TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN CHƯƠNG TRÌNH THẠC SĨ ĐIỀU HÀNH CAO CẤP EXECUTIVE MBA TRẦN PHẠM HÙNG NÂNG CAO NĂNG LỰC QUẢN LÝ CỦA CÁN BỘ CHỦ CHỐT CẤP XÃ TRÊN ĐỊA BÀN TH[.]
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
CHƯƠNG TRÌNH THẠC SĨ ĐIỀU HÀNH CAO CẤP - EXECUTIVE MBA
Trang 2Hà Nội, 2016
Trang 3TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
CHƯƠNG TRÌNH THẠC SĨ ĐIỀU HÀNH CAO CẤP - EXECUTIVE MBA
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH DOANH VÀ QUẢN LÝ
Người hướng dẫn khoa học:
Trang 4Hà Nội, 2016
LỜI CẢM ƠN
Tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành, sâu sắc tới các giảng viên, các nhàkhoa học đã trang bị cho tác giả những kiến thức quý báu trong quá trình đào tạo tạiNhà trường
Lời cảm ơn đặc biệt, tác giả xin được trân trọng gửi tới PGS.TS Bùi Huy Nhượng,người đã trực tiếp hướng dẫn, chỉ bảo tận tình và đóng góp nhiều ý kiến quý báu, tạođiều kiện thuận lợi cho tác giả hoàn thành Luận văn thạc sỹ
Xin chân thành cảm ơn gia đình, bạn bè, đồng nghiệp đã động viên, giúp đỡ tácgiả hoàn thành luận văn này
TÁC GIẢ
Phạm Trần Hùng
Trang 5LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học độc lập của riêng tôi.Các số liệu, kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực và có nguồn gốc cụ thể, rõràng Luận văn kế thừa các công trình nghiên cứu của những người đi trước, có sự bổsung những tư liệu mới và chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác
TÁC GIẢ
Trần Phạm Hùng
Trang 6MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN
LỜI CAM ĐOAN
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
DANH MỤC BẢNG, BIỂU ĐỒ, HÌNH
TÓM TẮT LUẬN VĂN
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN NÂNG CAO NĂNG LỰC QUẢN LÝ CỦA CÁN BỘ CHỦ CHỐT CẤP XÃ 5
1.1 Một số vấn đề lý luận về cán bộ chủ chốt cấp xã 5
1.1.1 Cấp xã và vai trò của cán bộ chủ chốt cấp xã 5
1.1.2 Cán bộ chủ chốt cấp xã 6
1.2 Năng lực quản lý của cán bộ chủ chốt cấp xã 9
1.2.1 Khái niệm năng lực quản lý của cán bộ chủ chốt cấp xã 9
1.2.2 Tiêu chí đánh giá năng lực quản lý của cán bộ chủ chốt cấp xã 11
1.2.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến năng lực quản lý của cán bộ chủ chốt cấp xã 14 1.3 Sự cần thiết phải nâng cao năng lực của cán bộ chủ chốt cấp xã 17
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG ĐỘI NGŨ CÁN BỘ CHỦ CHỐT CẤP XÃ THỊ XÃ SƠN TÂY, THÀNH PHỐ HÀ NỘI 21
2.1 Thực trạng đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp xã 21
2.1.1 Khái quát về điều kiện tự nhiên, tình hình kinh tế - xã hội của thị xã Sơn Tây 21
2.1.2 Thực trạng về đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp xã hiện nay của thị xã Sơn Tây (Số liệu tính đến tháng 6/2015) 24
2.2 Thực trạng về năng lực quản lý của cán bộ chủ chốt cấp xã trên địa bàn thị xã Sơn Tây hiện nay 30
2.2.1 Về trình độ đào tạo 32
2.2.2 Về kỹ năng nghiệp vụ 34
2.2.3 Về kiến thức hiểu biết xã hội 35
Trang 72.2.4 Về thái độ, ý thức, hành vi 36
2.2.5 Về hiệu quả giải quyết công việc và đánh giá kết quả đạt được 36
2.2.6 Về khả năng thu hút cấp dưới 36
2.3 Đánh giá năng lực quản lý của CBCC cấp xã 37
2.3.1 Về ưu điểm 37
2.3.2 Hạn chế 38
2.3.3 Nguyên nhân 41
CHƯƠNG 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP VÀ KIẾN NGHỊ NÂNG CAO NĂNG LỰC QUẢN LÝ CỦA CÁN BỘ CHỦ CHỐT CẤP XÃ TRÊN ĐỊA BÀN THỊ XÃ SƠN TÂY, THÀNH PHỐ HÀ NỘI 42
3.1 Phương hướng nâng cao năng lực quản lý của CBCC cấp xã 42
3.1.1 Nâng cao năng lực quản lý nhà nước của CBCC cấp xã phải gắn với đổi mới tổ chức và hoạt động của cấp xã 42
3.1.2 Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với CBCC cấp xã 43
3.2 Các giải pháp nâng cao năng lực quản lý của CBCC cấp xã trên địa bàn thị xã Sơn Tây 44
3.2.1 Về chuẩn hoá đội ngũ CBCC cấp xã 44
3.2.2 Về công tác quy hoạch cán bộ 46
3.2.3 Về công tác đào tạo, bồi dưỡng CBCC cấp xã 47
3.2.4 Về bố trí, sử dụng, luân chuyển cán bộ 50
3.2.5 Về kiểm tra, giám sát, quản lý cán bộ 52
3.3 Kiến nghị 55
3.3.1 Kiến nghị đối với Nhà nước, bộ ngành Trung ương 55
3.3.2 Kiến nghị với thành phố Hà Nội và thị xã Sơn Tây 56
KẾT LUẬN 57
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 58
Trang 8- Công nghiệp hóa – Hiện đại hóa
- Hội đồng nhân dân
Trang 9DANH MỤC BẢNG, BIỂU ĐỒ, HÌNH
Bảng 1.1 Khung tiêu chí đánh giá năng lực quản lý của CBCC 12
Bảng 2.1 Tổng hợp kết quả điều tra 31
Biểu đồ 2.1: Cơ cấu độ tuổi của CBCC cấp xã thị xã Sơn Tây 24
Biểu đồ 2.2: Cơ cấu giới tính CBCC công tác Đảng 25
Biểu đồ 2.3: Trình độ chuyên môn của CBCC công tác Đảng 26
Biểu đồ 2.4: Thực trạng hình thức đào tạo của CBCC công tác Đảng 26
Biểu đồ 2.5: Trình độ lý luận chính trị của CBCC công tác Đảng 27
Biểu đồ 2.6: Cơ cấu giới tính CBCC công tác chính quyền 28
Biểu đồ 2.7: Trình độ chuyên môn của CBCC công tác chính quyền 28
Biểu đồ 2.8: Thực trạng hình thức đào tạo của CBCC công tác chính quyền 29
Biểu đồ 2.9: Trình độ lý luận chính trị của CBCC công tác chính quyền 30
Trang 10TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
CHƯƠNG TRÌNH THẠC SĨ ĐIỀU HÀNH CAO CẤP - EXECUTIVE MBA
Trang 11CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN NÂNG CAO NĂNG LỰC QUẢN LÝ
CỦA CÁN BỘ CHỦ CHỐT CẤP XÃ 1.1 Một số vấn đề lý luận về cán bộ chủ chốt cấp xã
1.1.1 Cấp xã và vai trò của cán bộ chủ chốt cấp xã
Đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp xã có vai trò quan trọng trong việc tổ chức vàđộng viên nhân dân thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luậtcủa Nhà nước, tăng cường sự đoàn kết trong nhân dân, phát huy quyền làm chủ củanhân dân, huy động mọi tiềm năng để phát triển kinh tế - xã hội, tổ chức cuộc sống củacộng đồng dân cư Họ là những người trực tiếp tiếp xúc với nhân dân, là cầu nối giữaĐảng với nhân dân; lãnh đạo, chỉ đạo việc tổ chức thực hiện, đưa chủ trương, đườnglối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước vào cuộc sống Đồng thời nắm bắttâm tư, nguyện vọng của nhân dân để phản ánh với Đảng, Nhà nước
Ở đây, trong nội dung phạm vi nghiên cứu của luận văn tập trung chủ yếu đốivới 06 chức danh chủ chốt ở cấp xã gồm: Bí thư, Phó bí thư, Chủ tịch HĐND, Chủtịch UBND, Phó Chủ tịch HĐND và UBND
1.2 Năng lực quản lý của cán bộ chủ chốt cấp xã
1.2.1 Khái niệm năng lực quản lý của cán bộ chủ chốt cấp xã
Năng lực quản lý của CBCC cấp xã là khả năng sắp xếp, tổ chức, chỉ huy, điềuhành, hướng dẫn, kiểm tra… các quá trình xã hội và hoạt động của con người đểhướng chúng phát triển phù hợp với quy luật của xã hội, đạt được mục tiêu đã xác địnhthông qua các nghị quyết, chủ trương, đường lối, chính sách cụ thể
Trang 121.2.2 Tiêu chí đánh giá năng lực quản lý của cán bộ chủ chốt cấp xã
- Trình độ đào tạo: Trình độ lý luận chính trị; Trình độ văn hóa; Trình độchuyên môn nghiệp vụ; Trình độ quản lý Nhà nước; Trình độ ngoại ngữ và tin học
- Kỹ năng nghiệp vụ
- Kiến thức hiểu biết xã hội
- Thái độ, ý thức, hành vi
- Hiệu quả giải quyết công việc và đánh giá kết quả đạt được
- Khả năng thu hút cấp dưới
1.2.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến năng lực quản lý của cán bộ chủ chốt cấp xã
Một là: Vấn đề đào tạo, bồi dưỡng CBCC cấp xã
Hai là: Cơ chế tuyển dụng, bổ nhiệm đội ngũ CBCC cấp xã
Ba là: Chế độ, chính sách và vị thế của người CBCC cấp xã
Bốn là: Công tác quản lý, kiểm tra, giám sát đội ngũ CBCC cấp xã
1.3 Sự cần thiết phải nâng cao năng lực của cán bộ chủ chốt cấp xã
Để thực hiện thắng lợi mục tiêu sự nghiệp CNH, HĐH đất nước; xây dựngthành công Nhà nước pháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân;phát huy tốt tính tự quản ở cộng đồng dân cư Yêu cầu đặt ra đối với CBCC là phải:Trung thành với mục tiêu, lý tưởng mà Đảng và Bác Hồ đã lựa chọn, tin tưởng vào sựnghiệp đổi mới, am hiểu pháp luật, gần gũi với cơ sở, tâm huyết với cơ sở, có nănglực tổ chức và vận động nhân dân thực hiện đường lối của Đảng, pháp luật của Nhànước, công tâm, thạo việc, tận tuỵ với dân Để đáp ứng yêu cầu đó, vấn đề cấp thiếtđặt ra là phải nâng cao năng lực quản lý nhà nước của CBCC cấp xã
ii
Trang 13CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG NĂNG LỰC QUẢN LÝ CỦA ĐỘI NGŨ CÁN BỘ CHỦ CHỐT CẤP XÃ TẠI THỊ XÃ SƠN TÂY, THÀNH PHỐ HÀ NỘI 2.1 Thực trạng đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp xã
2.1.1 Khái quát về điều kiện tự nhiên, tình hình kinh tế - xã hội của thị xã Sơn Tây
Thị xã Sơn Tây từng là trung tâm hành chính, chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hộicủa tỉnh Sơn Tây trước đây Trong quá trình hình thành và phát triển, Sơn Tây đã trảiqua nhiều lần thay đổi địa giới và tổ chức hành chính, nhiều lần chia tách và sáp nhập,thị xã tiếp tục khẳng định vai trò là một trong những trung tâm kinh tế, văn hóa khuvực phía tây bắc của tỉnh Hà Tây cũ nay là thành phố Hà Nội
1.2 Thực trạng đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ sở hiện nay của thị xã Sơn Tây (Số liệu tính đến tháng 6/2015)
Đội ngũ cán bộ chủ chốt các cơ sở thời gian qua được sắp xếp kiện toàn về sốlượng theo quy định và chất lượng được nâng lên, nhất là về trình độ văn hoá, chuyênmôn, lý luận chính trị; phần lớn CBCC cấp xã được rèn luyện, thử thách, trưởng thành
từ các hoạt động phong trào thực tiễn ở cơ sở; cơ bản chấp hành nghiêm túc chủtrương, chính sách, chỉ thị, nghị quyết của Đảng và Nhà nước; nội quy, quy chế của cơquan, đơn vị công tác và ở nơi cư trú Có phẩm chất đạo đức, lối sống đúng đắn, gắn
bó với nhân dân Trong công tác có tinh thần trách nhiệm, khắc phục khó khăn, hoànthành nhiệm vụ được giao
Tuy nhiên, hiện nay ở thị xã Sơn Tây vẫn thiếu cán bộ trẻ tham gia công tácĐảng và công tác chính quyền, những người có năng lực, dám nghĩ, dám làm và dámchịu trách nhiệm trước nhân dân về các nhiệm vụ trong hoạt động quản lý nhà nước ởđịa phương còn hạn chế Tính chủ động, sáng tạo trong công tác quản lý nhiều khi còn
bó hẹp bởi quy định, các rào cản khác ở địa phương và chỉ thuần túy quản lý xã hộitrên cơ sở thực hiện nhiệm vụ cấp trên giao Dẫn đến hiệu quả công tác quản lý nhànước ở cơ sở không cao, chưa thực sự có sự vận dụng sáng tạo trong công tác quản lý
để nhằm từng bước ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội và nâng cao đời sống củangười dân
Từ đó cho thấy cần phải quan tâm, tạo nguồn, bố trí và mạnh dạn sử dụng cán
bộ trẻ cho công tác Đảng và công tác chính quyền tại cơ sở Nâng cao tính chủ động,
Trang 14phát huy tính sáng tạo của đội ngũ CBCC ở cấp xã là vấn đề vô cùng cần thiết tronggiai đoạn hiện nay.
2.1.2.1.Đội ngũ cán bộ chủ chốt chuyên trách công tác Đảng (Bí thư và phó bí thư thường trực đảng uỷ )
Tổng số: 30 đồng chí Trong đó: nữ là 08 đồng chí (chiếm 26,6%), độ tuổi trungbình: 45 tuổi
Tỷ lệ CBCC là nữ tham gia công tác Đảng chưa được 30%
- Về trình độ:
Văn hoá: 30 đồng chí đã tốt nghiệp THPT ( đạt 100 % )
Chuyên môn: đã qua đào tạo chuyên môn 30 đồng chí, trong đó, trung cấp 02đồng chí (chiếm 6,7%), cao đẳng 01 đồng chí (chiếm 3,3 %), đại học 24 đồng chí(chiếm 80%), thạc sĩ 03 đồng chí ( chiếm 10 % ) và chủ yếu là đội ngũ cán bộ luânchuyển từ thị xã về cơ sở
Số lượng CBCC công tác Đảng được đào tạo chính quy tập trung là 13%, cònlại là các hình thức đào tạo khác như: đại học tại chức, vừa học vừa làm; liên thông…
Trình độ lý luận chính trị: đã qua đào tạo 30 đồng chí, trong đó, sơ cấp 01 đồngchí (chiếm 3,3%), trung cấp 20 đồng chí (chiếm 66.7 %), cao cấp 09 đồng chí ( chiếm
30 % )
Trình độ ngoại ngữ, tin học cơ bản đáp ứng được yêu cầu công việc.
2.1.2.2 Đội ngũ cán bộ chủ chốt công tác chính quyền.
Bao gồm các chức danh: Chủ tịch, phó chủ tịch HĐND, chủ tịch, phó chủ tịchUBND (100% các đồng chí chủ tịch HĐND tại các xã, phường đều là bí thư hoặc phó
bí thư thường trực đảng uỷ kiêm nhiệm theo chủ trương của Đảng)
Tổng số: 60 đồng chí, là nữ 10 đồng chí (16,6 %), độ tuổi trung bình: 43 tuổi
Số lượng CBCC là nữ tham gia công tác chính quyền còn thấp
- Về trình độ: + Văn hoá: 60 đồng chí đã tốt nghiệp THPT ( đạt 100 % )
+ Chuyên môn: trong 60 cán bộ, đã qua đào tạo chuyên môn 57 đồng chí, trongđó: trung cấp 03 đồng chí (chiếm 5 %), cao đẳng 02 đồng chí (chiếm 3.3 %), đại học
52 đồng chí (chiếm 81,7 %), thạc sĩ 03 đồng chí (chiếm 5 %), 03 đồng chí chưa quađào tạo (chiếm 5 %)
+ Số lượng CBCC công tác chính quyền được đào tạo chính quy tập trung là8%, còn lại là các hình thức đào tạo khác chiếm 92%
iv
Trang 15+ Trình độ lý luận chính trị: đã qua đào tạo 60 đồng chí, trong đó, sơ cấp 01đồng chí (chiếm 1.7 %), trung cấp 51 đồng chí (chiếm 85 %), cao cấp 08 (chiếm13.3% ).
Bồi dưỡng kiến thức quản lý nhà nước: 48 đồng chí ( chiếm 80 % )
12 đồng chí đang theo học các lớp đào tạo đại học, cao học và lý luận chính trị
2.2 Một số nhận xét về năng lực cán bộ quản lý cấp xã
Qua khảo sát cho thấy về số lượng CBCC cấp xã trên địa bàn thị xã Sơn Tâytrong tình trạng vừa thừa vừa thiếu; tuy nhiên cơ cấu cán bộ thì tương đối hợp lý.CBCC cấp xã trên địa bàn thị xã có kỹ năng lãnh đạo khá vững vàng, có chất lượngđào tạo khá; khả năng xây dựng kế hoạch khá Hầu hết đội ngũ CBCC ở đây có phẩmchất đạo đức, lối sống khá; có năng lực thực tiễn và khả năng tổ chức thực hiện cácnhiệm vụ ở mức tương đối khá Về trách nhiệm cá nhân của đội ngũ này được đánhgiá ở mức bình thường, chỉ có số ít là mức tốt
2.3 Đánh giá năng lực quản lý của CBCC cấp xã
2.3.1 Về ưu điểm
Các đồng chí bí thư, phó bí thư thường trực đảng uỷ các xã phường cơ bản đãphát huy tốt vai trò, vị trí và năng lực quản lý Tập trung đổi mới phương thức lãnhđạo và quản lý của cấp ủy đảng đối với chính quyền, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thểnhân dân ở cơ sở Hàng năm xây dựng quy hoạch các chức danh cán bộ, bổ sung quyhoạch, kiện toàn các vị trí luân chuyển, nhằm phát huy năng lực của cán bộ, bảo đảmthực hiện nhiệm vụ của địa phương
Cán bộ chủ chốt chính quyền các cơ sở nhìn chung nắm vững chủ trương củaĐảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước Chỉ đạo HĐND, UBND xã, phường hoạt độngđảm bảo chức năng, nhiệm vụ, công tác được giao Chỉ đạo nâng cao chất lượng, tăngcường trách nhiệm của cán bộ, công chức; tích cực thực hiện cải cách thủ tục hành chính;nâng cao chất lượng hoạt động của bộ phận thực hiện cơ chế “một cửa” phục vụ nhân dân.Hiệu lực quản lý nhà nước được nâng cao, đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ trong tìnhhình mới Công tác quản lý, chỉ đạo điều hành chặt chẽ, sâu sát và cụ thể hơn; kỷ luật, kỷcương hành chính được tăng cường Nhìn chung, ý thức, trách nhiệm và năng lực của độingũ cán bộ chủ chốt công tác chính quyền được nâng lên rõ rệt
Trang 162.3.2.Về nhược điểm
Những ưu điểm là cơ bản, nhưng bên cạnh đó CBCC chính quyền cấp xã ở thị
xã Sơn Tây vẫn còn tồn tại một số hạn chế bất cập sau đây:
Một số CBCC chính quyền cấp xã có biểu hiện dao động, cơ hội, hách dịch,sách nhiễu nhân dân, tham ô, tham nhũng, có những lúc, những nơi còn có biểu hiệnmất đoàn kết nội bộ, bè phái, cục bộ dẫn đến mất lòng tin ở nhân dân, làm giảm hiệuquả quản lý ở cơ sở
CHƯƠNG 3 MỘT SỐ GIẢI PHÁP VÀ KIẾN NGHỊ NÂNG CAO NĂNG LỰC QUẢN LÝ CỦA CÁN BỘ CHỦ CHỐT CẤP XÃ TRÊN ĐỊA BÀN THỊ XÃ SƠN TÂY.
THÀNH PHỐ HÀ NỘI
3.1 Phương hướng nâng cao năng lực quản lý của CBCC cấp xã
3.1.1 Nâng cao năng lực quản lý nhà nước của CBCC cấp xã phải gắn với đổi mới
tổ chức và hoạt động của cấp xã
Năng lực quản lý của CBCC cấp xã và tổ chức hoạt động ở cấp xã có mối quan
hệ mật thiết tác động qua lại lẫn nhau Trong đó, CBCC là nhân tố quyết định đến hiệuquả hoạt động chính quyền cấp xã; chính quyền cấp xã được tổ chức hoạt động tốt làđiều kiện quan trọng để CBCC nâng cao năng lực quản lý của mình, nghĩa là chínhquyền cấp xã tổ chức và hoạt động yếu kém, trì trệ sẽ là điều kiện cản trở việc nângcao năng lực quản lý của CBCC Do đó, muốn nâng cao năng lực quản lý nhà nướcCBCC cấp xã thì cần phải đổi mới tổ chức và hoạt động của cấp xã
3.1.2 Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với CBCC cấp xã
Đảng ta là Đảng duy nhất cầm quyền, Đảng lãnh đạo Nhà nước và xã hội mộtcách toàn diện và trực tiếp Cán bộ có vai trò rất quan trọng, nó là nhân tố quyết định
sự thành công hay thất bại của chế độ CNXH Để đảm bảo xây dựng thành côngCNXH, Đảng ta phải lãnh đạo công tác cán bộ Trong thời gian qua Đảng đã đề ranhiều chính sách, nghị quyết về công tác cán bộ Trong giai đoạn hiện nay cần phảităng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác cán bộ
3.2 Các giải pháp nâng cao năng lực quản lý của CBCC cấp xã trên địa bàn thị
xã Sơn Tây
3.2.1 Về chuẩn hoá đội ngũ CBCC cấp xã
Chuẩn hóa đội ngũ CBCC cấp xã là một yêu cầu cấp thiết trong giai đoạn hiệnnay Chuẩn hóa gắn liền với chất lượng, số lượng và cơ cấu đội ngũ cán bộ Đòi hỏi
vi
Trang 17của thực tiễn không chấp nhận một đội ngũ đủ về số lượng nhưng lệch lạc về cơ cấu,gây khó khăn cho quá trình lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức thực hiện chủ trương, chínhsách của Đảng, Nhà nước và địa phương.
3.2.2 Về công tác quy hoạch cán bộ
Quy hoạch cán bộ chính là để tạo sự chủ động, có tầm nhìn chiến lược trongcông tác cán bộ; khắc phục tình trạng hẫng hụt trong đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý,bảo đảm tính kế thừa, phát triển và sự chuyển tiếp liên tục, vững vàng giữa các thế hệcán bộ, giữ vững đoàn kết nội bộ và sự ổn định chính trị
3.2.3 Về công tác đào tạo, bồi dưỡng CBCC cấp xã
Đào tạo, bồi dưỡng CBCC là nhằm nâng cao trình độ chuyên môn, năng lựccông tác, chất lượng và hiệu quả làm việc của đội ngũ CBCC; hướng tới mục tiêu làtạo được sự thay đổi về chất trong thực thi nhiệm vụ chuyên môn
3.2.4 Về bố trí, sử dụng, luân chuyển cán bộ
* Về bố trí, sử dụng cán bộ:
Dưới sự lãnh đạo của Đảng, công tác cán bộ qua các thời kỳ cách mạng đã gópphần xây dựng và kiện toàn hệ thống tổ chức của Đảng trong các cấp, các ngành; nângcao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng; triển khai hiệu quả đường lối, chínhsách của Đảng vào thực tiễn
* Về luân chuyển cán bộ:
Luân chuyển cán bộ là nhằm bồi dưỡng kiến thức thực tiễn, rèn luyện kỹ năngquản lý nhà nước cho cán bộ và tăng cường cán bộ cho cơ sở, nâng cao năng lực quản
lý nhà nước cho cơ sở
3.2.5 Về kiểm tra, giám sát, quản lý cán bộ
Kiểm tra, giám sát và quản lý cán bộ là hoạt động nhằm nắm chắc thông tin,diễn biến tư tưởng, hoạt động của cán bộ, giúp cho cấp uỷ và thủ trưởng phát hiện vấn
đề nảy sinh, kịp thời uốn nắn, điều chỉnh, làm cho đội ngũ CBCC luôn luôn hoạt độngđúng định hướng, đúng nguyên tắc
3.3 Kiến nghị
3.3.1 Kiến nghị đối với Nhà nước, bộ ngành Trung ương :
3.3.2 Kiến nghị với thành phố Hà Nội và thị xã Sơn Tây
Con người luôn đóng vai trò trung tâm của mọi hoạt động kinh tế xã hội Nângcao năng lực quản lý của CBCC cấp xã là một trong những vấn đề hết sức quan trọng
Trang 18trong việc thực hiện có hiệu quả và đưa các Chỉ thị, Nghị quyết của Đảng 00vào cuộcsống Bằng các phương pháp khoa học, Luận văn đã hoàn thành các nhiệm vụ sau đây:
1 Trình bày một cách có hệ thống lý luận về quản lý, năng lực quản lý củaCBCC cấp xã
2 Khái quát về tình hình kinh tế xã hội thị xã Sơn Tây
3 Đánh giá thực trạng năng lực quản lý của CBCC cấp xã trên địa bàn thị xãSơn Tây, những tồn tại, hạn chế và nguyên nhân của tồn tại, hạn chế đó
4 Đề xuất một số giải pháp chính nhằm nâng cao hiệu quả năng lực quản lý củaCBCC cấp xã trên địa bàn thị xã Sơn Tây góp phần từng bước xây dựng lực lượng nàyngày càng trong sạch, vững mạnh, chuyên nghiệp, năng động, thân thiện, văn minh tớiđáp ứng yêu cầu CNH, HĐH, hội nhập kinh tế quốc tế
viii
Trang 19TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
CHƯƠNG TRÌNH THẠC SĨ ĐIỀU HÀNH CAO CẤP - EXECUTIVE MBA
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH DOANH VÀ QUẢN LÝ
Người hướng dẫn khoa học:
Trang 20Hà Nội, 2016
Trang 21MỞ ĐẦU
1 Sự cần thiết của đề tài
Thị xã Sơn Tây được hợp nhất với thành phố Hà Nội ngày 01/8/2008 theo Nghịquyết số 15/2008/QH12, của Quốc hội khóa XII về việc điều chỉnh địa giới hành chínhthành phố Hà Nội và một số tỉnh liên quan Sau hợp nhất, tình hình ANTT ổn định,TTATXH được giữ vững Từ đó tạo động lực không nhỏ cho sự phát triển kinh tế - xãhội của thị xã, các chỉ tiêu chủ yếu hàng năm đều đạt và vượt kế hoạch Đời sống nhândân ổn định từng bước được nâng lên, kết quả đó có sự đóng góp rất lớn của đội ngũcán bộ, công chức Đặc biệt là đội ngũ cán bộ lãnh đạo chủ chốt từ thị xã đến cơ sở,trong đó có sự đóng góp của đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp xã
Tuy nhiên, đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp xã trên địa bàn thị xã Sơn Tây còn cónhiều bất cập Trình độ, năng lực, tinh thần, trách nhiệm của một bộ phận cán bộ chưađáp ứng yêu cầu theo tình hình mới hiện nay Vai trò lãnh đạo chưa được thể hiện rõnét, chưa năng động, nhạy bén, chưa nắm bắt được nhịp độ phát triển của xã hội, vôhình chung lại là những rào cản cho quá trình phát triển kinh tế - xã hội ở địa phương.Công tác quản lý nhà nước ở cơ sở vẫn mang tính quản lý hành chính đơn thuần, nặng
về quy trình khi giải quyết các thủ tục hành chính cho tổ chức, cá nhân đôi khi tạo ra
sự bức xúc không đáng có trong nhân dân
Nằm ở phía Tây Bắc của Thủ đô Hà Nội, vị trí địa lí tương đối thuận lợi SơnTây có tiềm năng lớn về phát triển du lịch - thương mại, được đánh giá có nhiều lợi thế
để phát triển nền kinh tế đa dạng Thành phố Hà Nội có Quyết định phê duyệt quyhoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội thị xã Sơn Tây đến năm 2020 định hướng đếnnăm 2030 Theo đó, quy hoạch “xây dựng thị xã Sơn Tây thành đô thị văn hóa lịch sử,
du lịch nghỉ dưỡng, đô thị xanh, đô thị vệ tinh cửa ngõ Tây Bắc thành phố Hà Nội Làtrung tâm kinh tế, văn hóa - nghệ thuật - vui chơi giải trí, dịch vụ cao cấp khu vực phíaTây Bắc của Thủ đô gắn với phát triển các khu du lịch; có vị trí quan trọng về an ninhquốc phòng; là đầu mối giao thông quan trọng của Thủ đô trên tuyến đường Hồ ChíMinh, Quốc lộ 32, đường vành đai 5, là hạt nhân thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hộikhu vực Tây Bắc Thủ đô… Coi trọng phát triển con người, nâng cao dân trí và chấtlượng nguồn nhân lực”
Trang 22Vì vậy, yêu cầu đặt ra đối với phát triển nguồn nhân lực trong đó có xây dựng vàphát triển đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp xã là nhiệm vụ hết sức bức thiết để phục vụphát triển kinh tế nhanh, bền vững, đồng thời thực hiện các mục tiêu xã hội Do đó, tác
giả chọn đề tài “Nâng cao năng lực quản lý của cán bộ chủ chốt cấp xã trên địa bàn thị xã Sơn Tây, thành phố Hà Nội” làm luận văn thạc sỹ kinh doanh và quản lý
để đi vào nghiên cứu, tìm ra giải pháp phát triển, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộchủ chốt cấp xã trên địa bàn thị xã Sơn Tây, nhất là cho công tác tổ chức cán bộ củaĐảng bộ thị xã nhiệm kỳ 2015 – 2020 và những năm tiếp theo
2 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
2.1 Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu nghiên cứu của Luận văn là phân tích lý luận và thực trạng năng lựcquản lý của đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp xã trên địa bàn thị xã Sơn Tây Trên cơ sở đó,luận văn đề xuất các giải pháp để nâng cao năng lực quản lý của cán bộ chủ chốt cấpxã
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Trên cơ sở mục tiêu tổng quát trên, luận văn có những nhiệm vụ nghiên cứu cụthể sau:
- Làm rõ cơ sở lý luận về năng lực quản lý của cán bộ
- Phân tích thực trạng về năng lực quản lý của cán bộ chủ chốt cấp xã trên địabàn thị xã Sơn Tây giai đoạn 2010 – 2015
- Các giải pháp để nâng cao năng lực quản lý của cán bộ chủ chốt cấp xã đếnnăm 2020
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Nghiên cứu lý luận và thực trạng năng lực quản lý của đội ngũ cán bộ chủ chốtcấp xã trên địa bàn thị xã Sơn Tây
3.2 Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi nội dung: Tập trung nghiên cứu về trình độ, kỹ năng và hành vi quản
lý nhà nước ở cơ sở của đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp xã
2
Trang 23- Phạm vi đối tượng: Nghiên cứu đối với 06 chức danh chủ chốt ở cấp xã gồm:
Bí thư, Phó bí thư, Chủ tịch HĐND, Chủ tịch UBND, Phó Chủ tịch HĐND và UBND
- Phạm vi thời gian: Nghiên cứu thực trạng về năng lực quản lý cán bộ chủ chốtcấp xã giai đoạn từ năm 2010 – 2015 và kiến nghị đến năm 2020 và những năm tiếptheo
4 Phương pháp nghiên cứu
Nhằm đạt được mục tiêu đề ra, để triển khai đề tài, luận văn sử dụng cácphương pháp chủ yếu sau:
- Đề tài sử dụng phương pháp chủ yếu là phân tích tài liệu trên cơ sở nghiêncứu các báo cáo, các bảng số liệu thống kê về quản lý nguồn nhân sự chủ chốt cấp xãcủa Thị ủy, UBND thị xã Sơn Tây giai đoạn 2010 - 2015;
- Phương pháp thống kê, phân loại: Là một mặt công tác quan trọng trong quátrính nghiên cứu phân loại, thống kê và trong khâu xử lý và lập các bảng số liệu Phânloại là một việc làm hết sức quan trọng của các hoạt động thống kê nhằm đưa ra cácthông tin phục vụ tốt cho nhu cầu quản lý, điều hành trong quá trình hoạt động
- Phương pháp phân tích mô tả: phân tích, tổng hợp trên cơ sở nghiên cứu cácbáo cáo đánh giá sơ kết, tổng kết; các số liệu thống kê về quản lý nhân sự của UBNDthị xã Sơn Tây nhiệm kỳ 2010 - 2015 và tham khảo sách báo, tạp chí chuyên ngành,các báo cáo về năng lực quản lý ở cấp xã.
- Sử dụng phương pháp điều tra, khảo sát đối với 110 đối tượng là một số cán
bộ chủ chốt cấp xã và nhân viên cấp dưới một số xã, phường trên địa bàn thị xã SơnTây nhằm tìm hiểu về hiệu quả quản lý nguồn nhân sự chủ chốt cấp xã của thị xã SơnTây hiện nay Tổng hợp dữ liệu, phân tích xử lý thông tin
Ngoài ra tác giả còn kết hợp các phương pháp trên với phương pháp phỏng vânsâu để làm rõ thêm vấn đề cần nghiên cứu
5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn
Lần đầu tiên có sự nghiên cứu một cách có hệ thống mang tính tổng thể về thựctrạng quản lý và sử dụng cán bộ chủ chốt cấp xã trên địa bàn thị xã Sơn Tây Đây làcấp chính quyền cơ sở có vị trí, vai trò đặc biệt quan trọng trong tình hình hiện nay đểđảm bảo ổn định an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội ở từng địa phương Từ đó
Trang 24nâng cao trách nhiệm của các cơ quan chức năng thị xã về công tác cán bộ trong việctham mưu cho Lãnh đạo thị xã về bố trí, sử dụng, đào tạo đội ngũ cán bộ này.
Đề tài có tính thực tiễn cao vì được xây dựng xuất phát từ nhu cầu thực tiễntrong công tác quản lý nhà nước ở cơ sở, được xây dựng trên các dữ liệu, thông tin tincậy để đề xuất ra các giải pháp mang tính khả thi cao
6 Kết cấu luận văn
Mở đầu
Chương 1 Cơ sở lý luận nâng cao năng lực quản lý của cán bộ chủ chốt cấp xãChương 2 Thực trạng năng lực quản lý của đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp trênđịa bàn thị xã Sơn Tây
Chương 3 Một số giải pháp và kiến nghị nâng cao năng lực quản lý của cán bộchủ chốt cấp xã
Kết luận
4
Trang 25CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN NÂNG CAO NĂNG LỰC QUẢN LÝ
CỦA CÁN BỘ CHỦ CHỐT CẤP XÃ 1.1 Một số vấn đề lý luận về cán bộ chủ chốt cấp xã
Nước ta đang trong thời kỳ công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước, chúng ta
đã và đang hội nhập kinh tế quốc tế Trong quá trình này chúng ta có nhiều thuận lợinhưng cũng gặp không ít khó khăn và thách thức Trong quá trình đưa sự nghiệp xâydựng CNXH của đất nước tiếp tục phát triển theo con đường mà Đảng và Bác đã chọnthì cần phải tạo tiền đề cho sự nghiệp ấy Điều này đòi hỏi phải khắc phục những tồntại của cơ cấu quan liêu, đồng thời phải giải quyết những vấn đề mới nảy sinh mộtcách hiệu quả Muốn làm tốt thì chúng ta cần phải có đội ngũ CBCC mạnh từ trungương đến cấp cơ sở (cấp xã, phường) Cấp cơ sở có vững thì các cấp trên mới mạnh.Việc xây dựng đội ngũ CBCC cấp xã là một việc hết sức cần thiết và quan trọng nhất
là việc nâng cao năng lực quản lý của CBCC cấp xã Trước tiên chúng ta cùng tìmhiểu một số vấn đề lý luận về CBCC cấp xã
1.1.1 Cấp xã và vai trò của cán bộ chủ chốt cấp xã
Cấp xã là là một cấp quản lý nhà nước trong hệ thống quản lý hành chính nhànước bốn cấp hiện hành gồm: trung ương – tỉnh – huyện – xã Cấp xã đóng vai tròquan trọng, là nền tảng của nền hành chính quốc gia, là nơi đáp ứng các yêu cầu cuộcsống của dân và tổ chức hoạt động để phát triển tốt nhất những khả năng sáng tạo,những năng lực làm chủ của nhân dân lao động Đây còn là cấp mà thực tiễn diễn rasôi động hàng ngày, nơi kiểm nghiệm tính đúng đắn đường lối và Nghị quyết củaĐảng Cấp xã là cấp hành động trực tiếp tổ chức đưa đường lối, chủ trương, chínhsách, nghị quyết của Đảng và pháp luật của Nhà nước vào cuộc sống
Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm đến cán bộ, coi đây là "vấn đề thenchốt" Người khẳng định: "Cán bộ là những người đem chính sách của Đảng, củaChính phủ giải thích cho dân chúng hiểu rõ và thi hành, đồng thời đem tình hình củadân chúng báo cáo cho Đảng, Chính phủ hiểu rõ để đặt chính sách cho đúng" [8, tr.269]
Cán bộ có vị trí rất quan trọng là "cầu nối" giữa Đảng, Nhà nước với nhân dân.Cán bộ là người đặt ra đường lối, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước
Trang 26Đường lối, chính sách, pháp luật có đúng đắn, khoa học phần lớn phụ thuộc nhiềuvào cán bộ, có chính sách rồi việc thi hành nó thế nào cũng lại phụ thuộc rất nhiều vàocán bộ Nếu cán bộ giỏi, có năng lực, tận tâm với công việc thì chính sách được thihành và đi vào cuộc sống Ngược lại, nếu không có cán bộ tốt thì các chủ trương,chính sách có hay mấy cũng không thực hiện được
Đảng ta luôn coi trọng công tác cán bộ, đặc biệt là thời kỳ đẩy mạnh CNH HĐH đất nước, Đảng nhận định: "Cán bộ là nhân tố quyết định sự thành bại của cáchmạng gắn liền với vận mệnh của Đảng, của chế độ, là khâu then chốt trong công tácxây dựng Đảng" [4, tr.34]
-Đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp xã có vai trò quan trọng trong việc tổ chức vàđộng viên nhân dân thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luậtcủa Nhà nước, tăng cường sự đoàn kết trong nhân dân, phát huy quyền làm chủ củanhân dân, huy động mọi tiềm năng để phát triển kinh tế - xã hội, tổ chức cuộc sống củacộng đồng dân cư Họ là những người trực tiếp tiếp xúc với nhân dân, là cầu nối giữaĐảng với nhân dân; lãnh đạo, chỉ đạo việc tổ chức thực hiện, đưa chủ trương, đườnglối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước vào cuộc sống Đồng thời nắm bắttâm tư, nguyện vọng của nhân dân để phản ánh với Đảng, Nhà nước
1.1.2 Cán bộ chủ chốt cấp xã
Để nghiên cứu năng lực quản lý của CBCC cấp xã chúng ta phải hiểu đượcCBCC cấp xã là gì
Từ “cán bộ” được hiểu với nhiều nghĩa khác nhau trong từng giai đoạn lịch sử
cụ thể Dù cách hiểu, cách dùng khác nhau nhưng về cơ bản, từ cán bộ bao hàm nghĩachính của nó là bộ khung, là nòng cốt, là chỉ huy Quan niệm một cách chung nhất, cán
bộ là khái niệm chỉ những người có chức vụ, vai trò và cương vị nòng cốt trong một tổchức có tác động ảnh hưởng đến hoạt động của tổ chức và các quan hệ trong lãnh đạo,chỉ huy, quản lý, điều hành, góp phần định hướng sự phát triển của tổ chức [8, tr.18]
Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng một khi đã có đường lối cách mạng đúng thìcán bộ là khâu quyết định Người viết: “Muốn việc thành công hay thất bại đều do cán
bộ tốt hay kém”, “Cán bộ là cái gốc của mọi công việc” Cán bộ là những người đemđường lối, chính sách của Đảng, của Chính phủ giải thích cho dân chúng hiểu rõ và thihành Đồng thời đem tình hình của dân chúng báo cáo lại cho Đảng, cho Chính phủ
6
Trang 27hiểu rõ để đặt chính sách cho đúng Thực tế là mọi chủ trương, đường lối của Đảng vàChính phủ đều do cán bộ nghiên cứu đề xuất, đồng thời cũng do cán bộ tổ chức, hướngdẫn nhân dân thực hiện Đường lối của Đảng đúng hay sai, tổ chức thực hiện thành haykhông đều phụ thuộc vào cán bộ Động lực của mọi cuộc cách mạng là quần chúngnhân dân, mà hạt nhân chủ yếu của nó là lực lượng cán bộ “Cán bộ là cái gốc của mọicông việc”, chính là quan điểm về con người với tính cách vừa là chủ thể, vừa là mụctiêu, vừa là động lực của cách mạng Đó là biểu hiện cụ thể của quan điểm “lấy dân
làm gốc” Người cho rằng:“cán bộ là tiền vốn của đoàn thể, có vốn mới làm ra lãi, bất
cứ chính sách, công tác gì, nếu có cán bộ tốt thì thành công tức là có lãi, không có cán
bộ tốt thì hỏng việc tức là lỗ vốn”.
Đảng và Nhà nước ta luôn luôn quan tâm và chú trọng đến công tác cán bộ, đặcbiệt trong thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước, xây dựng Nhà nước pháp quyềnXHCN của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân, công tác cán bộ càng được chú trọng.Đảng và Nhà nước ta đã ban hành nhiều Nghị quyết, văn bản quy phạm pháp luật quyđịnh về cán bộ như: Nghị quyết hội nghị lần thứ 8 Ban Chấp hành Trung ương Đảngkhoá VII, Nghị quyết Hội nghị lần thứ 3, 7 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoáVIII, Văn kiện đại hội Đảng X, đặc biệt là Nghị quyết hội nghị lần thứ 5 khoá IX BanChấp hành Trung ương Đảng "về đổi mới và nâng cao chất lượng hệ thống chính trị ở
cơ sở xã, phường, thị trấn", trong đó nhấn mạnh:
Xây dựng đội ngũ cán bộ ở cơ sở có năng lực tổ chức và vận động nhân dânthực hiện đường lối của Đảng, pháp luật của Nhà nước, công tâm, thạo việc, tận tuỵvới dân, biết phát huy sức dân, không tham nhũng, không ức hiếp dân, trẻ hoá đội ngũ,chăm lo công tác đào tạo, bồi dưỡng, giải quyết hợp lý và đồng bộ chính sách đối vớicán bộ cơ sở [6, tr.167-168]
Luật cán bộ, công chức 2008; Quyết định số 136/2001/QĐ-TTg ngày
17-9-2001 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chương trình tổng thể cải cách hành chínhgiai đoạn 2001 - 2010; Nghị định số 112/2011/NĐ-CP ngày 05/11/2011 của Chính phủ
về CBCC xã, phường, thị trấn; Nghị định 92/2009/NĐ-CP ngày 22/10/2009 của ChínhPhủ về chức danh, số lượng, một số chế độ chính sách đối với cán bộ, công chức ở xã,phường, thị trấn và những hoạt động không chuyên trách ở cấp xã; Thông tư liên tịch
số 03/2010/TTLT-BNV-BTC-BLĐTB&XH ngày 27/5/2010 của Bộ Nội vụ, Bộ Tàichính và Bộ Lao động Thương binh và Xã hội hướng dẫn thực hiện Nghị định số
Trang 2892/2009/NĐ-CP ngày 22/10/2009 của Chính Phủ; Nghị định số 29/2013/NĐ-CP ngày08/4/2013 của Chính Phủ về sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 92/2009/NĐ-
CP của Chính Phủ; Quyết định số 03/2004/QĐ-TTG ngày 07-01-2004 của Thủ tướngChính phủ phê duyệt định hướng quy hoạch đào tạo, bồi dưỡng CBCC xã, phường, thịtrấn đến năm 2010; Quyết định số 04/2004/QĐ-BNV ngày 16-01-2004 của Bộ trưởng
Bộ Nội vụ về việc ban hành Quy định tiêu chuẩn cụ thể đối với CBCC xã, phường,thị trấn là cơ sở pháp lý quan trọng để làm tốt công tác CBCC chính quyền cấp xã
Tại khoản 3, điều 4 của Luật Cán bộ, công chức ban hành 2008 nêu rõ: “Cán bộ
xã, phường, thị trấn (sau đây gọi chung là cấp xã) là công dân Việt Nam, được bầu cửgiữ chức vụ theo nhiệm kỳ trong Thường trực Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân,
Bí thư, Phó Bí thư Đảng ủy, người đứng đầu tổ chức chính trị - xã hội; công chức cấp
xã là công dân Việt Nam được tuyển dụng giữu một chức danh chuyên môn, nghiệp vụthuộc Ủy ban nhân dân cấp xã, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước”
Theo quy định tại điều 3, Nghị định số 92/2009/NĐ-CP ngày 22/10/2009 củaChính phủ về chức danh, số lượng, một số chế độ chính sách đối với cán bộ, côngchức xã, phường, thị trấn và những người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã:
1 Cán bộ cấp xã có các chức vụ sau đây:
a Bí thư, Phó Bí thư Đảng uỷ;
b Chủ tịch, Phó Chủ tịch HĐND;
c Chủ tịch, Phó Chủ tịch UBND;
d Chủ tịch Uỷ ban Mặt trận tổ quốc;
đ Bí thư Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh;
e Chủ tịch Hội liên hiệp phụ nữ Việt Nam;
g Chủ tịch Hội nông dân Việt Nam;
h Chủ tịch Hội cựu chiến binh Việt Nam
Có thể hiểu “cán bộ chủ chốt” là người có chức vụ, nắm giữ các vị trí quantrọng, có tác dụng làm nòng cốt trong các tổ chức thuộc hệ thống bộ máy của một cấpnhất định; người được giao đảm đương các nhiệm vụ quan trọng để lãnh đạo, quản lý,điều hành bộ máy thực hiện chức năng, nhiệm vụ được giao; chịu trách nhiệm trước
8
Trang 29cấp trên và cấp mình về lĩnh vực công tác được giao Cán bộ chủ chốt có những đặctrưng cơ bản như sau:
+ Cán bộ chủ chốt là người có vị trí quan trọng, giữ vai trò quyết định trongviệc xác định phương hướng, mục tiêu, phương pháp công tác; đề ra các quyết định và
tổ chức thực hiện tốt các quyết định của cấp mình hoặc cấp trên giao Kiểm tra, giámsát, kịp thời chấn chỉnh, uốn nắn những biểu hiện lệch lạc; bổ sung, điều chỉnh kịp thờinhững giải pháp mới khi cần thiết; đúc rút kinh nghiệm, tổng kết thực tiễn để bổ sung,hoàn chỉnh lý luận Đồng thời, CBCC còn là người giữ vai trò đoàn kết, tập hợp, pháthuy sức mạnh của quần chúng thực hiện nhiệm vụ chính trị của đơn vị và xây dựng nội
bộ tổ chức vững mạnh
+ Cán bộ chủ chốt là những người đại diện một tổ chức, một tập thể chủ yếu
do bổ nhiệm hoặc bầu cử, giữ một chức vụ trọng yếu trong cơ quan Đảng, chính quyền(cấp trưởng, cấp phó); trưởng các đoàn thể và là những người chịu trách nhiệm trướccấp trên và cấp mình về mọi hoạt động của địa phương, đơn vị hoặc lĩnh vực công tácđược đảm nhận
Như vậy, cán bộ chủ chốt cấp xã là những người có chức năng lãnh đạo, quản
lý giữ các chức vụ chủ yếu nhất trong các tổ chức đảng, chính quyền, mặt trận, đoàn thể ở cơ sở, có trách nhiệm chính trong việc đưa ra các chủ trương, nghị quyết của cấp ủy đảng, chính quyền, đoàn thể; có nhiệm vụ điều hành, tổ chức thực hiện đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước và chịu trách nhiệm chính trước tập thể, trước quần chúng nhân dân, trước cấp trên về những nhiệm vụ được giao phó trên địa bàn
cơ sở.
Ở đây, trong nội dung phạm vi nghiên cứu của luận văn tập trung chủ yếu đốivới 06 chức danh chủ chốt ở cấp xã gồm: Bí thư, Phó bí thư, Chủ tịch HĐND, Chủtịch UBND, Phó Chủ tịch HĐND và UBND
1.2 Năng lực quản lý của cán bộ chủ chốt cấp xã
1.2.1 Khái niệm năng lực quản lý của cán bộ chủ chốt cấp xã
Năng lực là một khái niệm luôn gắn liền với một chủ thể nhất định, đó là nănglực của một tổ chức hay của một cá nhân, năng lực quản lý của CBCC gắn liền với chủthể là CBCC
Theo từ điển Tiếng Việt của NXB giáo dục thì năng lực là khả năng làm việc tốt.
Trang 30Theo từ điển tiếng Việt Nam của viện ngôn ngữ học, NXB Đà Nẵng- 2000: năng
lực được hiểu là khả năng điều kiện chủ quan hoặc tự nhiên sẵn có; phẩm chất tâm lý
và sinh lý tạo cho con người khả năng hoàn thành một hoạt động nào đó với chấtlượng cao
Các Mác đã viết "quản lý là một chức năng đặc biệt nảy sinh từ bản chất xã hộicủa quá trình lao động" [2, tr.29-30] Nhấn mạnh nội dung trên ông chỉ rõ:
Tất cả mọi lao động xã hội trực tiếp hay lao động chung nào tiến hành trên quy
mô tương đối lớn thì ít nhiều cũng cần đến một sự chỉ đạo để điều hoà những hoạt động
cá nhân và thực hiện những chức năng chung Một người độc tấu vĩ cầm tự mình điềukhiển lấy mình, còn một dàn nhạc thì phải cần phải có nhạc trưởng [3, tr.480]
Theo điều khiển học thì quản lý là điều khiển, chỉ đạo một hệ thống hay mộtquá trình, căn cứ vào những quy định, định luật hay nguyên tắc tương ứng để cho hệthống hay quy trình ấy vận động theo ý muốn của người quản lý nhằm đạt được nhữngmục đích đã định trước
Theo giáo trình Nhà nước và pháp luật, quản lý hành chính nhà nước của Họcviện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh thì: Quản lý trong xã hội nói chung là quá trình
tổ chức, điều hành các hoạt động nhằm đạt được những mục tiêu và yêu cầu nhất địnhdựa trên những quy luật khách quan
Theo thuật ngữ hành chính, viện nghiên cứu hành chính: “năng lực là khả năng
thể chất và trí tuệ của cá nhân con người hoặc khả năng của một tập thể có tổ chức tựtạo lập và thực hiện được các hành vi xử sự của mình trong các quan hệ xã hội nhằmthực hiện được mục tiêu, nhiệm vụ do mình đề ra hoặc do nhà nước hay chủ thể khácvới kết quả tốt nhất” [10, tr.118]
Theo giáo trình quản lý hành chính Nhà nước của Học viện hành chính quốc gia “Quản lý là sự tác động có ý thức để chỉ huy điều hành, hướng dẫn các quá trình
xã hội và hành vi hoạt động của con người để hướng đến mục đích, đúng ý trí và phù
hợp với quy luật khách quan” [9,tr.61].
Theo thuật ngữ hành chính, Viện nghiên cứu Hành chính: “Quản lý là thuật
ngữ chỉ hành động có ý thức của con người nhằm sắp xếp, tổ chức, chỉ huy, điều hành,hướng dẫn, kiểm tra… các quá trình xã hội và hoạt động của con người để hướng
10
Trang 31Khả năng thu hút cấp dưới
Hiệu quả giải quyết công việc
và đánh giá kết quả
Kỹ năng nghiệp vụ
Kiến thức
hiểu biết xã
hội
Thái độ, ý thức, hành vi
Trình độ đào tạo
NĂNG LỰC QUẢN LÝ
chúng phát triển phù hợp với quy luật của xã hội, đạt được mục tiêu đã xác định theo ýtrí của nhà quản lý với chi phí thấp nhất” [10, tr.136]
Năng lực quản lý của CBCC cấp xã là khả năng sắp xếp, tổ chức, chỉ huy, điềuhành, hướng dẫn, kiểm tra… các quá trình xã hội và hoạt động của con người đểhướng chúng phát triển phù hợp với quy luật của xã hội, đạt được mục tiêu đã xác địnhthông qua các nghị quyết, chủ trương, đường lối, chính sách cụ thể
1.2.2 Tiêu chí đánh giá năng lực quản lý của cán bộ chủ chốt cấp xã
Năng lực rất khó định lượng, thường chúng ta đánh giá năng lực của một cánhân thông qua các tiêu chí sau:
Hình 1.1 Cấu trúc của năng lực quản lý
(Nguồn: Minh hoạ của tác giả)
Trang 32Bảng 1.1 Khung tiêu chí đánh giá năng lực quản lý của CBCC
Trình độ đào tạo
Là học vấn, là kiến thức là tiền đề để hình thànhnăng lực quản lý của người CBCC có được do đàotạo, bồi dưỡng tạo cho con người những cấp độ kiếnthức, kỹ năng và được thể hiện thông qua các vănbằng, chứng chỉ, chứng nhận đào tạo cho con ngườimột thế giới quan khoa học, óc nhận xét, khả năng tưduy xét đoán và quyết định hành động đúng quy luật,đúng mức độ và đúng thời cơ Trình độ đào tạo củaCBCC gồm có:
+ Trình độ lý luận chính trị+ Trình độ văn hóa
+ Trình độ chuyên môn nghiệp vụ+ Trình độ quản lý Nhà nước+ Trình độ ngoại ngữ và tin học
Kỹ năng nghiệp vụ
Là tổng hợp những cách thức, phương thức, biệnpháp tổ chức và thực hiện giải quyết công việc củaCBCC, điều này thể hiện ở việc vận dụng kiến thứcchuyên môn vào thực tế, sự thành thạo và nắm vữngnghiệp vụ, chỉ một số ít kỹ năng nghiệp vụ cơ bảnmang tính lý thuyết của cá nhân được hình thànhtrong đào tạo trong quá trình học còn phần lớn các kỹnăng mang tính thực tế cần thiết cho quá trình giảiquyết công việc được hình thành trong quá trình côngtác đó là kinh nghiệm thực tế, người nào có nhiềukinh nghiệm thực tế thì người đó càng có nhiều kỹnăng và mức độ thành thạo các kỹ năng càng cao hoặccác kỹ năng đó có được do sự truyền đạt, trao đổi chonhau
Kiến thức hiểu biết xã hội Đó là những hiểu biết của các CBCC về tình
hình kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội và chủ trươngđường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhànước, điều này giúp CBCC có tầm nhìn bao quát, đa
12
Trang 33diện, giúp đánh giá, giải quyết vấn đề một cách kháchquan và chuẩn xác hơn.
Thái độ, ý thức, hành vi
Điều này có ảnh hưởng rất lớn đến hiệu quả hoạtđộng của CBCC Nhờ có hành vi, thái độ, ý thức phùhợp mà công việc được giải quyết nhanh hơn, hiệuquả hơn và nhận được sự ủng hộ của các cá nhânkhác Điều này phụ thuộc vào các yếu tố thể chất, tâm
lý của cá nhân Cùng chung một sự việc nhưng ngườikhác nhau sẽ có quan điểm, cách ứng xử và hành vikhác nhau Ngoài ra, còn phụ thuộc vào tác phong làmviệc, văn hóa tổ chức và động lực làm việc củaCBCC
Hiệu quả giải quyết công
việc và đánh giá kết quả đạt
được
Là cái đạt được trong hoạt động của một người đốivới một công việc, một vấn đề nào đó Nó là sự sosánh kết quả tạo ra với chi phí cần thiết cho việc thựchiện Điều này phản ánh chính xác về năng lực củaCBCC, nếu giải quyết công việc tốt, hiệu quả caochứng tỏ họ có năng lực tốt, còn giải quyết công việcchưa tốt, hiệu quả thấp chứng tỏ họ thiếu năng lực
- Khả năng thu hút cấp
dưới
Được thể hiện ở sự điều khiển và tích cực hóahoạt động của các cá nhân trong tổ chức, điều khiểnngười khác khiến cho họ thay đổi hành vi của mìnhtheo mục tiêu đã xác định, tích cực hóa hoạt động củangười khác khiến họ làm việc nhiệt tình, say mê và tựgiác, đây là kết quả khả năng lan truyền nghị lực và ýchí của người lãnh đạo đến các thành viên trong tổchức Để làm tốt điều này người lãnh đạo phải có khảnăng thuyết phục, cảm hóa người khác qua tấm gươngcủa mình
(Nguồn: Tác giả)
Như vậy để lãnh đạo, chỉ đạo, triển khai nhiệm vụ hiệu quả, bên cạnh yêu cầuchung như: Trình độ chuyên môn, lý luận và bản lĩnh chính trị vững vàng, phẩm chấtđạo đức tốt, có năng lực thực tế, khả năng lãnh đạo, quản lý…, cán bộ chủ chốt cơ sở
Trang 34phải gắn bó và am hiểu sâu về tình hình, đặc điểm địa phương, đơn vị Đồng thời có
kỹ năng, phương pháp vận động, thuyết phục quần chúng, phải tạo dựng được uy tínđối với cán bộ, đảng viên và nhân dân
1.2.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến năng lực quản lý của cán bộ chủ chốt cấp xã
Một là: Vấn đề đào tạo, bồi dưỡng CBCC cấp xã
Trong bản giải trình của Bộ Chính trị tiếp thu ý kiến Trung ương về Đề án đổimới và nâng cao chất lượng hệ thống chính trị ở cơ sở đã chỉ rõ nguyên nhân củanhững yếu kém, bất cập của hệ thống chính trị ở cơ sở là do: " chưa nhận thức đúngvai trò, vị trí của cơ sở, quan liêu, để một thời gian quá dài không có chính sách đồng
bộ đối với cán bộ, thiếu chăm lo bồi dưỡng, đào tạo đội ngũ cán bộ cho cơ sở, khôngkịp thời bàn và đưa ra những chính sách để củng cố và tăng cường cơ sở" [4, tr 153]
Phần đông cán bộ cấp xã có trình độ học vấn thấp Một số cán bộ là người dântộc, vùng sâu, vùng xa còn ở tình trạng mù chữ Một số không nhỏ cán bộ chính quyềncấp xã không được đào tạo, bồi dưỡng những kiến thức cơ bản về quản lý nhà nước, vềpháp luật, về hành chính và kỹ năng quản lý hành chính - những kiến thức và kỹ năngphục vụ cho nghiệp vụ chính mà họ đang đảm nhận Đối với số cán bộ chủ chốt cấp
xã, sau mỗi lần bầu cử tuy có được bồi dưỡng, đào tạo nhưng các kiến thức họ thu nhậnđược không đầy đủ, hệ thống, vì chủ yếu là chỉ qua các lớp bồi dưỡng ngắn ngày, và cũngchưa được quan tâm đúng mức Trong một vài năm trở lại đây, trình độ học vấn của độingũ cán bộ cấp xã đã được nâng lên, nhưng những kiến thức cơ bản trong lĩnh vực nhànước và quản lý nhà nước, quản lý kinh tế thì rất yếu và thiếu Hơn thế nữa, đội ngũcán bộ chính quyền cấp xã lại thường biến động qua mỗi cuộc bầu cử Đây cũng chính
là lý do tạo cho người cán bộ chính quyền cấp xã không an tâm trong công tác, không
có ý chí học tập nâng cao trình độ Điều này có hạn chế rất lớn đến chất lượng công táccủa đội ngũ cán bộ cấp xã Đây là một trong những nguyên nhân làm cho đội ngũ cán bộcấp xã chưa đáp ứng được với yêu cầu của công cuộc đổi mới và xây dựng đất nước
Trong thực tế, việc đào tạo, bồi dưỡng còn nhiều mặt hạn chế Tình trạngngười cần đi học thì không đi học, không được cử đi học và không có chỗ để học;người không cần đi học lại được cử đi học, người không cần đi học thì lại bị buộc phải
đi học gây ra sự lãng phí không nhỏ Đã có khá nhiều cán bộ cấp xã học xong không
bố trí được công tác, phải nghỉ việc Ngoài lãng phí tiền của, cái lãng phí lớn nhất là
14
Trang 35mất công đào tạo mà không làm tăng được số cán bộ có trình độ học vấn đáp ứng nhucầu xã hội đang đặt ra Việc quản lý đào tạo cũng chưa được chặt chẽ Đôi khi việcđào tạo không phải vì nâng cao trình độ mà là để tìm cách nhận bằng, nhận giấy chứngnhận hợp thức hóa tiêu chuẩn cán bộ Trong khi đó, nội dung chương trình nhìn chungvẫn nặng về lý luận chính trị và trùng lặp, chưa đi sâu vào khoa học hành chính, kỹnăng nghiệp vụ quản lý.
Bên cạnh đó, thái độ của các cán bộ được cử đi học cũng cần phải được nhìnnhận cho đúng Cũng chính vì quan niệm công tác ở cấp xã phụ thuộc vào cơ chếĐảng cử, dân bầu không có tính ổn định lâu dài Hầu hết các cán bộ cấp xã đều từ chối
đi đào tạo, bồi dưỡng vào các thời điểm diễn ra cuộc bầu cử, hoặc diễn ra Đại hộiĐảng bộ và đi đào tạo tập trung dài hạn
Công tác đào tạo đội ngũ CBCC cấp xã là một yêu cầu vừa cơ bản, vừa cấp
bách Nếu không đào tạo thì không thể có đội ngũ cán bộ công chức cấp xã đáp ứngyêu cầu, nhiệm vụ của thời kỳ đổi mới, CNH, HĐH đất nước; không thể trẻ hóa đượcđội ngũ cán bộ CBCC cấp xã
Do quan niệm chưa đúng vị trí, vai trò của đội ngũ cán bộ cấp xã, cho rằngnếu đưa đi đào tạo khi về công tác không trúng cử thì lãng phí nên công tác đào tạocán bộ cấp xã chưa được quan tâm đúng mức Thông thường cứ chờ sau khi bầu cửxong, cán bộ cấp xã trúng cử mới được đưa đi đào tạo, bồi dưỡng Từ năm 1998 khi
có Nghị định số 09/1998/NĐ-CP quy định bốn chức danh chuyên môn, các địaphương đã quan tâm đào tạo các chức danh này, nhưng cũng chưa đáp ứng đượcyêu cầu, nhiệm vụ
Hai là: Cơ chế tuyển dụng, bổ nhiệm đội ngũ CBCC cấp xã
Việc tuyển dụng, bổ nhiệm đội ngũ cán bộ cấp xã hầu như chưa gắn với việcthi tuyển, lựa chọn về chuyên môn, nghiệp vụ Đối với các chức danh cán bộ chủ chốt
ở cấp xã đều thông qua cơ chế: Đảng cử, dân bầu Chính vì điều đó đã dẫn đến tìnhtrạng, có khá đông cán bộ cấp xã chưa được đào tạo qua bất cứ một chuyên môn nào
Đó là chưa kể đến có cả cán bộ chính quyền mới có trình độ văn hóa tiểu học, trunghọc cơ sở Bên cạnh đó, kết quả bầu cử phụ thuộc rất nhiều vào trình độ dân trí, dân cư
ở địa phương Yếu tố dòng họ trong nông thôn Việt Nam cũng có ảnh hưởng khôngnhỏ tới kết quả bầu cử Còn đối với cán bộ chuyên trách và không chuyên trách thì
Trang 36việc tuyển chọn cũng không đặt ra các tiêu chí bắt buộc là phải có trình độ chuyênmôn nghiệp vụ phù hợp với công việc được giao Do đó, có khá đông cán bộ chuyêntrách mà không có trình độ, năng lực phù hợp với đòi hỏi của nhiệm vụ được giao.Việc tuyển dụng cán bộ cấp xã hầu như chỉ dựa vào sự nhất trí của đồng chí Bí thưĐảng ủy và đồng chí Chủ tịch UBND xã, phường.
Với cơ chế tuyển dụng, bổ nhiệm như vậy, khó tránh khỏi tuyển dụng nhữngngười yếu kém về năng lực, phẩm chất dễ bị "lọt lưới" ảnh hưởng đến chất lượng độingũ cán bộ
Ba là: Chế độ, chính sách và vị thế của người CBCC cấp xã
Đây là một yếu tố tác động rất nhiều đến chất lượng của đội ngũ CBCC cấp
xã Trước ngày 01/7/2003, cán bộ chính quyền cấp xã không được coi là công chứcnhà nước Mặc dù trong Hiến pháp 1992 xác định là một cấp hành chính trong hệthống chính quyền của Nhà nước ta Cán bộ cấp xã không được hưởng lương trongngân sách nhà nước và lương thì gọi là phụ cấp được lấy từ ngân sách xã ra để chi trả
Đã có nhiều trường hợp, khi ngân sách xã quá thiếu thì khoản phụ cấp của các cán bộcấp xã bị nợ lại Thậm chí có xã nợ phụ cấp cán bộ xã hàng năm mới trả Bên cạnh đó,hoạt động của chính quyền cấp xã cũng bị xem nhẹ Có khá nhiều xã (nhất là các xãthuộc vùng sâu, vùng xa, nông thôn) chỉ làm việc buổi chiều, còn buổi sáng thì thamgia lao động sản xuất cùng gia đình Vị thế của người cán bộ cấp xã một thời gian khádài bị xem nhẹ đã có ảnh hưởng không nhỏ tới chất lượng của đội ngũ cán bộ cấp xã.Hầu như nếu có cơ hội được đi học ở các trường chuyên nghiệp thì rất ít có người quaytrở về công tác tại xã Trong khi đó, các cán bộ cấp xã khi được cử đi học nâng caotrình độ, thì xu hướng chung là tìm mọi cách để được chuyển công tác lên cấp cao hơnnhư cấp huyện, cấp tỉnh Bên cạnh đó, khi thấy có cán bộ cấp xã có năng lực, công táctốt thì huyện cũng đưa lên công tác tại huyện Đã có khá nhiều đồng chí cán bộ cấp xãcông tác rất tốt ở cương vị Bí thư Đảng ủy, Chủ tịch UBND xã, nhưng khi được đưalên huyện làm cán bộ huyện thì hầu như không phát huy được sở trường của mình,nhiều người lại được đưa trở về địa phương, nhưng lúc này thì uy tín của họ đã khôngcòn được như trước nữa và hầu như cũng không phát huy được tác dụng
Chế độ, chính sách và vị thế quá thấp của cán bộ cấp xã làm cho người cán bộcấp xã không an tâm trong công tác, không có lòng nhiệt tình đối với công việc mà
16
Trang 37mình được giao, không có chí tiến thủ Đồng thời, địa bàn cấp xã không có sức hút đốivới những người có năng lực, có trình độ học vấn và nhất là đối với con em trên địa bàn
xã tốt nghiệp đại học, cao đẳng về công tác và phục vụ tại địa phương
Bốn là: Công tác quản lý, kiểm tra, giám sát đội ngũ CBCC cấp xã
Đánh giá khách quan có thể nói, thời gian 10 năm sau đổi mới, đội ngũ CBCCcấp xã có bước đổi mới, tiến bộ rõ nét Đảng và Nhà nước cũng đã có quan tâm đếncông tác đào tạo, bồi dưỡng và chuẩn hóa đội ngũ cán bộ công chức cấp xã, nhất là cácchức danh CBCC tham gia quản lý nhà nước ở cơ sở; phần lớn đều ở độ tuổi tương đốitrẻ, nhiệt tình, có trách nhiệm trong công việc, vì thế tình hình cơ sở tương đối ổnđịnh Sau đó do tác động tiêu cực của cơ chế thị trường, nhất là một thời gian dài thiếuquan tâm đến cơ sở, buông lỏng công tác quản lý, kiểm tra, giám sát đội ngũ cán bộnày dẫn đến tình trạng một bộ phận không nhỏ sa sút về phẩm chất đạo đức và tinhthần, trách nhiệm; quan liêu, tham nhũng, tiêu cực phát sinh làm giảm sút chất lượngđội ngũ CBCC cấp xã Hàng loạt điểm nóng ở các địa phương bùng phát mà tiêu biểunhất là sự kiện Thái Bình tháng 5/1997 Một trong những bài học kinh nghiệm từ sau
sự kiện này là cần tăng cường công tác quản lý, kiểm tra, giám sát đội ngũ cán bộ cấpxã
Tăng cường công tác quản lý, kiểm tra, giám sát đội ngũ CBCC cấp xã mớinắm được thực trạng chất lượng và những biến động của đội ngũ này để xây dựngchiến lược và qui hoạch cán bộ cấp xã; kịp thời khen thưởng những thành tích, tiến bộ
và xử lý những sai phạm, tạo lập lòng tin của nhân dân đối với chính quyền Mặt khác,tăng cường quản lý, kiểm tra, luân chuyển cán bộ, thay thế những cán bộ yếu kém,tăng cường cán bộ có chất lượng cho những nơi phát sinh điểm nóng, mất đoàn kết nội
bộ, hoặc phong trào mọi mặt đều yếu
1.3 Sự cần thiết phải nâng cao năng lực của cán bộ chủ chốt cấp xã
Hiện nay, nước ta đang bước vào thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước Cácnội dung cơ bản của CNH, HĐH đất nước là: Thay thế phần lớn lao động thủ côngbằng lao động cơ khí hoá, điện khí hoá và một phần tự động hoá, thực hiện côngnghiệp hoá nông nghiệp; tăng tỷ trọng công nghiệp và dịch vụ trong GDP và trong laođộng xã hội; tiếp cận và vận dụng, ứng dụng những thành tựu mới nhất của khoa học -công nghệ; nâng cao dân trí, chất lượng nguồn lực con người ngang bằng khu vực với
Trang 38bản lĩnh, bản sắc của văn hoá Việt Nam; thực hiện tăng trưởng kinh tế gắn với côngbằng xã hội; nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân ở cơ sở Ta đangxây dựng nhà nước pháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân Nhànước pháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân có những đặc trưngsau đây:
Một là, đó là nhà nước của dân, do dân, vì dân tất cả quyền lực nhà nước thuộc
về nhân dân Hai là, quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công rành mạch vàphối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan Nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp,hành pháp và tư pháp Ba là, Nhà nước được tổ chức và hoạt động trên cơ sở hiếnpháp, pháp luật và đảm bảo cho Hiến pháp và các đạo luật giữ vị trí tối thượng trongđiều chỉnh các quan hệ của tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội Bốn là, Nhà nướctôn trọng và bảo đảm quyền con người, quyền công dân; nâng cao trách nhiệm pháp
lý giữa Nhà nước và công dân; thực hành dân chủ, đồng thời tăng cường kỷ cương, kỷluật Năm là, Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam do Đảng cộng sản Việt Namlãnh đạo, đồng thời đảm bảo sự giám sát của nhân dân, sự phản biện xã hội của Mặttrận tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên của Mặt trận [1, tr.111-112]
CBCC cấp xã là người hướng dẫn nhân dân phát huy tính tự quản ở cộng đồngdân cư Hoạt động tự quản nhằm giữ gìn đoàn kết, tương thân, tương ái, giúp đỡ thựchiện pháp luật, trợ giúp trong sản xuất, cùng nhau giữ gìn trật tự an ninh, an toàn xãhội (trong thôn, bản)
Để thực hiện thắng lợi mục tiêu sự nghiệp CNH, HĐH đất nước; xây dựngthành công Nhà nước pháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân;phát huy tốt tính tự quản ở cộng đồng dân cư Yêu cầu đặt ra đối với CBCC là phải:Trung thành với mục tiêu, lý tưởng mà Đảng và Bác Hồ đã lựa chọn, tin tưởng vào sựnghiệp đổi mới, am hiểu pháp luật, gần gũi với cơ sở, tâm huyết với cơ sở, có nănglực tổ chức và vận động nhân dân thực hiện đường lối của Đảng, pháp luật của Nhànước, công tâm, thạo việc, tận tuỵ với dân Để đáp ứng yêu cầu đó, vấn đề cấp thiết đặt
ra là phải nâng cao năng lực quản lý nhà nước của CBCC cấp xã
Muốn dân giàu, nước mạnh, quốc gia bền vững thì cần phải có đội ngũ cán bộchủ chốt cấp cơ sở mạnh và giỏi Việc xây dựng và nâng cao năng lực quản lý của
18
Trang 39CBCC cấp xã là một yêu cầu quan trọng và cấp thiết, đó là cơ sở thực tiễn để thực hiệnmục tiêu dân giàu nước mạnh, xã hội dân chủ công bằng, văn minh
Đội ngũ CBCC cấp xã chính là những người hằng ngày có mối quan hệ trựctiếp với nhân dân, có vị trí đặc biệt quan trọng trong lãnh đạo, triển khai và tổ chứcthực hiện thắng lợi mọi đường lối, chủ trương, chính sách, nghị quyết của Đảng vàpháp luật của Nhà nước ở địa phương Phẩm chất chính trị, đạo đức lối sống, năng lựccông tác của đội ngũ CBCC cấp xã là yếu tố quyết định đến hiệu quả thực hiện nhiệm
vụ chính ở địa phương nên việc nâng cao năng lực quản lý của đội ngũ CBCC cấp xã
là rất cần thiết, Đảng và Nhà nước ta cũng rất quan tâm đến vấn đề này
Hiện nay đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp xã còn có nhiều bất cập Trình độ, nănglực, tinh thần, trách nhiệm của một bộ phận cán bộ chưa đáp ứng yêu cầu theo tìnhhình mới hiện nay Vai trò lãnh đạo chưa được thể hiện rõ nét, chưa năng động, nhạybén, chưa nắm bắt được nhịp độ phát triển của xã hội, vô hình chung lại là những ràocản cho quá trình phát triển ở địa phương Công tác quản lý ở cơ sở vẫn mang tínhquản lý hành chính đơn thuần, nặng nề về thủ tục hành chính tạo ra sự bức xúc khôngđáng có trong nhân dân
Muốn cấp cơ sở xã vững mạnh thì đòi hỏi phải có đội ngũ CBCC cấp xã phải cónăng lực quản lý tốt, muốn có được đội ngũ cán bộ cấp cơ sở có phẩm chất và nănglực tốt thì Nhà nước phải quan tâm đến họ và có các chính sách đào tạo, bồi dưỡngnâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ này
Thực tiễn đô thị hoá trong thời gian qua ở thành phố Hà Nội đòi hỏi đội ngũ cán
bộ cấp xã phải có khả năng thích ứng, phải có đủ phẩm chất và năng lực để vượt quanhững khó khăn, thách thức
Thị xã Sơn Tây được hợp nhất với thành phố Hà Nội ngày 01/8/2008 theo Nghịquyết số 15/2008/QH12, của Quốc hội khóa XII về việc điều chỉnh địa giới hành chínhthành phố Hà Nội và một số tỉnh liên quan Sau hợp nhất, tình hình ANTT ổn định,TTATXH được giữ vững Từ đó tạo động lực không nhỏ cho sự phát triển kinh tế - xãhội của thị xã, các chỉ tiêu chủ yếu hàng năm đều đạt và vượt kế hoạch Đời sống nhândân ổn định từng bước được nâng lên, kết quả đó có sự đóng góp rất lớn của đội ngũcán bộ, công chức Đặc biệt là đội ngũ cán bộ lãnh đạo chủ chốt từ thị xã đến cơ sở,trong đó có sự đóng góp của đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp xã
Trang 40Tuy nhiên, đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp xã trên địa bàn thị xã Sơn Tây còn cónhiều bất cập Trình độ, năng lực, tinh thần, trách nhiệm của một bộ phận cán bộ chưađáp ứng yêu cầu theo tình hình mới hiện nay Vai trò lãnh đạo chưa được thể hiện rõnét, chưa năng động, nhạy bén, chưa nắm bắt được nhịp độ phát triển của xã hội, vôhình chung lại là những rào cản cho quá trình phát triển kinh tế - xã hội ở địa phương.Công tác quản lý nhà nước ở cơ sở vẫn mang tính quản lý hành chính đơn thuần, nặng
về quy trình khi giải quyết các thủ tục hành chính cho tổ chức, cá nhân đôi khi tạo ra
sự bức xúc không đáng có trong nhân dân
Nằm ở phía Tây Bắc của Thủ đô Hà Nội, vị trí địa lí tương đối thuận lợi SơnTây có tiềm năng lớn về phát triển du lịch - thương mại, được đánh giá có nhiều lợi thế
để phát triển nền kinh tế đa dạng Thành phố Hà Nội có Quyết định phê duyệt quyhoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội thị xã Sơn Tây đến năm 2020 định hướng đếnnăm 2030 Theo đó, quy hoạch “xây dựng thị xã Sơn Tây thành đô thị văn hóa lịch sử,
du lịch nghỉ dưỡng, đô thị xanh, đô thị vệ tinh cửa ngõ Tây Bắc thành phố Hà Nội Làtrung tâm kinh tế, văn hóa - nghệ thuật - vui chơi giải trí, dịch vụ cao cấp khu vực phíaTây Bắc của Thủ đô gắn với phát triển các khu du lịch; có vị trí quan trọng về an ninhquốc phòng; là đầu mối giao thông quan trọng của Thủ đô trên tuyến đường Hồ ChíMinh, Quốc lộ 32, đường vành đai 5, là hạt nhân thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hộikhu vực Tây Bắc Thủ đô… Coi trọng phát triển con người, nâng cao dân trí và chấtlượng nguồn nhân lực”
CHƯƠNG 2
20