Như vậy, người làm chứng có các đặc trưng sau: Thứ nhất, là người biết được những tình tiết có liên quan đến nguồn tin về tội phạm, về vụ án đang điều tra, truy tố, xét xử; Thứ hai, là n
Trang 1MỤC LỤC
A PHẦN MỞ ĐẦU 1
B PHẦN NỘI DUNG 2
I Nội dung tình huống xây dựng 2
II Lý luận chung về lấy lời khai người làm chứng 3
1 Khái niệm người làm chứng 3
2 Khái niệm, đặc điểm của lấy lời khai người làm chứng 4
3 Nhiệm vụ của lấy lời khai người làm chứng 5
4 Một số yếu tố ảnh hưởng tới kết quả lấy lời khai người làm chứng .5
III Phân tích chiến thuật lấy lời khai người làm chứng trong tình huống7 1 Chuẩn bị lấy lời khai người làm chứng 7
1.1 Nghiên cứu hồ sơ vụ án, đặc điểm nhân thân của người làm chứng và những tài liệu khác cần thiết cho việc lấy lời khai 7
1.2 Lập kế hoạch lấy lời khai người làm chứng 8
2 Nội dung cơ bản trong lấy lời khai người làm chứng 9
3 Tiến hành lấy lời khai người làm chứng 11
3.1 Thiết lập sự tiếp xúc tâm lý giữa ĐTV, KSV và người làm chứng 11
3.2 Giải thích lý do triệu tập, quyền và nghĩa vụ của người làm chứng 12
3.3 Tiến hành khai thác thông tin liên quan đến vụ án 13
3.4 Giai đoạn kết thúc lấy lời khai 17
IV Một số khó khăn, tồn tại khi thực hiện hoạt động lấy lời khai người làm chứng và biện pháp khắc phục 18
1 Đối với Kiểm sát viên 18
2 Đối với Điều tra viên 19
3 Đối với người làm chứng 19
C PHẦN KẾT LUẬN 21 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 3A PHẦN MỞ ĐẦU
Trong quá trình giải quyết các vụ án hình sự, để có thể chứng minhtoàn bộ sự thật vụ án, các Cơ quan tiến hành tố tụng phải có chứng cứđược đánh giá từ các nguồn chứng cứ đã thu thập được Trong những biệnpháp điều tra theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự, lấy lời khai củangười làm chứng là một trong những chứng cứ có vai trò rất quan trọngtrong quá trình giải quyết một vụ án hình sự Tuy nhiên, thực tiễn chothấy trong nhiều vụ án hình sự, người làm chứng đã không hợp tác với các
cơ quan tiến hành tố tụng, từ chối làm chứng, khai báo không đầy đủ,khách quan trong khi đó những người tiến hành tố tụng trong các cơ quantiến hành tố tụng không áp dụng chiến thuật phù hợp nên việc lấy lời khaingười làm chứng không đạt hiệu quả cao Để hiểu rõ hơn về chiến thuật
và phương pháp lấy lời khai của người làm chứng, nhóm xin chọn đề số
10: “Xây dựng tình huống vụ án xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh
dự, nhân phẩm của con người có người làm chứng, trên cơ sở đó phân tích chiến thuật lấy lời khai người làm chứng.”
Trang 4B PHẦN NỘI DUNG
I Nội dung tình huống xđy dựng
Nguyễn Lđm Toăn Thắng (2002) vốn từng lă một học sinh rất thôngminh, nhanh nhạy nhưng lại có mâu ăn chơi, líu lổng Bố mẹ Thắng lẵng Hồ Nhật Huy (1976) vă bă Hoăng Thanh Huyền (1978) đều lă nhữngngười nông dđn chất phâc, hiền lănh; gia đình Thắng có ông nội vốn lămột thương binh liệt sĩ Học hết cấp 3, Thắng không theo học Đại học;suốt ngăy tụ tập, đăn đúm, đi theo một nhóm những thanh niín mâu mặttrong khu để tham gia văo những cuộc vui, ăn chơi qua ngăy Dần dần,Thắng bị lôi kĩo tham gia văo câc tệ nạn lớn như đânh bạc, đânh thuí vănhiều lúc còn sử dụng chất cấm Không có bố mẹ chu cấp, Thắng lại vaynặng lêi tiền của những thanh niín trong nhóm để phục vụ cho nhu cầucủa mình; số tiền nợ gốc, tiền lêi mẹ đẻ lêi con ngăy căng nhiều
Khoảng 10h sâng ngăy 02/12/2021, do nhiều lần đòi nợ nhưngThắng không trả số tiền 50.000.000đ, Hồ Nhật Huy (2001) lă thanh niínnổi danh ăn chơi vă hổ bâo nhất trong khu có mang theo một con daophay vă lâi xe mây tìm đến nhă Thắng để đòi nợ Thời điểm đó, Thắngkhông có ở nhă mă chỉ có ông Huy vă bă Huyền; ông Huy đang tưới cđytrong sđn, nghe thấy tiếng rú ga, tiếng còi xe mây vă tiếng quât “ThằngThắng đđu, có trả tiền anh không?”, Huy cầm theo con dao xông thẳngvăo nhă nói lớn “Hôm nay nếu thằng Thắng vẫn không trả nợ thì chúngtôi sẽ không ra khỏi câi nhă năy” Sau một hồi ông Huy giải thích Thắngkhông có ở nhă vă nhất định không trả thay cho con số tiền năy, ông cốgắng đuổi 2 thanh niín đòi nợ ra khỏi nhă thì Tùng nổi tính côn đồ, chĩm
ba nhât văo người ông Huy, bă Huyền thấy vậy vội chạy từ bếp lín đuổilớn Bă Huyền một tay dùng khăn trải băn quấn vết thương cầm mâu chochồng, một tay dùng điện thoại gọi cho lực lượng công an huyện Y, hai
Trang 5đối tượng trừng mắt trên chĩa dao về phía ông bà và đi ra cổng nổ xe rú ga
đi mất
Cơ quan điều tra huyện Y sau khi nghe điện thoại báo án của bàHuyền đã nhanh chóng đến hiện trường và đưa nạn nhân tới bệnh viện.Ngày 08/12/2021, kết luận giám định pháp y xác định tỷ lệ thương tíchcủa ông Huy là 20% Cơ quan điều tra bước đầu xác định nghi phạm làNgô Thanh Tùng và người làm chứng là bà Hoàng Thanh Huyền
II Lý luận chung về lấy lời khai người làm chứng
1 Khái niệm người làm chứng
Theo khoản 1 Điều 66 BLTTHS năm 2015: “Người làm chứng là
người biết được những tình tiết liên quan đến nguồn tin về tội phạm, về
vụ án và được cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng triệu tập đến làm chứng”.
Như vậy, người làm chứng có các đặc trưng sau: Thứ nhất, là người
biết được những tình tiết có liên quan đến nguồn tin về tội phạm, về vụ án
đang điều tra, truy tố, xét xử; Thứ hai, là người phải có khả năng khai báo đúng sự thật; Thứ ba, là người được Cơ quan điều tra, các cơ quan được
giao tiến hành một số hoạt động điều tra, Viện kiểm sát triệu tập lấy lờikhai theo quy định của BLTTHS
Tùy vào đặc điểm của những tin tức, tài liệu do người làm chứngcung cấp trong quá trình lấy lời khai, có thể phân loại người làm chứngthành các nhóm sau đây:
Nhóm thứ nhất: Những người làm chứng có mặt tại hiện trường
trước, trong và sau khi xảy ra vụ án , những người ở xung quanh hiệntrường, ở trên đường hoặc ra khỏi hiện trường của người thực hiện hành
vi phạm tội, những người cùng làm việc với người bị hại hoặc người thựchiện hành vi phạm tội Những người làm chứng này có thể cung cấpnhững tin tức, tài liệu về hành vi của người phạm tội ở các giai đoạnchuẩn bị, thực hiện hành vi, sau khi gây án, những thủ đoạn che giấu tộiphạm và những điều kiện, hoàn cảnh cụ thể khi diễn ra hành vi đó
Trang 6Nhóm thứ hai: Người làm chứng trực tiếp chứng kiến vụ phạm tội
xảy ra, người trong gia đình bị can, người bị hại, cùng làm việc với người
bị hại, bị can, là bạn của bị can, người bị hại là người thân, bạn, đồngnghiệp, thầy cô giáo, người có vũ khí, chủ sở hữu của những công cụ,phương tiện, đồ vật, tài sản, tài liệu có liên quan đến vụ án Những ngườilàm chứng này có thể cung cấp tin tức, tài liệu về đặc điểm, nguồn gốccủa các vũ khí, công cụ, phương tiện, đồ vật, tài sản, tài liệu có liên quanđến vụ án và những tài liệu về đặc điểm nhân thân của bị can và người bịhại
Nhóm thứ ba: Bao gồm người làm chứng dưới 18 tuổi Đây là người
làm chứng mà lời khai của họ còn chịu nhiều yếu tố tác động làm ảnhhưởng tới tính xác thực của lời khai, mặt khác, việc nhận thức về tráchnhiệm, về quyền và nghĩa vụ của họ còn hạn chế Chính vì vậy, việc lấylời khai của người làm chứng dưới 18 tuổi cần có cha mẹ, thầy cô giáo,người đại diện hợp pháp và khi đưa giấy triệu tập phải đưa cho cha mẹhoặc người đại diện hợp pháp
2 Khái niệm, đặc điểm của lấy lời khai người làm chứng
Lấy lời khai người làm chứng là một biện pháp điều tra do Cơ quanđiều tra, cơ quan được giao tiến hành một số hoạt động điều tra, Việnkiểm sát thực hiện trong quá trình khởi tố, điều tra, truy tố tội phạm nhằmthu thập nguồn chứng cứ, tài liệu để làm rõ những vấn đề cần chứng minhtrong vụ án hình sự và phòng ngừa tội phạm Theo quy định củaBLTTHS, những người có thẩm quyền lấy lời khai người làm chứng baogồm: Điều tra viên, Kiểm sát viên; cấp trưởng, cấp phó, cán bộ điều tracủa các cơ quan của Bộ đội biên phòng, Hải quan, Kiểm lâm, lực lượngCảnh sát biển, Kiểm ngư được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt độngđiều tra (gọi chung là Cán bộ điều tra), Kiểm sát viên lấy lời khai ngườilàm chứng trong trường hợp xét thấy việc lấy lời khai của Điều tra viênkhông khách quan hoặc có vi phạm pháp luật hoặc xét cần làm rõ chứng
cứ, tài liệu để quyết định việc phê chuẩn hoặc không phê chuẩn quyết
Trang 7định tố tụng của Cơ quan điều tra hoặc để quyết định việc truy tố Trình
tự, thủ tục triệu tập, lấy lời khai người làm chứng được thực hiện theo quyđịnh tại các điều 185, 186, 187 BLTTHS năm 2015
Như vậy, có thể hiểu lấy lời khai người làm chứng là biện pháp điều
tra do Điều tra viên, Cán bộ điều tra, Kiểm sát viên tiến hành nhằm thu thập theo trình tự tố tụng hình sự lời khai của người làm chứng về những tình tiết của vụ án đang được điều tra, truy tố và những tin tức, tài liệu khác mà người làm chứng biết có ý nghĩa đối với hoạt động điều tra, truy
tố và phòng ngừa tội phạm.
Với cách phân loại người làm chứng như đã trình bày ở phần trên,tùy theo từng trường hợp cụ thể, Điều tra viên, Cán bộ điều tra, Kiểm sátviên có thể lựa chọn chính xác người làm chứng trong vụ án, xác địnhchính xác những vấn đề cần làm rõ khi lấy lời khai của họ, lựa chọnnhững thủ thuật, phương pháp thích hợp đối với từng nhóm người làmchứng nhằm mục đích thu thập được những tin tức, tài liệu thiết thực phục
vụ cho công tác điều tra giải quyết vụ án Tuy nhiên, khi lấy lời khai củangười làm chứng, Điều tra viên, Cán bộ điều tra, Kiểm sát viên cần chú ýlời khai của người làm chứng chỉ có thể là chứng cứ khi lời trình bày của
họ là do họ biết được Không được dùng làm chứng cứ của vụ án hình sựđối với những lời khai của người làm chứng nếu họ không thể nói rõ tạisao họ biết được những tình tiết đó
3 Nhiệm vụ của lấy lời khai người làm chứng
Căn cứ vào nhiệm vụ cụ thể của hoạt động điều tra ở từng thời điểm
cụ thể, đặc điểm và giá trị của các thông tin mà người làm chứng có thểcung cấp, quá trình lấy lời khai người làm chứng, Điều tra viên, Cán bộđiều tra, Kiểm sát viên cần phải giải quyết những nhiệm vụ thể sau đây:
Thứ nhất, làm rõ người thực hiện hành vi phạm tội, hướng chạy trốn
và nơi ẩn náu để có biện pháp truy bắt, những vật chứng còn lại của vụ án
và nơi cất giấu để thu giữ và những âm mưu, hành động chuẩn bị gây ánhoặc đang gây án để có biện pháp ngăn chặn;
Trang 8Thứ hai, thu thập, kiểm tra, củng cố những chứng cứ của vụ án và
thu thập những tin tức, tài liệu khác để xác định phương hướng của hoạtđộng điều tra
4 Một số yếu tố ảnh hưởng tới kết quả lấy lời khai người làm chứng
Kết quả lấy lời khai người làm chứng phụ thuộc một phần vào cácyếu tố sau:
Thứ nhất, về động cơ khai báo: Động cơ khai báo đúng đắn nhất của
người làm chứng là họ sẵn sàng, mong muốn khai báo một cách kháchquan, trung thực nhất sự việc phạm tội đã xảy ra mà họ biết để cơ quanpháp luật xác định đúng đắn, chính xác tội phạm và người phạm tội Động
cơ này thể hiện sự hiểu biết pháp luật, ý thức đấu tranh phòng, chống tộiphạm, đức tính trung thực, thẳng thắn, công minh của người làm chứng.Tuy nhiên, trong thực tế, không ít trường hợp người làm chứng thờ ơ vớihành vi phạm tội đã xảy ra mà họ chứng kiến Ở trường hợp khác, động
cơ khai báo của người làm chứng còn bị ảnh hưởng, tác động khi họ cóviện cảm hay ác cảm với đối tượng phạm tội Ngược lại với động cơ khaibáo đúng đắn của người làm chứng là người làm chứng từ chối khai báohoặc khai báo gian dối Qua thực tiễn công tác lấy lời khai người làmchứng, có thể khái quát một số nguyên nhân làm cho người làm chứng từchối khai báo hoặc có động cơ khai báo gian dối như sau:
Một là, do người làm chứng sợ đối tượng bị tình nghi, bị can và
những người có mối quan hệ với những người trên trả thù khi khai báo sựthật hoặc bị chúng đe dọa, khống chế;
Hai là, do người làm chứng muốn che giấu hành vi vi phạm pháp
luật, hành vi không phù hợp đạo đức khác của chính họ;
Ba là, do sự căm ghét tội phạm, hoặc mâu thuẫn cá nhân từ trước mà
người làm chứng khai báo làm tăng nặng hành vi phạm tội của bị can, đốitượng bị tình nghi Nhiều trường hợp do quan hệ tình cảm, quen biết màngười làm chứng khai báo làm giảm nhẹ hành vi phạm tội của bị can,người bị tình nghi;
Trang 9Bốn là, do người làm chứng đánh giá sai hành vi của mình khi xảy ra
vụ án, cho rằng hành vi đó là phạm tội, do đó dẫn đến việc khai báo giandối để trốn tránh trách nhiệm hình sự;
Năm là, do người làm chứng sợ mất thời gian, phiền hà, không muốn
giúp đỡ cơ quan có thẩm quyền làm rõ sự thật;
Sáu là, một số trường hợp do thái độ cửa quyền, thiếu tôn trọng, gây
phiền hà cho người làm chứng của Điều tra viên, Kiểm sát viên
Thứ hai, về trạng thái tâm lý của người làm chứng: Trạng thái tâm lý
tốt nhất của người làm chứng để họ khai báo là thái độ sẵn sàng, bìnhtĩnh, thoải mái trong khai báo Có như vậy, họ mới minh mẫn nhớ lại,tường thuật lại một cách đầy đủ, chi tiết sự việc phạm tội, hành vi phạmtội xảy ra mà họ biết Khi người làm chứng có trạng thái tâm lý khó chịu,không hài lòng hoặc rất hồi hộp, lo lắng sẽ ảnh hưởng không tốt đến kếtquả khai báo như khai báo lẫn lộn, thiếu lôgic, thiếu chính xác sự việcphạm tội và hành vi phạm tội đã diễn ra
Thứ ba, về đặc điểm mối quan hệ của người làm chứng với người bị
hại, người phạm tội: Đây là yếu tố chủ quan của người làm chứng kìmhãm hoặc thúc đẩy hành động khai báo của họ, chi phối chất lượng thôngtin mà họ cung cấp cho Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát Quá trình lấy lờikhai, Điều tra viên, Kiểm sát viên cần giáo dục cho người làm chứng cónhận thức đúng đắn về mối quan hệ trên, có thái độ trung thực khi khaibáo trước Điều tra viên, Kiểm sát viên
Thứ tư, những yếu tố ảnh hưởng đến quá trình trị giác của người làm
chứng: Điều kiện theo dõi, quan sát không thuận lợi; sự việc xảy ra quánhanh, quá xa, thiếu ánh sáng ; khuyết tật của cơ quan cảm giác, ngườilàm chứng ốm, mệt mỏi, say rượu
Thứ năm, hình thức triệu tập và địa điểm, thời gian lấy lời khai
người làm chứng Hoạt động này tác động đến tâm lý của họ, đặc biệttrạng thái tâm lý của họ khi khai báo trước Điều tra viên, Kiểm sát viện
Trang 10Thứ sáu, số lượng, chất lượng thông tin, tài liệu của Cơ quan điều
tra, Viện kiểm sát về sự hiểu biết của người làm chứng về các tình tiết của
vụ án: Thông tin, tài liệu của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát về sự hiểubiết của người làm chứng tạo cơ sở cho Điều tra viên, Kiểm sát viênthuyết phục họ ra làm chứng và khai báo đầy đủ, chính xác về các tình tiếtcủa vụ án mà họ biết
Thứ bảy, năng lực, khả năng giao tiếp và tác động tâm lý của Điều
tra viên, Cán bộ điều tra, Kiểm sát viên đối với người làm chứng: Đâycũng là yếu tố có ý nghĩa quan trọng trong quá trình lấy lời khai ngườilàm chứng Qua hoạt động giao tiếp và tác động tâm lý, Điều tra viên, Cán
bộ điều tra, Kiểm sát viên cần làm cho người làm chứng tôn trọng bởiphương pháp làm việc, sự hiểu biết của mình Từ đó có thể thuyết phụcngười làm chứng tận tâm khai báo các thông tin cần thiết cho công tácđiều tra, khám phá vụ án hình sự
III Phân tích chiến thuật lấy lời khai người làm chứng trong tình huống
1 Chuẩn bị lấy lời khai người làm chứng
1.1 Nghiên cứu hồ sơ vụ án, đặc điểm nhân thân của người làm chứng và những tài liệu khác cần thiết cho việc lấy lời khai
Trong tình huống trên, người làm chứng ở đây là bà Hoàng ThanhHuyền Để lấy lời khai của người làm chứng có hiệu quả, Điều tra viêncần nghiên cứu hồ sơ vụ án, đặc điểm nhân thân của người làm chứng vànhững tin tức tài liệu khác cần thiết cho việc lấy lời khai của người làmchứng Nhằm xác định những người làm chứng, những vấn đề cần làm rõtrong quá trình lấy lời khai, chuẩn bị những tài liệu có thể và cần phải sửdụng trong quá trình lấy lời khai và dự kiến những câu hỏi cần đưa ra đểngười làm chứng trả lời Điều tra viên cần nắm được điều kiện kháchquan và chủ quan có liên quan đến quá trình tự giác của bà Huyền đối vớinhững tình tiết của vụ án, có ý nghĩa là cơ sở tâm lý của quá trình hình
Trang 11thành hình ảnh tưởng tượng của sự việc hiện tượng có liên quan đến vụ ántrong trí nhớ của người làm chứng.
Điều tra viên cần nghiên cứu những tài liệu đặc điểm nhân thân củangười làm chứng, làm rõ mỗi quan hệ của người làm chứng với bị can vàngười bị hại Những tài liệu này bao gồm: Lý lịch như họ và tên, giới tính,tuổi, nghề nghiệp, trình độ văn hóa, tình trạng của những cơ quan cảmgiác, những đặc điểm tâm lý, sự chú ý, thái độ lao động, tham gia vào cáchoạt động xã hội, ý thức chấp hành pháp luật và tham gia vào cuộc đấutranh chống tội phạm Việc nghiên cứu kỹ những tài liệu này sẽ giúp choĐiều tra viên giải quyết những nhiệm vụ chiến thuật như lựa chọn trình tựlấy lời khai, thời gian và địa điểm lấy lời khai, hình thức triệu tập ngườilàm chứng để lấy lời khai Chú ý phát hiện những hiện tượng tâm lý cóthể tác động đến thái độ khai báo của người làm chứng như sợ bị liên lụy,
sợ bị trả thù Mối quan hệ này tác động đến thái độ khai báo của ngườilàm chứng và cuối cùng tác động đến độ xác thực của lời khai
1.2 Lập kế hoạch lấy lời khai người làm chứng
- Chuẩn bị thông tin, tài liệu liên quan phục vụ cho việc lấy lời khai:
Những tài liệu, chứng cứ để đối chiếu so sánh với lời khai của ngườilàm chứng như: Biên bản khám nghiệm hiện trường; Sơ đồ hiện trường;Bản tự khai và Biên bản lấy lời khai trước đó của Ngô Thanh Tùng, ông
Hồ Nhật Huy Những tài liệu chứng cứ cần phải sử dụng để đấu tranh vớithái độ khai báo gian dối của người làm chứng: Bản tự khai, biên bản lấylời khai người làm chứng, Biên bản khám nghiệm hiện trường, Bản kếtluật giám định pháp y
- Dự kiến những câu hỏi đặt ra cho người làm chứng để làm rõ vấn đề:
Trước đây bà Huyền có gặp hoặc tiếp xúc với người tấn công chồng bàhay không?
Bà Huyền có biết con mình đang thiếu nợ hay không?
Trang 12 Bà được chứng kiến sự việc từ thời điểm nào? Bà có biết được nội dungcuộc trò chuyện giữa anh Thắng và đối tượng gây án không?
Bà có còn nhớ khi sự việc xảy ra, ngoài ông bà và đối tượng gây án ra thìcòn ai có mặt tại hiện trường không?
Khi đối tượng đến đòi nợ thì lúc đó con trai của bà đang ở đâu?
Trước ngày xảy ra sự việc đối tượng gây án đã từng đến nhà ông bà haychưa?
Đối tượng đã sử dụng công cụ, hung khí gì để gây thương tích cho ôngHuy?
Bà có nhớ đối tượng gây án đi bằng phương tiện nào không?
Bà có nhớ rõ thời gian và địa điểm xảy ra sự việc?
Sau khi biết chồng mình bị thương thì bà đã làm gì?
Nếu bây giờ mang ảnh nghi phạm, bà có nhận dạng được không?
Bà có nhớ đối tượng gây án có thái độ gì khi rời đi hay không (ví dụ như
sợ hãi, căng thẳng hay bình tĩnh, ngạo mạn,…?
Mong bà hợp tác để chúng ta cùng làm rõ sự việc, nếu bà có bị ai đe doạhay có chuyện gì thì chúng tôi có thể giúp bà áp dụng các biện pháp bảo
vệ người làm chứng!
2 Nội dung cơ bản trong lấy lời khai người làm chứng
Khi lấy lời khai của bà Hoàng Thanh Huyền thì cần làm rõ những nội dung sau đây:
- Thông tin phản ánh tình tiết của vụ án mà bà Huyền nhận biết được,những nhận định, đánh giá của bà Huyền về các tình tiết đó; lý do bà Huyền biếtđược những thông tin đó:
+ Bà Hoàng Thanh Huyền có mặt tại hiện trường ở thời điểm nào?
+ Thời gian, địa điểm và chi tiết hiện trường khi xảy ra vụ án?
+ Những ai có mặt tại hiện trường khi sự việc xảy ra?
Trang 13- Người lấy lời khai cần làm rõ các thông tin về đặc điểm nhân thân của bàHuyền; xác định mối quan hệ giữa bà Huyền với người bị hại và những ngườithực hiện hành vi phạm tội:
+ Xác định mối quan hệ của bà Hoàng Thanh Huyền với người bị hại + Xác định mối quan hệ của bà Hoàng Thanh Huyền với những người thực hiện hành vi phạm tội?
+ Xác định các mâu thuẫn trong đời sống của bị hại
- Làm rõ nguồn gốc của những tài liệu chứng cứ được sử dụng khi lấy lờikhai bà Huyền Những tài liệu, chứng cứ này có thể sử dụng để đối chiếu với lờikhai của bà Huyền, hoặc để đấu tranh trong trường hợp bà Huyền có thái độ từchối khai báo, khái báo gian dối như: Bản tự khai, biên bản lấy lời khai ngườilàm chứng, Biên bản khám nghiệm hiện trường, Bản kết luật giám định pháp y
- Người lấy lời khai cần dự kiến các câu hỏi đưa ra trong quá trình lấy lờikhai, không nên đặt quá nhiều câu hỏi chung chung Người lấy lời khai có thểvận dụng hệ thống các câu hỏi trong hỏi cung bị can để hỏi trong quá trình lấylời khai bà Huyền
- Dự kiến thủ thuật, chiến thuật sử dụng trong lấy lời khai Trên cơ sởnhững vấn đề được làm rõ trong quá trình lấy lời khai, đặc điểm nhân thân vàthái độ khai báo của bà Huyền thì người lấy lời khai sẽ dự kiến những thủ thuật,chiến thuật cần áp dụng trong quá trình lấy lời khai khi: bà Huyền có thái độ hợptác khai báo; từ chối khai báo; khai báo gian dối hoặc nhầm lẫn do quên, do sợhãi,
- Dự kiến thời gian và địa điểm lấy lời khai
+ Thời gian lấy lời khai phải tạo điều kiện thuận lợi cho công tác điều tra,thuận lợi cho việc làm chứng của bà Huyền, dự kiến 9 giờ 00 phút ngày03/12/2021
+ Địa điểm lấy lời khai phải đảm bảo bí mật về nội dung và và thuận lợicho bà Huyền đi lại, sinh hoạt Địa điểm dự kiến lấy lời khai bà Huyền là Cơquan điều tra công an huyện Y
- Chuẩn bị các phương tiện kỹ thuật để lấy lời khai của người làm chứng
Trang 14+ Việc chuẩn bị phương tiện kỹ thuật lấy lời khai phải được tiến hành ngaysau khi lập kế hoạch lấy lời khai bà Huyền
+ Các phương tiện cần chuẩn bị là: Mẫu biên bản, máy ghi âm, ghi hình có
âm thanh (nếu cần thiết), phòng lấy lời khai
- Triệu tập người làm chứng: Việc triệu tập bà Huyền đến lấy lời khai đượcthực hiện theo quy định của Điều 185 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 Giấytriệu tập bà Huyền phải ghi rõ họ tên, chỗ ở hoặc nơi làm việc, học tập; giờ,ngày, tháng, năm và địa điểm có mặt; mục đích và nội dung làm việc, thời gianlàm việc; gặp ai và trách nhiệm về việc vắng mặt không vì lý do bất khả khánghoặc không do trở ngại khách quan Giấy triệu tập được giao trực tiếp cho bàHuyền hoặc thông qua chính quyền xã, phường, thị trấn nơi bà Huyền cư trúhoặc cơ quan, tổ chức nơi bà Huyền làm việc, học tập Trong mọi trường hợp,việc giao giấy triệu tập phải được ký nhận Chính quyền xã, phường, thị trấn nơi
bà Huyền cư trú hoặc cơ quan, tổ chức nơi bà Huyền làm việc, học tập có tráchnhiệm tạo điều kiện cho bà Huyền thực hiện nghĩa vụ làm chứng của mình
3 Tiến hành lấy lời khai người làm chứng
3.1 Thiết lập sự tiếp xúc tâm lý giữa ĐTV, KSV và người làm chứng
Đây là bước đầu tiên và rất quan trọng của giai đoạn lấy lời khaingười làm chứng Lúc này, điều tra viên cần thể hiện rõ sự uy nghiêm,nhưng bên cạnh đó là tranh thủ được thiện cảm đối với người làm chứng,đồng thời thể hiện cho người làm chứng thấy được sự tin tưởng để có thểbộc bạch hết mọi chi tiết mà mình biết được Thái độ ôn hòa, cởi mở củaĐiều tra viên, cùng giọng nói và tác phong đi, đứng, ngồi…
Ngoài ra có thể sử dụng những câu nói mang tính hỏi thăm như:
- Ngày qua có ai tới làm phiền gia đình ông bà không? Nếu có ai làmphiền khiến bà khó chịu hoặc lo sợ thì có thể báo với chúng tôi để được giải quyết