận tập trung phân tích các cơ sở pháp lý
về các chế tài trong CISG, cũng như là thực tiễn áp dụng các chế tài trong giải quyếttranh chấp Từ đó, đưa ra các đánh giá, nhận định hợp lý về việc áp dụng các chế tàikhi có vi phạm, nhằm tăng cường hiệu quả trong việc bảo vệ lợi ích bên bị vi phạmđồng thời cũng cân bằng lợi ích các bên trong quan hệ hợp đồng
Trên cơ sở đó so sánh với quy định của pháp luật Việt Nam để đề xuất một sốkiến nghị, rút kinh nghiệm cho việc áp dụng các quy định của CISG dành cho doanh
Trang 11nghiệp Việt Nam Đồng thời cũng đề xuất các kiến nghị hoàn thiện pháp luật
thương mại hàng hóa trong nước
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu
Mục tiêu của đề tài là làm rõ các quy định của CISG về các biện pháp chế tàitrong trường hợp bên bán vi phạm nghĩa vụ giao hàng, đồng thời có so sánh vớipháp luật Việt Nam để chỉ ra sự khác nhau, cũng như các vướng mắc còn tồn đọngtheo quy định của pháp luật Việt Nam về các vấn đề liên quan Từ đó, đề xuất kiếnnghị hoàn thiện Trên cơ sở mục tiêu chung, tác giả cũng đặt ra các mục tiêu cụ thểvào những đối tượng nghiên cứu cụ thể như sau:
- Tìm hiểu nghĩa vụ giao hàng của bên bán theo CISG;
- Tìm hiểu cơ sở để áp dụng các chế tài, bao gồm các yếu tố về hành vi viphạm, mức độ vi phạm, nghĩa vụ kiểm tra, nghĩa vụ thông báo theo CISG;
-Tìm hiểu điều kiện áp dụng từng biện pháp chế tài, cũng như là điều kiện ápdụng đồng thời các biện pháp chế tài theo CISG, và thực tiễn áp dụng các quy địnhcủa CISG;
-Tìm hiểu hệ thống văn bản quy phạm pháp luật Việt Nam về các chế tài cóthể được áp dụng khi bên bán vi phạm nghĩa vụ giao hàng, cũng như tìm hiểu cáchạn chế theo pháp luật Việt Nam, từ đó đưa ra các kiến nghị sửa đổi, phù hợp
Phạm vi nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu về nghĩa vụ giao hàng, cũng như các chế tài ápdụng và các điều kiện để áp dụng các chế tài khi bên bán vi phạm nghĩa vụ giaohàng trong CISG và pháp luật Việt Nam Trong phạm vi nêu trên, đề tài sẽ khôngnghiên cứu đến chế tài khi bên thứ ba vi phạm nghĩa vụ giao hàng, cũng khôngnghiên cứu đến các trường hợp miễn trách đối với bên thứ ba
5 Phương pháp nghiên cứu
Trang 12Tác giả sử dụng các phương pháp chủ yếu là phương pháp phân tích đểnghiên cứu các quy định, yêu cầu của CISG Phương pháp liệt kê các trường hợp đểnêu lên các ví dụ điển hình Phương pháp so sánh khi phân biệt các quy định tươngđồng trong CISG, cũng như so sánh quy định chế tài của pháp luật Việt Nam vớiquy định các chế tài trong CISG Phương pháp bình luận để đưa ra các đề xuấtnhằm và kiến nghị, cũng như để phân tích các quyết định của các cơ quan xét xử.Phương pháp quy nạp, tổng hợp để đưa ra các kết luận, đánh giá ở cuối mỗi chương
và cuối đề tài Các phương pháp này được được vận dụng một cách phối hợp vớinhau trong toàn Khóa luận, không có sự tách biệt giữa các phương pháp
6 Bố cục tổng quát của khóa luận
Khóa luận tốt nghiệp bao gồm các phần sau:
PHẦN MỞ ĐẦU
CHƯƠNG I: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ CHẾ TÀI DO VI PHẠM NGHĨA
VỤ GIAO HÀNG TRONG HỢP ĐỒNG MUA BÁN HÀNG HÓA QUỐC TẾ Ởchương này, tác giả trình bày các các vấn đề lý luận về hợp đồng mua bán hàng hóaquốc tế, nghĩa vụ giao hàng trong hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế, các biện phápchế tài áp dụng do vi phạm nghĩa vụ giao hàng trong Công ước Viên 1980
CHƯƠNG II: QUY ĐỊNH VÀ THỰC TIẾN ÁP DỤNG CHẾ TÀI DO VIPHẠM NGHĨA VỤ GIAO HÀNG TRONG HỢP ĐỒNG MUA BÁN HÀNG HÓAQUỐC TẾ THEO CÔNG ƯỚC VIÊN 1980 Trong chương này, tác tác giả phântích về các quy định trong CISG về nghĩa vụ giao hàng trong hợp đồng MBHHQT,các chế tài áp dụng do vi phạm nghĩa vụ giao hàng của bên bán Đặc biệt, tác giả sẽlàm rõ các điều kiện yêu cầu của bên mua khi thực hiện các chế tài theo CISG.Ngoài ra, tác giả cũng sẽ so sánh các quy định của CISG với pháp luật Việt Nam, vàđưa ra kiến nghị hoàn thiện quy định về chế tài do vi phạm nghĩa vụ giao hàng tronghợp đồng theo pháp luật Việt Nam
KẾT LUẬN CHUNG
Trang 13CHƯƠNG I: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ CHẾ TÀI DO VI PHẠM NGHĨA
VỤ GIAO HÀNG TRONG HỢP ĐỒNG MUA BÁN HÀNG HÓA QUỐC TẾ 1.1 Khái niệm và đặc điểm của Hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế.
Dưới góc độ ngữ nghĩa, Hợp đồng MBHHQT được tiếp cận có sự khác nhau ởtừng hệ thống pháp luật, cũng như theo các nhà nghiên cứu Về mặt tổng quan, Hợpđồng MBHHQT không có quá nhiều khác biệt so với hợp đồng mua bán nội địa thôngthường, theo đó, đều là thỏa thuận được xác lập giữa các bên nhằm xác lập, thay đổihoặc chấm dứt quyền và nghĩa vụ của các bên trong quan hệ mua bán hàng hóa Tuynhiên, so với hợp đồng mua bán hàng hóa trong nước, đặc trưng có thể thấy của Hợpđồng MBHHQT đó là “tính quốc tế”, đây cũng là tiêu chí để phân biệt được quy địnhtrong các công ước quốc tế, cũng như pháp luật của nhiều quốc gia
Điều 55 Luật mua bán hàng hóa năm 1979 của Anh (Sale of Goods Act 1979)quy định: Hợp đồng MBHHQT là hợp đồng mua bán hàng hóa được thiết lập giữa cácbên có trụ sở thương mại (nếu không có trụ sở thương mại thì là nơi cư trú) nằm trênlãnh thổ ở các nước khác nhau và thỏa mãn các điều kiện sau: (a) Hợp đồng bao gồmmua bán hàng hóa, mà tại thời điểm ký kết hợp đồng, hàng hóa được chuyên chở từlãnh thổ của quốc gia này sang lãnh thổ của quốc gia khác; (b) Chào hàng hoặc
6Trường Đại học Luật TP HCM (2015), Giáo trình Luật thương mại quốc tế - Phần 2, Nhà xuất bản
Hồng Đức, tr 54.
7Trường Đại học Luật TP HCM, tlđd (6), tr 60.
Trang 14chấp nhận chào hàng được lập trên lãnh thổ của các quốc gia khác nhau; hoặc (c)Việc giao hàng được thực hiện trong lãnh thổ quốc gia khác với lãnh thổ quốc giachào hàng hoặc chấp nhận chào hàng8 Như vậy, theo pháp luật Anh Quốc, Hợpđồng MBHHQT, trước hết, là hợp đồng mua bán hàng hóa, tức là hợp đồng theo đóbên bán chuyển giao hoặc đồng ý chuyển giao quyền sở hữu hàng hóa cho bên mua
để nhận tiền tương ứng gọi là giá cả Để được xem là Hợp đồng MBHHQT, khôngchỉ đơn thuần là hợp đồng được giao kết giữa những bên có trụ sở thương mại tạicác quốc gia khác nhau mà hoạt động mua bán hàng hóa được thực hiện từ lãnh thổquốc gia này sang lãnh thổ quốc gia khác, chào hàng hoặc chấp nhận chào hàngđược lập trên lãnh thổ của các quốc gia khác nhau Rõ ràng, quy định nói trên củaLuật mua bán hàng hóa năm 1979 đã thể hiện việc sử dụng tiêu chí “trụ sở thươngmại” làm cơ sở xác định một hợp đồng là Hợp đồng MBHHQT hay hợp đồng muabán hàng hóa trong nước.9
Theo Bộ nguyên tắc về Hợp đồng thương mại quốc tế (PICC) của UNIDROIT
- Viện thống nhất về tư pháp quốc tế về hợp đồng thương mại quốc tế dù không định
nghĩa về Hợp đồng MBHHQT, nhưng quy định về tính quốc tế của hợp đồng quacác tiêu chí như sau: dựa vào địa điểm kinh doanh hoặc nơi cư trú thường xuyên củacác bên ở các quốc gia khác nhau, hoặc xác định một cách rộng hơn, tổng quát hơn
là xác định hợp đồng có “mối liên hệ đáng kể với nhiều quốc gia”, hoặc “liên quanđến sự lựa chọn giữa luật pháp của các quốc gia khác nhau”, hoặc “ảnh hưởng đếnlợi ích của thương mại quốc tế” để xác định tính quốc tế của một hợp đồng.10 Từcách tiếp cận này, dễ thấy, tiêu chuẩn để xác định tính quốc tế được đưa ra quá rộngphần nào gây khó khăn cho việc xác định tính quốc tế trong Hợp đồng MBHHQT
Theo Điều 1 Công ước Lahaye 1964 (Convention relating to a Uniform Law
on the International Sale Of Goods) về Luật thống nhất về MBHHQT thì tính
8Điều 55.12 Luật mua bán hàng hóa Anh, xem tại https://www.legislation.gov.uk/ukpga/1979/54, truy cập ngày 30/6/2021.
9Võ Sỹ Mạnh (2015), Vi phạm cơ bản hợp đồng theo Công ước Viên năm 1980 về Hợp đồng MBHHQT và
định hướng hoàn thiện các quy định có liên quan của pháp luật Việt Nam, luận án tiến sỹ, Trường Đại Học
Luật Tp Hồ Chí Minh, tr.21
10 UNIDROIT (2016), Unidroit principles of International Commercial Contract.
Trang 15chất quốc tế được thể hiện ở các tiêu chí như: “Các bên giao kết có trụ sở thươngmại ở các nước khác nhau, hàng hóa – đối tượng của hợp đồng được chuyển quabiên giới của một nước, hoặc là việc trao đổi ý chí giao kết hợp đồng giữa các bênđược lập ở những nước khác nhau” Nếu các bên giao kết không có trụ sở thươngmại thì sẽ dựa vào nơi cư trú thường xuyên của họ Yếu tố quốc tịch của các bênkhông được sử dụng để xác định yếu tố nước ngoài trong Hợp đồng MBHHQT.Theo Công ước Lahaye 1964 thì yếu tố để xác định tính quốc tế của Hợp đồngMBHHQT chính là việc trụ sở thương mại của các bên kí kết hợp đồng nằm trênlãnh thổ các quốc gia khác nhau và việc thực hiện hợp đồng như giao hàng, chàohàng, chấp nhận chào hàng phải vượt qua lãnh thổ biên giới của một quốc gia.11
CISG cũng không đưa ra định nghĩa cụ thể về Hợp đồng MBHHQT Tuynhiên dựa vào Điều 1 của Công ước đã gián tiếp xác định phạm vi của Hợp đồngMBHHQT với cơ sở duy nhất để xác định là trụ sở thương mại của các bên phải đặttại các quốc gia khác nhau12 Như vậy tiêu chí duy nhất mà CISG sử dụng để xácđịnh một hợp đồng có là Hợp đồng MBHHQT hay không là yếu tố quốc tịch củachủ thể kinh doanh
Dưới góc độ quy phạm pháp luật tại Việt Nam, Hợp đồng MBHHQT đượcxác định dưới những tiêu chí khác biệt
Luật Thương mại 2005 (LTM 2005) quy định tại Chương II về mua bán hànghóa quốc tế, tuy nhiên, không có một điều luật nêu ra một cách trực tiếp khái niệm muabán hàng hóa quốc tế Thay vào đó, LTM 2005 đưa ra định nghĩa bằng hình thức liệt kê
theo khoản 1 Điều 27: “Mua bán hàng hóa quốc tế được thực hiện dưới các hình thức
xuất khẩu, nhập khẩu, tạm nhập, tái xuất, tạm xuất, tái nhập và chuyển khẩu.” Theo
Điều 28, Điều 29, Điều 30 LTM 2005 về xuất khẩu, nhập khẩu hàng hoá, tạm nhập, táixuất, tạm xuất, tái nhập hàng hoá, chuyển khẩu hàng hoá thì có thể thấy các hoạt độngnày đều có sự dịch chuyển hàng hóa qua biên giới hải quan Hai hay nhiều bên thamgia giao dịch mua bán hàng hóa quốc tế có thể là cá nhân, tổ chức
11 Nguyễn Thị Minh Nghĩa (2015), Hậu quả pháp lý của việc miễn trách theo CISG 1980 – so sánh với pháp luật Việt Nam, Khóa luận tốt nghiệp, Trường Đại Học Luật TP.HCM, tr 6.
12 Điều 1 (1) CISG.
Trang 16Việt Nam hoặc cá nhân, tổ chức nước ngoài; có nơi cư trú hoặc trụ sở ở Việt Namhoặc nước ngoài Theo quy định của LTM 2005, hoạt động mua bán hàng hóa đượccoi là mua bán hàng háo quốc tế không phụ thuộc vào nơi cư trú, trụ sở hay quốctịch Luật Thương mại lấy tiêu chí vận chuyển hàng hóa qua biên giới để xác địnhquan hệ mua bán hàng hóa là mua bán hàng hóa quốc tế.
Theo khoản 2 Điều 689 Bộ luật Dân sự 2015 (BLDS) quy định về quan hệ
dân sự có yếu tố nước ngoài là quan hệ dân sự thuộc một trong các trường hợp sau đây:
Có ít nhất một trong các bên tham gia là cá nhân hoặc pháp nhân nướcngoài;
Các bên tham gia đều là công dân Việt Nam hoặc pháp nhân Việt Namnhưng việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quan hệ đó xảy ra ở nước ngoài;
Các bên tham gia đều là công dân Việt Nam hoặc pháp nhân Việt Namnhưng đối tượng của quan hệ dân sự đó là tài sản ở nước ngoài
Có thể thấy Bộ luật dân sự sử dụng đến 03 tiêu chí để xác định “mua bánhàng hóa có yếu tố nước ngoài” từ khái niệm “quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài”theo khoản 2 Điều 689 BLDS, 3 tiêu chí là chủ thể, đối tượng, sự kiện pháp lý phátsinh Như vậy, rõ ràng việc xác định Hợp đồng MBHHQT theo LTM 2005 có phạm
vi hẹp hơn so với việc xác định theo BLDS
Theo tác giả Võ Sỹ Mạnh, Hợp đồng MBHHQT là hợp đồng mua bán hànghóa có tính chất quốc tế hay có yếu tố nước ngoài, theo đó một bên (bên bán) cónghĩa vụ giao hàng, chứng từ liên quan hàng hóa và quyền sở hữu về hàng hóa chobên kia (bên mua) và bên mua có nghĩa vụ thanh toán tiền hàng và nhận hàng.13
Từ các phân tích trên, dù có sự đa dạng trong cách tiếp cận về Hợp ĐồngMBHHQT, tuy nhiên, một cách khái Hợp đồng MBHHQT có thể hiểu là sự thỏa thuậngiữa các bên có trụ sở thương mại đặt tại các nước khác nhau, theo đó bên bán
13 Võ Sỹ Mạnh (2015), tlđd (9), tr 25.
Trang 17có nghĩa vụ giao hàng, chuyển giao chứng từ liên quan và quyền sở hữu về hànghóa cho bên mua, và bên mua có nghĩa vụ thanh toán tiền hàng và nhận hàng.
1.2.2 Đặc điểm
Theo định nghĩa về Hợp đồng MBHHQT, có thể thấy rằng khái niệm này baohàm tính thương mại và tính quốc tế Tính thương mại được thể hiện ở chủ thể hợpđồng, đối tượng của hợp đồng, mục đích của hợp đồng Đặc điểm về tính thương mạicủa Hợp đồng MBHHQT về cơ bản giống với đặc điểm chung của hợp đồng thươngmại thông thường Trong khi đó, tính quốc tế thể hiện ở yếu tố quốc tịch của chủ thể, sựdịch chuyển của hàng hóa, đồng tiền thanh toán, pháp luật áp dụng, cơ quan giải quyếttranh chấp là những đặc điểm riêng của Hợp đồng MBHHQT
1.2.2.1 Về tính thương mại của Hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế
Chủ thể của hợp đồng mua bán hàng hóa chủ yếu được thiết lập giữa các thương nhân hoặc một trong hai bên phải là thương nhân Theo khoản 1
Điều 6 của LTM 2005, “Thương nhân bao gồm tổ chức kinh tế được thành lập hợppháp, cá nhân hoạt động thương mại một cách độc lập, thường xuyên và có đăng kíkinh doanh”, theo đó các thương nhân theo LTM 2005 là chủ thể được thành lậphợp pháp và hoạt động thương mại thường xuyên Một số loại chủ thể pháp luậtmặc dù được tổ chức dưới hình thức doanh nghiệp, nhưng thay vì đăng ký kinhdoanh (hay đăng ký doanh nghiệp) lại được đăng ký hoạt động tại cơ quan quản lýnhà nước chuyên ngành, thì không phải là thương nhân, như các tổ chức luật sư,công chứng, thừa phát lại.14
Đối tượng của hợp đồng là hàng hóa Theo khoản 2 Điều 3 LTM 2005 quy
định hàng hóa bao gồm tất cả các loại động sản, kể cả động sản hình thành trong tươnglai và những vật gắn liền với đất, chúng ta dễ dàng nhận thấy hàng hóa chỉ bao gồm cácloại tài sản hữu hình Như vậy, các loại tài sản vô hình khác như quyền sử dụng đất,quyền sở hữu trí tuệ chưa được thừa nhận là hàng hóa Tuy nhiên, không phải lúc nàohàng hóa đáp ứng các điều kiện nêu trên là trở thành đối tượng của Hợp
14 Phan Huy Hồng (2012), “Một số vấn đề cơ bản về vấn đề áp dụng pháp luật đối với hoạt động thương mại”,
Tạp chí Khoa học pháp lý số 03(70)/2012, tr 37.
Trang 18đồng MBHHQT Hàng hóa không được là loại hàng hóa cấm kinh doanh theo phápluật của quốc gia của các bên, hay hàng hóa phải đáp ứng các điều kiện về hạn chếkinh doanh, hoặc kinh doanh có điều kiện Theo Điều 2 CISG 1980, Công ướckhông điều chỉnh các Hợp đồng MBHHQT mà có đối tượng là các hàng hóa dùngcho cá nhân, gia đình hoặc nội trợ, ngoại trừ khi bên bán, vào bất cứ thời gian trướchoặc vào thời điểm giao kết hợp đồng, không biết hoặc không cần biết rằng hànghóa đã được mua để sử dụng như thế; bán đấu giá; để thi hành luật hoặc để thựchiện các quyết định tư pháp; các cổ phiếu, trái phiếu, thương phiếu hoặc tiền tệ;hàng hóa là tàu thủy, máy bay và các thiết bị bay, tàu chạy trên đệm không khí; điệnnăng Như vậy các hàng hóa không thuộc các đối tượng liệt kê trên đều có thể trởthành hàng hóa trong Hợp đồng MBHHQT.
Mục đích của hợp đồng là sinh lợi Bên mua mua hàng hóa để sản xuất kinh
doanh, hay mua để bán lại cũng nhằm đến mục đích sinh ra lợi nhuận, bên bán cungcấp hàng hóa hiển nhiên cũng nhằm để thu về một lợi ích Vì vậy, có thể nói, mục đíchtrong hợp đồng của bên bán cũng như bên mua, dù được mô tả trực tiếp hay gián tiếp,thì đó cũng là nhằm sinh lợi từ việc chuyển giao hàng, quyền sở hữu đối với hàng vàthanh toán.15 Khi thiết lập một Hợp đồng MBHHQT, bên bán và bên mua luôn hướngđến việc tạo lập “sự ràng buộc pháp lý” đối với nhau và trông đợi bên kia cùng thựchiện nghĩa vụ phát sinh từ hợp đồng, nhằm thỏa mãn lợi ích của các bên.16
Tóm lại, mục đích trong Hợp đồng MBHHQT được tạo nên bởi sự thỏa thuậncủa các bên có thể khác nhau tùy vào quan hệ, động cơ giao kết hợp đồng của các bên.Tuy nhiên, là hình thức pháp lý để thực hiện hoạt động thương mại nói chung, hoạtđộng mua bán hàng hóa nói riêng nên về mặt bản chất có thể thấy được các bên thốngnhất với nhau ý chí rằng mục đích các bên giao kết Hợp đồng MBHHQT là nhằm tìmkiếm lợi nhuận và các lợi ích kinh tế khác Điều này tạo nên bản chất của Hợp đồngMBHHQT, khác với các loại hợp đồng khác, và là yếu tố cơ bản cho sự
15Bộ Công thương (2007), Một số điều ước đa phương thường được sử dụng trong thương mại quốc tế: Công ước Viên năm 1980 của Liên Hợp quốc về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế, Nhà xuất bản Đại học Sư Phạm, tr 68.
16 Nguyễn Bá Diến (2005), Giáo trình Luật thương mại quốc tế, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội,
tr.142.
Trang 19tồn tại của Hợp đồng MBHHQT Hợp đồng MBHHQT chỉ có thể được thiết lập vìlợi ích kinh tế mà các bên hướng tới từ hợp đồng này và cũng vì lợi ích kinh tế màcác bên thực hiện hợp đồng Nói cách khác, không có lợi ích kinh tế sẽ không có sựgiao kết và thực hiện Hợp đồng MBHHQT.17
1.2.2.2 Tính quốc tế của Hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế
Quốc tịch hoặc trụ sở của các chủ thể trong hợp đồng có tính quốc tế.
Như đã phân tích, cách xác định một Hợp đồng MBHHQT luôn xuất hiện yếu tố
“các bên có trụ sở thương mại đặt tại các nước khác nhau” Nếu một bên có hơn mộttrụ sở thương mại thì sẽ tính đến trụ sở thương mại có mối liên hệ chặt chẽ nhất đốivới hợp đồng và đối với việc thực hiện hợp đồng đó, các bên không có trụ sở kinhdoanh thì sẽ dựa vào nơi cư trú của họ18, còn quốc tịch của cá nhân người đại diệncủa các bên không có ý nghĩa trong việc xác định các yếu tố của hợp đồng Nhưvậy, khi các bên có trụ sở kinh doanh trong cùng một quốc gia thì hợp đồng muabán hàng hóa giữa họ sẽ mất đi tính quốc tế, đây sẽ là hợp đồng mua bán hàng hóatrong nước, không phải là một Hợp đồng MBHHQT
Thông thường có sự chuyển dịch quan biên giới của hàng hóa Vì hàng
hóa là đối tượng mua bán giữa các thương nhân ở quốc gia khác nhau, nên hàng hóacần đi ra khỏi biên giới quốc gia bên bán hoặc biên giới hải quan của bên bán để đếnđược quốc gia bên mua Tuy nhiên, có trường hợp hàng hóa không được dịchchuyển qua biên giới nhưng hợp đồng mua bán đó vẫn được xem là Hợp đồngMBHHQT Khi bên bán và bên gia công hàng hóa cho bên mua ở cùng một quốcgia, khi đó, hàng hóa sẽ không phải được dịch chuyển qua biên giới để giao cho bênmua, mà hàng hóa sẽ được giao đến cho bên gia công, lúc này, hợp đồng mua bánhàng hóa giữa bên mua và bên bán vẫn là một Hợp đồng MBHHQT
Đồng tiền thanh toán trong Hợp đồng MBHHQT phải là ngoại tệ với một hoặc cả hai bên (trường hợp các bên chọn đồng tiền của bên thứ ba để xác định giá trị hàng hóa trong hợp đồng) 19 Nếu như trong các hợp đồng mua bán hàng hóa
17 Võ Sỹ Mạnh (2015), tlđd (9), tr 28.
18 Điều 10 CISG.
19 Trường Đại học Luật TP HCM, tldđ (6), tr 140.
Trang 20trong nước, đồng tiền thanh toán phải là đồng Việt Nam thì trong Hợp đồngMBHHQT, vì các bên ký kết có trụ sở kinh doanh ở các quốc gia khác nhau, hệthống tiền tệ khác nhau, nên thông thường, đồng tiền thanh toán là ngoại tệ đối với
ít nhất một bên ký kết Các bên được tự do lựa chọn đồng tiền thanh toán, đó có thể
là đồng tiền của nước bên bán, của nước bên mua hay của nước thứ ba Nhìn chung,các bên thường lựa chọn các đồng tiền mạnh có thể tự do chuyển đổi như USD,Euro, DM, Yên Nhật, Bảng Anh 20 Tuy nhiên, cũng có trường hợp đồng tiền thanhtoán đều là nội tệ của cả hai bên (ví dụ như các doanh nghiệp thuộc các nước trongcộng đồng Châu Âu sử dụng đồng Euro là đồng tiền chung) Các bên khi ký kết cầncẩn thận trong việc thỏa thuận lựa chọn đồng tiền thanh toán sao cho thuận tiện nhấtđối với các bên và dễ dàng cho việc thanh toán cũng như hạn chế tối đa được rủi ro
do sự biến động về tỉ giá ngoại tệ trên thị trường.21
Về pháp luật áp dụng, Hợp đồng MBHHQT chịu sự điều chỉnh bởi các nguồn luật khác nhau Khác với hợp đồng mua bán hàng hóa trong nước, Hợp
đồng MBHHQT do có yếu tố nước ngoài, nên pháp luật điều chỉnh của hợp đồngkhông chỉ trong phạm vi đơn thuần pháp luật của một quốc gia Do đó, khi ký kếtcác chủ thể có thể thỏa thuận lựa chọn luật áp dụng hoặc phải tuân theo một hoặcnhiều nguồn luật khác nhau như Điều ước thương mại quốc tế, Tập quán thươngmại quốc tế, pháp luật của quốc gia22
Về nguyên tắc, các bên sẽ tự do thỏa thuận nguồn luật áp dụng để điều chỉnhHợp đồng MBHHQT theo nguyên tắc tự do thỏa thuận (trừ các trường hợp gây ảnhhưởng đến trật tự công) Trường hợp các bên không có thỏa thuận lựa chọn, việc lựachọn pháp luật điều chỉnh để giải quyết tranh chấp sẽ được thực hiện theo các quy tắc
tư pháp quốc tế trong việc lựa chọn hệ thống pháp luật để giải quyết tranh chấp.23
Về cơ quan giải quyết tranh chấp, dựa theo thỏa thuận các bên, tranh chấp
có thể được giải quyết bởi Tòa án hay Trọng tài tại quốc gia của một trong
20 Võ Sỹ Mạnh (2015), tlđd (9), tr 26.
21 Nguyễn Thị Minh Nghĩa, tlđd (11), tr 11.
22 Trường Đại học Luật TP HCM, tldđ (6), tr 142, 143.
23 Trường Đại học Luật TP HCM, tldđ (6), tr.143.
Trang 21các bên, hoặc cũng có thể là tại Tòa án, Trọng tài tại một quốc gia khác Nếu
các bên không có thỏa thuận, tranh chấp sẽ không đương nhiên mặc định được giảiquyết tại Tòa án/Trọng tài tại một quốc Vì tính chất quốc tế của hợp đồng sẽ làmphát sinh xung đột về thẩm quyền giữa các Tòa án/Trọng tài của các bên hoặc ởnước thứ ba, do đó, cần dựa vào các nguyên tắc giải quyết xung đột của luật lựachọn để xác định cơ quan xét xử phù hợp nhất
1.2 Vi phạm nghĩa vụ giao hàng trong Hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế
1.2.1 Nghĩa vụ giao hàng trong Hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế
Có nhiều cách tiếp cận về khái niệm giao hàng trong các nghiên cứu họcthuật Theo tác giả Nishio, và Kishino thì, giao hàng là quá trình vận chuyển hànghóa từ một vị trí nguồn đến một điểm đến được xác định trước Hàng hóa (hàng hóavật chất) chủ yếu được giao thông qua đường bộ và đường sắt trên bộ, đường vậnchuyển trên biển và mạng lưới hàng không trên không.24 Một định nghĩa khác vềgiao hàng được đặt trong bối cảnh phù hợp với Hợp đồng MBHHQT của PeterHuber, theo đó, “Giao hàng”, chỉ đề cập đến các bước mà bên bán phải thực hiện đểđảm bảo rằng bên mua có được quyền sở hữu hàng hóa Do đó, theo nguyên tắcchung, nghĩa vụ giao hàng có thể được thực hiện đơn phương bởi bên bán mà khôngnhu cầu hợp tác của bên mua.25
Từ các định nghĩa trên, có thể hiểu trong bối cảnh thương mại quốc tế, giaohàng là hoạt động thực hiện nghĩa vụ của bên bán trong Hợp đồng MBHHQT
Nghĩa vụ giao hàng được quy định tại Điều 30 CISG, cụ thể: “Bên bán có nghĩa vụ giao hàng, giao chứng từ liên quan đến hàng hóa và chuyển giao quyền sở hữu về hàng hóa theo đúng quy định của hợp đồng và Công ước này”, kết hợp với các Điều
31, 32, 33, 34 CISG, có thể thấy nghĩa vụ giao hàng chính là giao hàng đúng thời
gian, địa điểm, và đảm bảo hàng hóa phù hợp với hợp đồng
24 Nishio, S.; Kishino, F (2003) Advanced Multimedia Content Processing: First International Conference, AMCP'98, Osaka, Japan, November 9-11, 1998, Proceedings; Lecture Notes in Computer
Science Springer Berlin Heidelberg p 196
25 Peter Huber, Alastair Mullis (2007), The CISG – A new textbook for students and practitioners,
Nhà xuất bản Sellier European Law, tr 107.
Trang 22Nghĩa vụ giao hàng của bên bán phải được quy định rõ ràng và cụ thể bởi đây làhợp đồng mua bán hàng hóa giữa thương nhân với thương nhân, mục đích mua bánhàng hóa là để kinh doanh, do đó số lượng hàng hóa trong giao dịch rất nhiều so vớicác hợp đồng mua bán mục đích tiêu dùng, hơn nữa vì các thương nhân thường là ở cácquốc gia khác nhau nên quãng đường vận chuyển hàng hóa dài, keo theo nhiều tráchnhiệm vận chuyển và bảo quản, và sẽ phát sinh nhiều rủi ro trong quá trình vận chuyển.
Do đó cần phải quy định cụ thể nghĩa vụ giao hàng của bên bán theo từng trường hợp(dựa vào đặc điểm của hàng hóa, vị trí địa lý các bên, phương thức vận chuyển, mụcđích sử dụng ) để phân phối trách nhiệm và rủi ro với từng bên Nghĩa vụ giao hàngcủa bên bán trong các Hợp đồng MBHHQT không hoàn toàn giống nhau, nghĩa vụ nàythay đổi một cách phức tạp, bởi lẽ nghĩa vụ của bên bán sẽ được điều chỉnh bởi nhiềunguồn pháp luật khác nhau, ngoài thỏa thuận trong hợp đồng còn gồm tập quán muabán hàng hóa quốc tế (một trong những tập quán mua bán hàng hóa phổ biến nhất làIncoterms), công ước quốc tế, các điều ước quốc tế, pháp luật quốc gia Ví dụ như khitập quán mua bán hàng hóa quốc tế Incoterm điều chỉnh hợp đồng, mà đây là tập quánmua bán với nhiều phiên bản khác nhau: Incoterms 2000, Incoterms 2010, Incoterms
2020, phiên bản Incoterms sau không làm mất đi hiệu lực của phiên bản Incotermstrước, do đó việc xác định phiên bản nào có hiệu lực để điều chỉnh hợp đồng cũng làmột vấn đề đáng lưu tâm Hơn nữa, trong mỗi bản Incoterms đều có quy định các điềukiện giao hàng khác nhau, quy định mức độ nghĩa vụ giao hàng khác nhau Nếu các bênlựa chọn điều kiện giao hàng là EXW, thì bên bán chỉ có nghĩa vụ giao hàng cho ngườichuyên chở tại cơ sở của bên bán khi đã làm thủ tục thông quan xuất khẩu, đồng thờikhông phải chịu cước phí vận tải26; tuy nhiên nếu các bên lựa chọn điều kiện giao hàngDAP, thì bên bán phải có nghĩa vụ tối đa, bên bán phải giao hàng cho bên mua tại nơiđến quy định, khi hàng hóa vừa phải được thông quan xuất khẩu và thông quan nhậpkhẩu, đặt hàng hóa dưới quyền định đoạt của bên mua.27 Cần lưu ý là các điều kiệngiao hàng của Incoterms
26 ICC (2010), Incoterms 2010, Nhà xuất bản Thông tin và truyền thông, (Hà Nội), tr 15.
27 Trần Hoàng Phương Hằng (2011), Incoterms 2010 và việc lựa chọn điều kiện giao hàng của doanh nghiệp Việt Nam, Khóa luận tốt nghiệp, Trường đại học Luật TP.HCM, tr 36, 37.
Trang 23không điều chỉnh toàn bộ nghĩa vụ giao hàng của bên bán mà chỉ điều chỉnh vềnghĩa vụ thuê phương tiện vận tải, mua bảo hiểm hàng hóa, thời điểm giao hàng, chiphí và rủi ro mà bên bán phải chịu, còn những nghĩa vụ khác về việc bàn giao chứng
từ liên quan đến hàng hóa, hàng hóa phù hợp với hợp đồng thì phải dựa vào cácnguồn luật khác, như CISG
1.2.2 Vi phạm nghĩa vụ giao hàng trong Hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế
Vi phạm được hiểu là không tuân theo hoặc làm trái những điều quy định28 Viphạm hợp đồng hay vi phạm nghĩa vụ (breach of contract) là không thực hiện bất kỳđiều khoản nào của hợp đồng, bằng văn bản hoặc bằng miệng mà không có lý do hợppháp chính đáng Điều này có thể bao gồm không hoàn thành công việc, không thanhtoán đầy đủ hoặc đúng hạn, không giao tất cả hàng hóa, thay thế hàng hóa kém chấtlượng hoặc hàng hóa quá khác biệt, không cung cấp trái phiếu khi được yêu cầu, chậmtrễ mà không có lý do, hoặc bất kỳ hành động nào thể hiện ý chí của bên không hoànthành công việc ("vi phạm hợp đồng trước thời hạn").29 Tác giả David Kelly cho rằng
“vi phạm hợp đồng là khi một trong các bên không thực hiện một cách thỏa đáng nghĩa
vụ hợp đồng Vi phạm hợp đồng có thể xảy ra dưới 3 dạng: (1) Khi một bên, trước thờihạn thực hiện hợp đồng, tuyên bố rằng họ sẽ không thực hiện nghĩa vụ của mình (viphạm trước thời hạn); (2) khi một bên không thực hiện nghĩa vụ hợp đồng; (3) khi mộtbên thực hiện không đúng nghĩa vụ hợp đồng”.30 Theo một quan điểm khác, vi phạmhợp đồng là việc không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ hợp đồng màcác bên đã thỏa thuận, theo thói quen trong thương mại giữa các bên, pháp luật điềuchỉnh hợp đồng hoặc tập quán thương mại quy định.31
Theo LTM 2005, vi phạm hợp đồng là việc một bên không thực hiện, thực hiệnkhông đầy đủ hoặc không đúng nghĩa vụ theo thỏa thuận giữa các bên hoặc theo quy
định của pháp luật thương mại Trong khi đó, theo BLDS quy định“Vi phạm nghĩa vụ
là việc bên có nghĩa vụ không thực hiện nghĩa vụ đúng thời hạn, thực hiện
28 Hoàng Phê (1996), Từ điển tiếng Việt, Nhà xuất bản Đà Nẵng.
29 Từ điển online tại https://dictionary.law.com/Default.aspx?selected=93, truy cập lần cuối ngày 06/7/2021.
30 David Kelly (2002), Business Law, Cavendish Publishing, UK, p 182.
31 Lê Hữu Hải (2020), Chế tài do vi phạm Hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế theo Công ước viên 1980,
Tóm tắt Luận văn Thạc sĩ, Đại học Huế Trường Đại học Luật, tr 6.
Trang 24không đầy đủ nghĩa vụ hoặc thực hiện không đúng nội dung của nghĩa vụ” 32 , có thể
thấy BLDS cũng tiếp cận về vi phạm nghĩa vụ bằng việc miêu tả hành động khôngthực hiện đúng thời hạn, thực hiện không đầy đủ, thực hiện không đúng nội dungcủa nghĩa vụ
Mặc dù không đưa ra định nghĩa, CISG tiếp cận khái niệm vi phạm hợp đồngtheo nghĩa rộng nhất, bao gồm tất cả các hành vi không tuân thủ quy định của hợp đồngnhư không thực hiện nghĩa vụ, chậm thực hiện nghĩa vụ, thực hiện nghĩa vụ không đầy
đủ hoặc không phù hợp, mà không phân biệt đó là nghĩa vụ chính hay phụ, kể cả nhữngtrường hợp được miễn trách nhiệm.33 Nhìn chung, CISG diễn tả khái niệm vi phạm hợpđồng theo nghĩa rộng, sử dụng một công thức để mô tả các hành
vi vi phạm hợp đồng Chỉ có một yếu tố bổ sung được dùng để phân loại tính chất củahành vi vi phạm liên quan đến mức độ nghiêm trọng của nó, tiêu biểu như nếu có
vi phạm cơ bản, bên còn lại có quyền chọn các chế tài nhiều hơn so với khi vi phạm chỉ mang tính chất đơn giản.34
Từ việc tham khảo các cách tiếp cận trên, người viết cho rằng vi phạm nghĩa
vụ giao hàng là việc bên bán không thực hiện hoặc thực hiện không đúng các nghĩa
vụ liên quan đến việc giao hàng theo hợp đồng hoặc theo tập quán, thói quen giữacác bên, và theo pháp luật điều chỉnh hợp đồng đó
1.3 Các biện pháp chế tài áp dụng do vi phạm nghĩa vụ giao hàng trong Công ước Viên 1980
1.3.1 Khái niệm về biện pháp chế tài
1.3.1.1 Khái niệm
Do hệ thống pháp luật các quốc gia cũng như quốc tế đều có nguồn gốc, hoặcchịu ảnh hưởng của luật La Mã nói chung và nguyên tắc “pacta sunt servanda” nóiriêng, nên các hệ thống pháp luật này đều nhìn nhận tính ràng buộc của hợp đồng và
32 Khoản 1 Điều 351 Bộ luật Dân sự 2015.
33 Chengwei Liu (2003), Remedies for Non-performance – Perspectives from CISG, UNIDROIT Principles and PECL, tr 108.
34 Nguyễn Minh Hằng, Nguyễn, Minh Hằng (Chủ biên) (2016), 101 câu hỏi - đáp về công ước của Liên Hợp Quốc về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế (CISG), Nhà xuất bản Thanh Niên, tr.163, 164.
Trang 25đều buộc các bên tham gia xác lập hợp đồng phải thực hiện nghĩa vụ của mình phùhợp với các điều khoản đã thỏa thuận Vì vậy, không thực hiện nghĩa vụ hoặc thựchiện không đúng các nghĩa vụ mà các bên đã thỏa thuận được xem là hành vi viphạm hợp đồng.
Trong Hợp đồng MBHHQT, các bên phải thực hiện nghĩa vụ của mình một cáchđầy đủ và chính xác, cụ thể hơn, bên bán phải thực hiện nghĩa vụ giao hàng của mình
để không làm ảnh hưởng đến lợi ích của bên mua Tuy nhiên, không phải lúc nào nghĩa
vụ giao hàng cũng được thực hiện đúng và đầy đủ Để đề phòng những vi phạm sẽ cókhả năng xảy ra cao và nhằm thiết lập những uy tín cho nhau khi giao kết hợp đồng,pháp luật đã có những quy định về trách nhiệm hợp đồng mà hình thức biểu hiện của
nó là những chế tài.35 Đây là những dự liệu các hệ quả pháp lý nhằm khắc phục tìnhtrạng do hành vi không thực hiện nghĩa vụ theo hợp đồng gây nên.36
Thuật ngữ chế tài (“remedies”) là thuật ngữ được sử dụng trong Công ướcViên về Hợp đồng MBHHQT năm 1980 (CISG) Các thuật ngữ “sanctions”,
“sanctions contractuelle civiles” hay “les sanctions de l'inexécution des obligationscontractuelle” có nội hàm tương đồng với thuật ngữ “remedies”, “remedies forbreach of contract”, “remedies for non-performance” trong tiếng Anh Đặc biệt,phiên bản tiếng Pháp của CISG, UPICC và PECL đã sử dụng thuật ngữ “moyens”
để tránh nhầm lẫn với thuật ngữ “sanctions” trong tiếng Anh.37
Có nhiều định nghĩa về chế tài, chế tài (sanction) được hiểu là: biện pháp bắtbuộc gắn liền với bất kỳ quy phạm pháp luật nào (cấu thành nên các tiêu chuẩn đặctrưng của pháp luật và đạo đức); biện pháp đáp trả sự vi phạm pháp luật (hình phạt, hủy
bỏ, vô hiệu, hết thời hiệu,…); biện pháp đáp trả sự vi phạm một nghĩa vụ38 Theo từđiển Black's Law, chế tài (sanction) được hiểu là “một hình phạt hoặc biện pháp
35 Dương Thị Lan (2010), Mối quan hệ giữa các chế tài thương mại trong LTM 2005, Khóa luận tốt
nghiệp,
Trường đại học Luật Tp.HCM, tr 6
36 Bùi Thị Thanh Hằng, ““Trách nhiệm dân sự”, “chế tài” hay “biện pháp khắc phục” đối với hành
vi vi phạm hợp đồng?”, phap-khac-phuc doi-voi-hanh-vi-vi-pham-hop-dong-.html, truy cập lần cuối ngày 30/6/2021.
http://lapphap.vn/Pages/TinTuc/208001/-Trach-nhiem-dan-su che-tai hay bien-37 Bùi Thị Thanh Hằng, tlđd (36), truy cập lần cuối ngày 30/6/2021.
38 Black's Law Dictionary, Seventh Edition, West group, 1999, p 1341.
Trang 26cưỡng chế là kết quả của việc không tuân thủ luật, nguyên tắc hoặc phán lệnh”39.Chế tài (remedy) là phương tiện để đạt được công bằng về bất kỳ vấn đề nào liênquan đến các quyền hợp pháp Các chế tài có thể do Tòa án yêu cầu thực hiện, theophán quyết sau khi đã thông qua phiên xét xử hoặc điều trần, theo thỏa thuận giữangười yêu cầu áp dụng các chế tài và người bị cáo buộc có vi phạm, và theo quyđịnh của pháp luật.40 Dưới góc độ lý luận, “chế tài” được hiểu là một trong ba bộphận cấu thành nên quy phạm pháp luật41 và “chế tài dân sự” là “hậu quả pháp lýbất lợi ngoài mong muốn được áp dụng đối với người có hành vi vi phạm trongquan hệ dân sự khi họ không thực hiện, thực hiện không đúng các nghĩa vụ dân
sự.42 Một quan điểm khác, chế tài là một phần của quy phạm pháp luật chỉ ra cácbiện pháp mang tính chất trừng phạt mà các chủ thể có thẩm quyền áp dụng quyphạm có thể áp dụng đối với các chủ thể mà vi phạm pháp luật, không thực hiệnđúng những mệnh lệnh đã được nêu trong phần quy định của quy phạm pháp luật.43Chế tài được hiểu là một bộ phận của quy phạm pháp luật, là biện pháp tác động mànhà nước dự kiến sẽ áp dụng đối với những chủ thể nào không thực hiện đúng mệnhlệnh nhà nước đã nêu ở phần quy định của quy phạm pháp luật.44
CISG không quy định về định nghĩa của chế tài, chỉ đưa ra quy định rằng khibên bán vi phạm nghĩa vụ giao hàng thì bên mua có quyền áp dụng các chế tài.45Các biện pháp chế tài trong CISG là các biện pháp bảo đảm hiệu lực của hợp đồng,bảo vệ lợi ích của bên bị vi phạm, cân bằng lợi ích các bên, và được quy định trongCông ước
39 Black's Law Dictionary, Seventh Edition, West group, 1999, p 1341.
40 Theo từ điển Legal Dictionary, https://dictionary.law.com/Default.aspx?selected=1784, truy cập lần cuối ngày 28/06/2021.
41 Xem Từ điển Luật học, Bộ Tư pháp - Viện Khoa học pháp lý, Nxb Từ điển Bách khoa, Nxb Tư pháp,
2006, tr 130.
42 Bùi Thị Thanh Hằng, tlđd (36), truy cập lần cuối ngày 30/6/2021.
43 Đại học Luật Hà Nội (2009), Giáo trình lý luận nhà nước và pháp luật, Nhà xuất bản Công an nhân dân, tr.
391.
44 Đại học Luật Hà Nội , tlđd (43), tr 375.
45 Điều 45 CISG.
Trang 27Việc vi phạm của các bên không đơn thuần chỉ là vi phạm những quy định của phápluật mà còn là những vi phạm từ những điều khoản của hợp đồng Do đó bên bị viphạm có thể tự mình hoặc yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền áp dụng chế tài.
Có thể hiểu rằng, chế tài là các biện pháp pháp lý bắt buộc được yêu cầu thựchiện bởi bên bị vi phạm hoặc cơ quan tài phán, gây nên hậu quả bất lợi cho bên viphạm và để bảo đảm hiệu lực của hợp đồng, bảo vệ lợi ích chính của bên bị vi phạm
1.3.1.2 Đặc điểm
Thứ nhất, điều kiện chung để áp dụng các loại chế tài trong thương mại
là có hành vi vi phạm nghĩa vụ hoặc vi phạm cơ bản nghĩa vụ Hành vi vi phạm
có thể là hành động hoặc không hành động trái với nghĩa vụ Các biện pháp chế tàitrong CISG hầu hết còn đòi hỏi thêm yêu cầu về thông báo để áp dụng các chế tài
Thứ hai, kết quả khi áp dụng chế tài có tính tài sản Khi áp dụng chế tài,
bên vi phạm sẽ phải gánh chịu những hậu quả bất lợi về tài sản khi thực hiện nhữnghành vi vi phạm của mình Bên vi phạm phải chịu những chi phí cần thiết để hợpđồng được thực hiện theo đúng cam kết (khi áp dụng chế tài buộc thực hiện hợpđồng), lấy tài sản của mình để bồi thường thiệt hại, gánh chịu những chi phí có thểphát sinh kể khi hợp đồng bị hủy bỏ Vì các bên giao kết hợp đồng nhằm mục đíchsinh lợi từ công việc kinh doanh của mình, khi một bên vi phạm nghĩa vụ sẽ ảnhhưởng đến quyền lợi của bên còn lại (quyền lợi mỗi bên trong hợp đồng mua bánhàng hóa được xem là khoản tiền hoặc vật chất), thì bên vi phạm – bên gây ra mấtmát phải có trách nhiệm cân bằng khoản vật chất bị mất
Thứ ba, việc áp dụng chế tài hay không là quyền của bên bị vi phạm Vì
mục đích của việc áp dụng các chế tài là để bảo vệ quyền lợi của bên bị vi phạm Do
đó, trong việc cân nhắc về sự phù hợp với các quyền lợi bị mất, bên bị vi phạm đượctrao quyền lựa chọn các biện pháp chế tài để xử lý hành vi vi phạm của bên kia.Việc xử
lý có thể dựa vào thỏa thuận của các bên, hoặc nếu không có thỏa thuận, bên bị vi phạm
có thể dựa vào quy định của pháp luật điều chỉnh hợp đồng để yêu cầu bên vi phạmthực hiện Quy định về việc áp dụng chế tài trong LTM 2005 thể hiện chung một quanđiểm là chỉ bên nào bị vi phạm mới là bên được quyền yêu cầu áp dụng
Trang 28chế tài Quy định trong CISG tại Điều 45 (1) và Điều 61 (1) đều quy định bên muahoặc bên bán, khi là bên bị vi phạm thì có quyền áp dụng các biện pháp chế tài đốivới bên vi phạm “Quyền” chỉ rõ rằng bên bị vi phạm được lựa chọn có áp dụng cácbiện pháp chế tài hay không, chứ không phải là bắt buộc phải áp dụng chế tài.
Thứ tư, có thể đồng thời áp dụng nhiều chế tài trong thương mại khác nhau đối với một hành vi vi phạm hợp đồng Tuy nhiên, không thể áp dụng đồng
thời hai chế tài có mục đích, bản chất hay hậu quả pháp lý trái ngược nhau.46
1.3.2 Các hình thức chế tài do vi phạm nghĩa vụ giao hàng
Các hình thức chế tài áp dụng cho hành vi vi phạm hợp đồng nói chung lànhững biện pháp pháp lý nhằm mục đích bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp và những bùđắp tổn thất mà bên bị thiệt hại đã gánh chịu.47 Tùy thuộc vào hệ thống pháp luật màcác biện pháp chế tài có sự khác nhau Ở các quốc gia theo hệ thống Thông luật, cácbiện pháp chế tài khi vi phạm hợp đồng có thể áp dụng là bồi thường thiệt hại, yêu cầuthực hiện nghĩa vụ hợp đồng, hủy bỏ, và hoàn trả48 Mặt khác, tại các nước theo hệthống Dân luật, chẳng hạn như Việt Nam, theo LTM 2005, các biện pháp chế tài khi viphạm nghĩa vụ là: Buộc thực hiện đúng hợp đồng, Phạt vi phạm; Buộc bồi thường thiệt
hại; Tạm ngừng thực hiện hợp đồng; Đình chỉ thực hiện hợp đồng; Huỷ bỏ hợp đồng 49
CISG với vị thế là một văn bản thống nhất pháp luật quốc tế, không quy định các biệnpháp chế tài khi bên bán vi phạm nghĩa vụ giao hàng ở một chương cụ thể, mà đượcquy định rải rác tại các chương khác nhau trong Công ước Cụ thể, từ Điều 45 đến Điều
52, từ Điều 71 đến Điều 73, Điều 74 đến Điều 77 Những chế tài mà bên mua có thể ápdụng khi bên bán vi phạm nghĩa vụ giao hàng là: buộc bên bán phải thực hiện nghĩa vụ,tạm ngừng thực hiện nghĩa vụ, tuyên bố hủy hợp đồng, yêu cầu bồi thường thiệt hại,yêu cầu giảm giá hàng hóa, yêu cầu thanh toán lãi suất
46 Phan Huy Hồng, tlđd (14), tr 122.
47 Trường Đại học Luật TP HCM, tldd (6), tr 95.
48JEC, “Remedies for breach of contract”, tutorial/remedies-for-breach-of-contract, truy cập lần cuối ngày 30/6/2021.
http://jec.unm.edu/education/online-training/contract-law-49 Nguyễn Quốc Trưởng (2020), “Trách nhiệm pháp lý khi vi phạm hợp đồng thương mại”, Tạp chí Tòa án nhân dân điện tử, https://www.tapchitoaan.vn/bai-viet/nghien-cuu/trach-nhiem-phap-ly-khi-vi-pham- hop-dong-thuong-mai, truy cập lần cuối ngày 28/06/2021.
Trang 291.3.3 Các chức năng của việc áp dụng chế tài
1.3.3.1 Chức năng ngăn ngừa và hạn chế vi phạm hợp đồng
Để bảo đảm việc thực hiện các nghĩa vụ được quy định trong hợp đồng, các bênthỏa thuận các chế tài tương ứng với các hành vi vi phạm Thông qua việc thỏa thuậncác chế tài cho hành vi vi phạm hợp đồng, các bên có sự dự phòng trước các chế tàitương ứng với các hành vi vi phạm một khi có xảy ra Trường hợp dù các bên không cóthỏa thuận trước, thì dựa trên pháp luật điều chỉnh tranh chấp phát sinh trong hợp đồng,các chế tài cho hành vi vi phạm vẫn sẽ được áp dụng Như vậy, các bên sẽ nghiêm túcthực hiện nghĩa vụ của mình hơn, bởi lẽ các bên sẽ phải đối mặt với chế tài pháp lý đãđặt ra tương ứng với các hành vi vi phạm của mình Chức năng ngăn ngừa vi phạm thểhiện rõ ở chế tài tạm ngưng thực hiện hợp đồng, hủy bỏ hợp đồng trước thời hạn, hủy
bỏ phần hợp đồng trong tương lai trong hợp đồng giao hàng từng phần Các biện phápchế tài này đều có đặc điểm, dù chưa có vi phạm hợp đồng xảy ra trên thực tế, nhưng vì
có dấu hiệu có thể chứng minh sẽ có sự vi phạm, nên để phòng tránh việc vi phạm sẽxảy ra làm thiệt hại đến một bên, các biện pháp này bảo vệ cho bên có khả năng bị viphạm có thời gian để đảm bảo quyền lợi của mình không bị xâm hại (khi áp dụng biệnpháp tạm ngưng thực hiện hợp đồng) hoặc giúp bên bị
vi phạm giải phóng khỏi hợp đồng sớm để có thời gian và điều kiện tìm đối tác khácthay thế có thể đáp ứng mục đích của mình
Chức năng hạn chế vi phạm được thể hiện ở biện pháp buộc thực hiện hợpđồng Khi một bên có vi phạm trên thực tế, thì vẫn có thể được trao cho cơ hội thứhai để thực hiện đúng nghĩa vụ của mình bằng việc có thêm một thời gian bổ sung
để thực hiện nghĩa vụ, thời gian này được đưa ra bởi bên bị vi phạm Hoặc để hợpđồng được thực hiện đúng, bên bán – bên bị vi phạm có thể thực hiện sửa chữa,khắc phục hoặc giao hàng hóa thay thế để sửa chữa vi phạm của mình
1.3.3.2 Chức năng bù đắp tổn thất do hành vi vi phạm gây ra
Hiển nhiên rằng, bên mua giao kết hợp đồng, mua hàng hóa để phục vụ côngviệc kinh doanh của mình, có thể là để sản xuất sản phẩm của mình hoặc bán lại đểsinh lợi Việc bên bán vi phạm nghĩa vụ giao hàng, vừa làm bên mua không thể đạt
Trang 30được mục đích theo cơ sở hợp đồng (không có hàng hóa, không sở hữu hàng hóakịp thời, hàng hóa không thể sử dụng theo mục đích mong muốn), mà từ đó làm bênmua sẽ bị mất đi khoản lợi mà đáng lẽ khi việc giao hàng được thực hiện chuẩn xác
sẽ được hưởng Do đó, các biện pháp chế tài đặt ra để bảo vệ bên bị vi phạm (bênmua) đối với các thiệt hại mà mình phải đối mặt Chức năng này thể hiện rõ nhất ởchế tài bồi thường thiệt hại Chức năng bù đắp tổn thất được phát huy kể cả có sựtồn tại các biện pháp ngăn ngừa và hạn chế vi phạm, thể hiện ở việc biện pháp bồithường thiệt hại có thể áp dụng đồng thời với các biện pháp chế tài khác
1.3.4 Các nguyên tắc khi áp dụng các chế tài
1.3.4.1 Nguyên tắc ưu tiên giữ lại hợp đồng (favor contractus)
Nguyên tắc ưu tiên giữ lại hợp đồng được hình thành nhằm hướng đến sựduy trì mối quan hệ hợp đồng bằng cách hạn chế các trường hợp hợp đồng vô.50Nguyên tắc favor contractus thể hiện ảnh hưởng rõ nét trong các quy phạm buộcthực hiện đúng hợp đồng (là biện pháp bảo vệ quyền sở hữu) với biện pháp yêu cầubồi thường thiệt hại; đồng thời, cho phép bên mua là bên bị vi phạm lựa chọn ápdụng một trong các trên Như vậy, cả hai biện pháp tại Điều 46 và Điều 74 củaCISG đều là các biện pháp đề cao việc tiếp tục thực hiện nghĩa vụ của các bên.51
Nguyên tắc ưu tiên giữ lại hợp đồng (favor contractus) có ảnh hưởng đếnkhông chỉ biện pháp yêu cầu thực hiện đúng hợp đồng, mà còn ảnh hưởng đến cácbiện pháp chế tài khác, kể cả chế tài tuyên bố hủy bỏ hợp đồng, thể hiện ở yêu cầunghiêm ngặt về điều kiện hủy bỏ, nếu không đáp ứng được điều kiện này, thì khôngthể hủy bỏ hợp đồng Như vậy, có thể thấy, giữa các chế tài của CISG, cho dù là cácchế tài không thể được áp dụng cùng nhau, vẫn chịu ảnh hưởng của nguyên tắc “ưutiên giữ lại hợp đồng”
1.3.5.2 Nguyên tắc sự ngang bằng của các biện pháp chế tài (pari passu)
Các biện pháp chế tài trong CISG sẽ được áp dụng bởi bên bị vi phạm mộtcách ngang bằng, không có biện pháp chế tài nào là ưu thế hơn biện pháp khác mà
50 Lê Tấn Phát (2017), “Nguyên tắc favor contractus trong việc áp dụng các biện pháp xử lý vi
phạm hợp đồng theo Công ước Vienna năm 1980”, Tạp chí Khoa học Pháp lý, số 07/2017, tr 20.
51 Lê Tấn Phát, tlđd (50), tr 21.
Trang 31các biện pháp chế tài sẽ được áp dụng hoàn toàn do sự lựa Tuy nhiên, vì có ảnhhưởng bởi nguyên tắc ưu tiên giữ lại hợp đồng, nên đối với 02 chế tài (“chấm dứthợp đồng (avoid), và yêu cầu thay thế hàng hóa (the right to require substitutegoods)) được xem là có hệ quả nghiêm trọng hơn, vì thế để áp dụng hai chế tài nàycần phải đáp ứng sự vi phạm ở mức nghiêm trọng hơn – vi phạm cơ bản so với yêucầu có vi phạm ở các chế tài khác.
1.3.5.3 Nguyên tắc chế tài bồi thường thiệt hại luôn có thể kết hợp với các biện pháp chế tài khác
Tất cả các biện pháp chế tài mà bên bị vi phạm áp dụng đều có thể kết hợpđồng thời với chế tài đòi bồi thường thiệt hại (compensation for damages) Điều 45(2) của CISG nêu rõ, bên mua sẽ “ không mất quyền đòi bồi thường thiệt hại khi
họ sử dụng quyền dùng một biện pháp bảo hộ pháp lý khác” Như vậy, trong trườnghợp một bên chấm dứt hợp đồng, hay yêu cầu giao hàng hóa thay thế hay bất cứ chếtài nào thì bên bị vi phạm vẫn có quyền yêu cầu đòi bồi thường đối với những thiệthại
1.3.5.4 Nguyên tắc các biện pháp chế tài do các bên tự thực hiện (principle of self-help remedy)
Các biện pháp chế tài trong CISG được thiết kế trên nguyên tắc các quyền màbên bán hoặc bên mua có thể áp dụng đối với vi phạm hợp đồng của phía bên kia sẽđược thực hiện trên cơ sở tuyên bố đưa ra cho phía bên kia Như vậy, việc áp dụng chếtài hợp đồng sẽ được thực thi bằng hành động của các bên, chứ không phải sẽ được tựđộng được thực hiện (ipso facto) cũng không cần phải thông qua cơ chế pháp lý, phánquyết của cơ quan xét xử để thực hiện (judicial claim) Do đó, khi có vi phạm hợp đồngcác bên sẽ bắt đầu áp dụng những chế tài thích hợp thông qua một tuyên bố chính thứchoặc thông báo không chính thức cho phía bên kia Điều này giúp giảm chi phí cũngnhư thời gian của các bên vào các thủ tục pháp lý Các biện pháp thông
Trang 32qua cơ chế pháp lý thông thường được thực thi nếu không thể liên hệ với bên viphạm.52
1.3.5.5 Nguyên tắc nghĩa vụ thông báo về vi phạm
Khi có sự vi phạm nghĩa vụ hợp đồng từ phía bên bán, bên mua trước khi ápdụng các biện pháp chế tài thì phải kiểm tra hàng hóa và thông báo cho bên bán về viphạm và các biện pháp chế tài áp dụng Việc thông báo nhằm cho phép bên mua cơ hội
để khắc phục những vi phạm đã xảy ra trong một khoảng thời gian hợp lý Nếu bênmua không thực hiện nghĩa vụ thông báo về vi phạm trong một khoảng thời gian hợp lý
sẽ bị mất quyền khiếu nại về việc hàng hóa không phù hợp hợp đồng
Mặc dù vậy, CISG cũng đưa ra hai trường hợp ngoại lệ ở Điều 40 và 44 Bênmua sẽ không mất quyền viện dẫn việc hàng hóa không phù hợp với hợp đồng khikhông kiểm tra hàng hóa trong thời hạn hợp lý hoặc không thông báo trong thời hạnhợp lý về sự không phù hợp nếu sự không phù hợp đó là điều mà bên bán đã biếthoặc không thể không biết và không thông báo cho bên mua Hoặc khi bên mua có
lý do hợp lý cho việc không đưa ra thông báo trong thời hạn hợp lý về sự không phùhợp của hàng hóa, hoặc đã không đưa ra thông báo trong thời hạn hợp lý về quyềnhạn, yêu sách của bên thứ ba, thì bên mua cũng sẽ không mất quyền khiếu nại đòigiảm giá hoặc bồi thường thiệt hại
1.3.5.6 Nguyên tắc ưu tiên cho việc sửa chữa (precedence of right to cure)
Nguyên tắc này có ý nghĩa giúp cho bên bán có cơ hội để thực hiện lại hợpđồng một cách đúng đắn trước khi bên mua có thể áp dụng các biện pháp chế tàihợp đồng Như vậy, theo nguyên tắc này, phía bên bán cần cho bên mua có cơ hộikhắc phục lỗi của hàng hóa trước khi yêu cầu bên bán thay đổi hàng hóa, giảm giátheo hợp đồng hoặc là chấm dứt hợp đồng Tương tự, khoản thiệt hại mà bên mua
có quyền yêu cầu đòi bồi thường sẽ chỉ được tính sau khi bên bán đã nỗ lực khắcphục lỗi của hàng hóa.53
52 Trần Thăng Long, “Các biện pháp chế tài hợp đồng (remedies) trong Công ước Liên Hợp quốc về
mua bán hàng hóa quốc tế (cisg)”, Tài liệu hội thảo, trường Đại Học Luật TP.HCM, tr.53, 54.
53 Trần Thăng Long, tlđd (53), tr.54, 55.
Trang 33Kết luận Chương I
Như vậy, có thể hiểu Hợp đồng MBHHQT là sự thỏa thuận giữa các bên cótrụ sở thương mại đặt tại các nước khác nhau, theo đó bên bán có nghĩa vụ giaohàng, chuyển giao chứng từ liên quan và quyền sở hữu về hàng hóa cho bên mua, vàbên mua có nghĩa vụ thanh toán tiền hàng và nhận hàng Trong Hợp đồngMBHHQT, mỗi bên có nghĩa vụ của mình, và nghĩa vụ giao hàng là nghĩa vụ cơbản thuộc về bên bán, bên bán phải giao hàng đúng thời gian, địa điểm, và đảm bảohàng hóa phù hợp với hợp đồng, pháp luật điều chỉnh bao gồm pháp luật quốc tếcũng như pháp luật quốc gia
Việt Nam đã chính thức phê duyệt việc gia nhập Công ước Viên về Hợpđồng MBHHQT của Liên hợp quốc ("CISG") để trở thành viên thứ 84 của Côngước này Công ước Viên bắt đầu có hiệu lực ràng buộc tại Việt Nam từ ngày1/1/2017, trở thành một bộ phận pháp luật trong hệ pháp luật Việt Nam, nhằm điềuchỉnh mối quan hệ mua bán hàn hóa quốc tế mà thương nhân Việ Nam tham gia.Những chế tài mà bên mua có thể áp dụng khi bên bán vi phạm nghĩa vụ giao hàngđược quy định trong CISG là: buộc bên bán phải thực hiện nghĩa vụ, tạm ngừngthực hiện nghĩa vụ, tuyên bố hủy bỏ hợp đồng, yêu cầu bồi thường thiệt hại, yêu cầugiảm giá hàng hóa, yêu cầu thanh toán lãi suất Trong quá trình áp dụng các chế tài,bên mua được lựa chọn áp dụng các chế tài phù hợp với lợi ích của mình, đồng thờikhi có tranh chấp, các cơ quan xét xử luôn tuân theo các quy tắc để áp dụng chế tài
Trang 34CHƯƠNG II: QUY ĐỊNH VÀ THỰC TIẾN ÁP DỤNG CHẾ TÀI DO VI PHẠM NGHĨA VỤ GIAO HÀNG TRONG HỢP ĐỒNG MUA BÁN HÀNG HÓA QUỐC TẾ THEO CÔNG ƯỚC VIÊN 1980
Một khi Hợp đồng MBHHQT được xác lập và có hiệu lực, sẽ làm phát sinhđồng thời nghĩa vụ cho bên bán và bên mua, trong đó, bên bán có nghĩa vụ điểnhình là giao hàng, và bên mua có nghĩa vụ điển hình là nhận hàng và thanh toán Dovậy, có thể xem nghĩa vụ giao hàng là một trong những nghĩa vụ cơ bản và quantrọng nhất trong Hợp đồng MBHHQT Việc thực hiện các nghĩa vụ khác của bênbán trong hợp đồng, đều hướng đến mục đích để thực hiện nghĩa vụ giao hàng chobên mua54 Khi bên bán vi phạm/không hoàn thành nghĩa vụ giao hàng của mình,hiển nhiên rằng bên mua có quyền áp dụng các chế tài được quy định trong CISG
2.1 Quy định và thực tiễn áp dụng về nghĩa vụ giao hàng trong Hợp đồng mua bán hàng hóa quôc tế theo Công ước viên 1980
Liên quan đến nghĩa vụ giao hàng của bên bán, Điều 30 của CISG quy định
như sau: “Bên bán có nghĩa vụ giao hàng, giao chứng từ liên quan đến hàng hóa và chuyển quyền sở hữu về hàng hóa theo đúng quy định của hợp đồng và Công ước này” Nghĩa vụ giao hàng của bên bán sẽ bao hàm các yêu cầu như sau: giao hàng
đúng địa điểm; giao hàng đúng thời hạn; giao hàng phù hợp với hợp đồng; và giaocác chứng từ kèm theo hàng hóa
2.1.1 Quy định về nghĩa vụ giao hàng của bên bán
2.1.1.1 Nghĩa vụ giao hàng đúng địa điểm và đúng thời hạn, và các nghĩa vụ khác
về xắp xếp việc vận chuyển
Nghĩa vụ giao hàng đúng địa điểm Các bên thường thỏa thuận về địa điểm
giao hàng trong hợp đồng Về nguyên tắc, nếu các bên đã có thỏa thuận trong hợp đồng
về địa điểm giao hàng hoặc các quy định trong hợp đồng cho phép xác định địa điểmgiao hàng (chẳng hạn như thông qua một điều kiện giao hàng trong Incoterms được dẫnchiếu trong hợp đồng hoặc một số điều khoản khác) thì các quy định đó sẽ
54 Trường Đại học Luật TP HCM, tlđd (6), tr 171.
Trang 35được ưu tiên được áp dụng55 và các quy định của CISG về xác định địa điểm phảigiao hàng đến sẽ không được áp dụng nữa.56
Điều 31 CISG quy định đến ba trường hợp khác nhau áp dụng các quy tắckhác nhau, nhưng nguyên tắc chung là bên bán phải giao hàng tại địa điểm kinhdoanh của bên bán là địa điểm giao hàng giả định.57 Theo Công ước, ba trường hợpxác định nghĩa vụ giao hàng của bên bán được quy định như sau:
Thứ nhất, nếu hợp đồng có quy định cả việc vận chuyển hàng hóa thì bên bán phải giao hàng cho người chuyên chở đầu tiên Quy định này chỉ được áp dụng nếu cả
bên mua và bên bán không có nghĩa vụ theo hợp đồng, phải chuyên chở hàng hóa từbên bán sang bên mua; hợp đồng được coi là có quy định về việc vận chuyển nếu cácbên đã xem xét tới các vấn đề hàng hóa sẽ được vận chuyển bởi một hay nhiều ngườichuyên chở độc lập từ bên bán sang cho bên mua Các hợp đồng sử dụng điều kiệnnhóm F, C hay D của Incoterms đều được coi là những hợp đồng mua bán có dẫn đếnviệc chuyên chở hàng hóa.58 Khi đó, bên bán phải giao hàng đến cho người chuyên chở
để được xem là giao hàng đúng địa điểm Nếu có nhiều người chuyên chở tham gia vậnchuyển hàng hóa, thì bên bán được coi là hoàn thành nghĩa vụ của mình nếu đã bàngiao cho người chuyên chở đầu tiên Trong đó, “bàn giao” có nghĩa là người vậnchuyển được giao quyền sở hữu hàng hóa Việc bàn giao các tài liệu liên quan đến hànghóa được coi như không cấu thành việc bàn giao hàng hóa, trừ khi các bên có thỏathuận khác.59 Tuy nhiên, theo Điều 67 (1) CISG, có qun điểm cho rằng nếu bên bán cónghĩa vụ giao hàng hóa cho người vận chuyển tại một địa điểm cụ thể, thì hàng hóaphải được giao cho người vận chuyển tại địa điểm đó.60
Thứ hai, khi hàng hóa được đặt ở một nơi cụ thể, bên bán sẽ giao hàng cho bên mua ở đó Trường hợp thứ hai này chỉ được áp dụng khi có ba điều kiện xảy ra: một là,
hợp đồng không có quy định về việc chuyên chở hàng hóa tại Điều 31 (a) của
Trang 36CISG; hai là, hàng hóa, là đối tượng của hợp đồng, có thể là hàng đặc định hoặc đồngloại, phải được trích ra từ một khối lượng dự trữ xác định hoặc phải được chế tạo haysản xuất; ba là, cả hai bên phải biết, khi hợp đồng được ký kết, rằng hàng hóa đangđược đặt tại (hoặc được sản xuất hoặc sản xuất tại) một địa điểm cụ thể61 Thuật ngữ
“đặt hàng hóa dưới quyền định đoạt của bên mua” được sử dụng trong quy định nêutrên được hiểu là “bên bán đã làm điều cần thiết để bên mua có thể sở hữu hàng hóa”.Điều này có nghĩa là bên bán phải làm mọi việc cần thiết để đảm bảo rằng bên muakhông còn phải làm gì khác ngoài việc nhận hàng tại địa điểm giao hàng.62
Thứ ba, trong các trường hợp khác, bên bán sẽ giao hàng cho bên mua tại địa điểm kinh doanh của bên bán được xác định vào thời điểm giao kết hợp đồng.
Điều 31 (c) là “quy tắc cư trú”, gồm những trường hợp không thuộc các trường hợp
ở trên Khi đó, bên bán phải đặt hàng hóa do bên mua định đoạt tại nơi bên bán đã
có địa điểm kinh doanh khi hợp đồng được ký kết.63 Cần lưu ý là, theo án lệ đượccông bố tại CLOUT case, án lệ số 340 tại Tòa án Oldenburg nước Đức ngày22/9/199864, các bên có thể thỏa thuận về một địa điểm giao hàng khác vào bất kỳlúc nào, và nếu bên mua yêu cầu hàng hóa được giao cho một doanh nghiệp khác sẽtiếp nhận thay cho bên mua, thì địa điểm kinh doanh của doanh nghiệp khác đóchính là nơi hàng hóa phải được giao khi bên bán đã giao hàng.65 Theo quy định củahợp đồng hay theo cách thức xác định nêu trên, thì bên bán được coi là đã hoànthành nghĩa vụ giao hàng của mình và bên bán không còn chịu trách nhiệm về hànghóa nữa Tuy nhiên cũng có một số trường hợp ngoại lệ mà CISG đã dự đoán trướctại các điều liên quan đến chuyển rủi ro (các điều 66 đến 70).66
Như vậy, Điều 31 CISG quy định về các địa điểm mà bên mua phải có nghĩa
vụ giao hàng hóa đến, lần lượt theo các trường hợp: đầu tiên, là địa điểm theo thỏa
https://documents-65 UNCITRAL, tlđd (56), p.129.
66 Nguyễn Minh Hằng, tlđd (34), p 99-100.
Trang 37thuận trong hợp đồng, có thể xác định theo hợp đồng thông qua các điều khoản nhưIncoterms; nếu không có thỏa thuận như trên hoặc không thể xác định được địa điểmgiao hàng theo hợp đồng, thì là nơi giao cho người vận chuyển đầu tiên nếu trong hợpđồng có quy định về người vận chuyển; nếu các bên không thỏa thuận về việc giaohàng thì địa điểm bên bán phải giao hàng hóa đến là nơi đã tồn tại hàng hóa tại thờiđiểm giao kết hợp đồng (hoặc nơi các bên, vào thời điểm giao kết hợp đồng, viết đượchàng hóa sẽ được đặt tại đó); và cuối cùng, nếu không rơi vào các trường hợp trên thìnơi mà bên bán phải giao hàng đến là tại địa điểm kinh doanh của bên bán.
Nghĩa vụ giao hàng đúng thời hạn Điều 33 của CISG quy định thời gian,
thời điểm hoặc thời hạn mà bên bán phải giao hàng Theo đó, thời gian giao hàngđược điều chỉnh trước hết bởi các quy định của hợp đồng, nhất quán với nguyên tắcchung về quyền tự quyết của các bên được thông qua trong CISG Nếu không cóngày giao hàng hoặc thời hạn giao hàng có thể được suy ra từ hợp đồng, CISG đưa
ra một quy tắc: mặc định yêu cầu giao hàng "trong một thời gian hợp lý sau khi kýkết hợp đồng.67
Có thể thấy, yêu cầu về thời hạn giao hàng, Điều 33 CISG cũng đưa ra batrường hợp, gồm:
Thứ nhất, theo Điều 33 (a) của CISG, nếu hợp đồng có quy định một ngày cụthể, hoặc có xác định ngày cụ thể bằng cách tham chiếu hợp đồng, thì bên bán phải giaohàng chính xác vào thời điểm được ấn định Trong phán quyết ngày 23/6/1998 đối với
vụ việc 19 U127/9768 giữa bên bán mang quốc tịch Áo và bên mua mang quốc tịchĐức, khi các bên không ấn định thời gian cụ thể giao hàng nhưng đã cùng đồng
69 Tham khảo: The Secretariat Commentary to (then) Article 31, trang 31, đoạn 3.
70 Nguyễn Minh Hằng, tlđd (34), tr 94.
Trang 38Thứ hai, nếu hợp đồng không quy định ngày cụ thể, nhưng có thỏa thuận mộtkhoảng thời gian cụ thể, hoặc có thể xác định khoảng thời gian đó bằng cách thamchiếu hợp đồng, theo Điều 33 (b), bên bán có thể giao hàng vào bất cứ thời điểmnào trong khoảng thời gian đó, trừ trường hợp hoàn cảnh chỉ ra rằng bên mua cóquyền chọn ngày giao hàng.71
Thứ ba, trong những trường hợp khác ngoài trường hợp được quy định tạiĐiều 33 (a) và Điều 33 (b), theo Điều 33 (c) của CISG, nếu cả hợp đồng lẫn thóiquen, tập quán giữa các bên đều không quy định khoảng thời gian giao hàng cụ thể,thì bên bán phải giao hàng trong khoảng thời gian hợp lý sau thời điểm giao kết hợpđồng “Hợp lý” ở đây nghĩa là khoảng thời gian thích hợp trong những hoàn cảnh cụthể, ví dụ như thời gian cần thiết để thu xếp việc vận chuyển, bên bán có phải muasắm nguyên vật liệu hoặc sản xuất ra hàng hóa hay không.72
Các nghĩa vụ khác về giao hàng Khi hợp đồng quy định việc vận chuyển
hàng hóa (các bên thỏa thuận rằng việc vận chuyển hàng hóa được thực hiện thôngqua bên thứ ba), Điều 32 quy định thêm các nghĩa vụ của bên bán bên cạnh nhữngnghĩa vụ quy định tại Điều 31.73 Các nghĩa vụ bổ sung của bên mua đối với việcgiao hàng tương ứng với ba trường hợp Nếu hàng hoá không được xác định rõ ràng(bằng dấu hiệu trên hàng hoá, chứng từ vận chuyển, hoặc các phương tiện khác) loạihàng hoá trong hợp đồng khi giao cho bên vận chuyển, thì bên bán phải chỉ rõ hànghóa bằng một thông báo cho bên mua về hàng hóa (khoản 1) Khi bên bán có nghĩa
vụ thu xếp việc vận chuyển hàng hóa, thì bên bán phải thu xếp hợp lý (khoản 2).Trường hợp bên bán không bị ràng buộc phải mua bảo hiểm cho việc vận chuyểnhàng hóa, tuy nhiên, nếu bên mua có yêu cầu, bên bán phải cung cấp cho bên mua
“tất cả thông tin sẵn có” cần thiết để bên mua mua bảo hiểm (khoản 3).74
Có thể thấy, CISG còn quy định thêm các nghĩa vụ cho bên bán về việc thôngbáo cho bên mua về việc mình đã gửi hàng kèm chỉ dẫn hàng hóa, nghĩa vụ ký kết
71 Nguyễn Minh Hằng, tlđd (34), tr 95
72 Nguyễn Minh Hằng, tlđd (34), tr 95
73 UNCITRAL, tlđd (56), p.132.
74 UNCITRAL, tlđd (56), p 132.
Trang 39các hợp đồng cần thiết bằng các phương tiện thích hợp, nghĩa vụ bảo hiểm hàng hóanếu bên mua có yêu cầu (bên mua không yêu cầu, không có nghĩa vụ bảo hiểm hànghóa)75, đồng thời nghĩa vụ cung cấp các thông tin cần thiết để mua bảo hiểm chohàng hóa.
2.1.1.2 Nghĩa vụ giao hàng phù hợp với hợp đồng
Nghĩa vụ cơ bản trong việc giao hàng của bên bán không chỉ bao gồm giaohàng đúng thời gian và địa điểm mà còn phải giao hàng đúng đối tượng và chấtlượng theo thỏa thuận trong hợp đồng Việc giao hàng phù hợp vớp hợp đồng đượcquy định Điều 35 của CISG như sau:
Căn cứ để xác định hàng hóa phù hợp với hợp đồng sẽ được dựa trên sự thỏathuận theo hợp đồng của các bên Theo đó, Điều 35 (1) CISG quy định hợp đồng lànguồn quan trọng nhất để xác định sự phù hợp của hàng hóa được giao Do đó, khitranh chấp phát sinh, thỏa thuận giữa các bên sẽ trở thành căn cứ để xác định sự phùhợp của hàng hóa.76 Các tiêu chí mà Điều 35 (1) đánh giá hàng hóa phù hợp với hợpđồng là: số lượng, chất lượng, bao bì hay đóng gói và những mô tả trong hợp đồng
Tuy nhiên, không phải mọi trường hợp bên bán phải giao hàng đúng chính xáctheo số lượng mới được xem là giao hàng hóa có số lượng phù hợp với hợp đồng Khihợp đồng có nêu ra một con số dự tính chính xác, thì số lượng hàng hóa được giao mớiđòi hỏi việc chính xác với con số trong hợp đồng Nếu hợp đồng ghi nhận khoảng trungbình về số lượng hàng hóa, thông qua thực tiễn xét xử tại án lệ Alastair Mullis (2007),Tòa án nhận định, việc giao một lượng hàng thích hợp trong khoảng giao động thìkhông bị xem là vi phạm: “( ) từ thực tiễn áp dụng CISG cho thấy, nếu hợp đồng ghinhận số lượng hàng hóa trong một khoảng trung bình: “nhiều hơn hoặc ít hơn trongkhoảng ”, “khoảng ”, “giao hàng không ít hơn ( hay nhiều hơn )
75 Nguyễn Minh Hằng, tlđd (34), tr 105-106.
76 Nguyễn Thị Lan Hương, Ngô Nguyễn Thảo Vy (2017), “Quyền buộc thực hiện hợp đồng theo quy định
của Công Ước Liên Hợp Quốc Về Hợp đồng MBHHQT - một số đề xuất cho Việt Nam”, Tạp chí Khoa học pháp
lý, số 07/2017, tr 50.
Trang 40” thì việc thực hiện nghĩa vụ giao một lượng hàng hóa dao động (nhiều hơn hay íthơn ) thích hợp không bị xem là vi phạm hợp đồng”77.
Chất lượng hàng hóa, thường được xác định bằng việc tỷ lệ một chất nào đótrong hàng hóa, đảm bảo đúng loại hàng đã thỏa thuận, hàng không bị hư hỏng vàđảm bảo mục đích sử dụng, ví dụ là tỷ lệ chất Cadmium có trong hàng hóa là contrai phải phù hợp với ngưỡng cho phép về an toàn thực phầm78 Ngoài ra, hàng hóađảm bảo chất lượng còn phải đúng loại đã giao trong hợp đồng, không bị hư hỏng
và đảm bảo mục đích sử dụng79
Về các mô tả khác của hàng hóa như bao bì, đóng gói, các mô tả khác (chứng
từ đi kèm, địa điểm và thời gian nhận hàng )80, bên bán khi giao hàng hóa phảiđảm bảo thực hiện đúng các yêu cầu này
Đối với trường hợp khi các bên không có thỏa thuận cụ thể trong hợp đồng,Điều 35 (2) CISG đưa ra bốn nhóm căn cứ lần lượt tại các điểm (a), (b), (c), (d) để xácđịnh sự phù hợp của hàng hóa Điều 35 (2) (a) yêu cầu hàng hóa phải thích hợp chonhững mục đích sử dụng mà các hàng hóa cùng loại vẫn thường đáp ứng, mục đíchđược xem xét ở đây dành cho hành vi sử dụng và tương quan với hàng hóa cùng loạithông thường bao gồm chất lượng và mô tả khác trong hợp đồng81, và điều này không
có nghĩa là buộc hàng hóa phải hoàn hảo, ngoại trừ trường hợp bắt buộc phải hoàn hảo
để có thể được sử dụng cho những mục đích mà hàng hóa đó vẫn thường được sửdụng.82 Trường hợp tại Điều 35 (2) (b), nếu bên bán nêu rõ với bên mua về những mụcđích mà hàng hóa sẽ được sử dụng tại thời điểm hợp đồng được ký, thì bên bán sẽ phảigiao hàng phù hợp để sử dụng cho những mục đích đó.83 Điều 35 (2)
(c) xác định tính phù hợp của hàng hóa theo các tính chất của hàng mẫu hoặc kiểu
77 Ngô Thị Phúc Tâm (2017), Chế tài bồi thường thiệt hại trong trường hợp (bên bán) giao hàng hoá không phù hợp với hợp đồng theo Công ước Viên 1980 về hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế( CISG),
Khoá luận tốt nghiệp, Trường Đại Học Luật Tp Hồ Chí Minh, tr.6-7.
78 Lê Thị Thanh (2017), Chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng theo Công ước Viên về Hợp đồng MBHHQT (CISG), Khoá luận tốt nghiệp, Trường Đại Học Luật Tp Hồ Chí Minh, tr 21.