Các trường hợp đình chỉ giải quyết vụ án dân sự Căn cứ điều 217 BLTTDS năm 2015 Nguyên đơn hoặc bị đơn là cá nhân đã chết mà quyền, nghĩa vụ của họ không được thừa kế; Cơ quan, tổ ch
Trang 1MỤC LỤC
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT 4
A MỞ ĐẦU 1
B NỘI DUNG 2
I Những vấn đề lý luận chung 2
1 Khái quát đình chỉ giải quyết vụ án dân sự 2
2 Khái quát kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm 3
II Đặt tình huống và giải quyết 4
1 Tình huống 4
2 Yêu cầu cần giải quyết 6
3 Giải quyết yêu cầu 6
III Liên hệ mở rộng và đề xuất 10
1 Điểm tồn tại của kháng nghị và đình chỉ 10
2 Kiến nghị hoàn thiện quy định pháp luật 11
C KẾT LUẬN 13
D TÀI LIỆU THAM KHẢO 14
Trang 2DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
BLTTDS: Bộ luật tố tụng dân sự TAND: Toà Án nhân dân
VKSND: Viện Kiểm Sát nhân dân
Trang 3A MỞ ĐẦU
Vấn đề về phúc thẩm dân sự luôn là đề tài nóng hổi trong suốt những năm vừa qua, để hạn chế việc áp dụng không đồng đều giữa các cơ quan có thẩm quyền gây ảnh hưởng quyền lợi ích hợp pháp của người dân đã đề ra những quy định cụ thể về vấn đề kháng cáo, kháng nghị của đương sự và Viện Kiểm sát Việc phúc thẩm bản án quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực dân sự có ý nghĩa trong việc khắc phục sau lầm có thể có trong những bản án quyết định
đó nhằm bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của cá nhân tổ chức cũng như lợi ích công cộng và nhà nước Bên cạnh đó, có thể kiểm tra hoạt động xét xử của toà cấp dưới qua đó rút kinh nghiệm trong công tác và bảo đảm áp dụng đúng pháp luật mà cụ thể như các quyết định kháng cáo, kháng nghị Để có thể đạt được mục đích này, không chỉ đòi hỏi các quy định về kháng cáo kháng nghị đầy đủ và đúng đắn, mà còn đòi hỏi việc áp dụng các quy định này cũng phải tuân theo những nguyên tắc nhất định Viện Kiểm sát được quyền kháng nghị nhiều bản án quyết định khác nhau nhưng nổi bật muốn nhắc đến đó là quyết định đình chỉ vụ án dân sự Những năm vừa qua, việc áp dụng kháng nghị với các quyết định đã dần đi vào thực tiễn và luôn được kịp thời sửa đổi, bổ sung
để phù hợp, đổi mới tư duy và hướng đến lợi ích của cộng đồng nói chung Vậy, liệu những thực tiễn đình chỉ hay kháng nghị đó có thực sự phù hợp và phát huy tối đa hiệu quả trong thời gian tới hay không? Nhóm đã đi sâu vào nghiên cứu, tìm hiểu những vấn đề lý luận và thực tiễn để hoàn thiện pháp luật về vấn đề đình chỉ và kháng nghị của Viện Kiểm Sát cùng việc trình bài với mục đích trả lời câu hỏi nêu trên từ đó đưa ra những điểm tích cực, điểm tồn tại và đề ra phương hướng hoàn thiện và nâng cao hiệu quả áp dụng trên thực tế Chính vì lẽ đó nhóm đã lựa chọn đề tài số 5 để làm để tài nghiên cứu phục vụ cho bài nhóm quan trọng lần này
Trang 4B NỘI DUNG
I Những vấn đề lý luận chung
1 Khái quát đình chỉ giải quyết vụ án dân sự
1.1 Khái niệm
Đình chỉ giải quyết vụ án dân sự là việc Tòa án quyết định chấm dứt việc giải quyết vụ án dân sự khi có những căn cứ theo pháp luật quy định
1.2 Các trường hợp đình chỉ giải quyết vụ án dân sự
Căn cứ điều 217 BLTTDS năm 2015
Nguyên đơn hoặc bị đơn là cá nhân đã chết mà quyền, nghĩa vụ của họ không được thừa kế;
Cơ quan, tổ chức đã bị giải thể, phá sản mà không có cơ quan, tổ chức, cá nhân nào kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của cơ quan, tổ chức đó;
Người khởi kiện rút toàn bộ yêu cầu khởi kiện hoặc nguyên đơn đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vẫn vắng mặt, trừ trường hợp họ đề nghị xét xử vắng mặt hoặc vì sự kiện bất khả kháng, trở ngại khách quan;
Đã có quyết định của Tòa án mở thủ tục phá sản đối với doanh nghiệp, hợp tác xã là một bên đương sự trong vụ án mà việc giải quyết vụ án có liên quan đến nghĩa vụ, tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã đó;
Nguyên đơn không nộp tiền tạm ứng chi phí định giá tài sản và chi phí tố tụng khác theo quy định của Bộ luật này
Trường hợp bị đơn có yêu cầu phản tố, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập không nộp tiền tạm ứng chi phí định giá tài sản và chi phí tố tụng khác theo quy định của Bộ luật này thì Tòa án đình chỉ việc giải quyết yêu cầu phản tố của bị đơn, yêu cầu độc lập của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;
Đương sự có yêu cầu áp dụng thời hiệu trước khi Tòa án cấp sơ thẩm ra bản án, quyết định giải quyết vụ án và thời hiệu khởi kiện đã hết
Các trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 192 của Bộ luật này mà Tòa án
đã thụ lý;
Các trường hợp khác theo quy định của pháp luật
2
Trang 51.3 Hậu quả của việc đình chỉ giải quyết vụ án dân sự
Quyết đinh đình chỉ bị kháng cáo kháng nghị phúc thẩm
Đương sự không có quyền khởi kiện lại nếu khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết vụ án dân sự sau không có gì khác so với vụ án dân sự trước về quan hệ pháp luật tranh chấp và các bên nguyên đơn, bị đơn sẽ không được Tòa án chấp nhận Trừ trường hợp quy định điểm c khoản 1 điều 217, khoản 3 điều
192 BLTTDS năm 2015
2 Khái quát kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm
2.1 Khái niệm
Kháng nghị là một quyền tố tụng quan trọng của VKSND theo quy định của pháp luật nhằm phản đối bản án quyết định của TAND cấp sơ thẩm yêu cầu toà án có thẩm quyền giải quyết lại vụ án
2.2 Chủ thể
Theo quy định tại điểm d Khoản 1 Điều 57 và Điều 278 BLTTDS năm 2015, chủ thể có thẩm quyền kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm đối với bản án, quyết định giải quyết vụ việc dân sự của TAND chỉ thuộc về Viện trưởng VKSND cùng cấp hoặc Viện trưởng VKSND cấp trên trực tiếp của Tòa án đã giải quyết vụ việc dân sự đó theo thủ tục sơ thẩm
2.3 Đối tượng, phạm vi
Theo quy định của BLTTDS thì một trong số những hoạt động của tòa án là kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm bán án, quyết định của toà án sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật (quyết định tạm đình chỉ, quyết định đình chỉ)
Như vậy kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm là “hoạt động tố tụng của VKS theo quy định cảu pháp luật trong việc phản đối bản án, quyết định của toà
án cấp sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật đề nghị toà án cấp trên trực tiếp xét xử lại vụ án”
2.4 Thời hạn và hình thức
2.4.1 Về thời hạn kháng nghị
Trang 6Thời hạn kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm của VKSND được quy định tại điều 280 BLTTDS 2015
“1 Thời hạn kháng nghị đối với bản án của Tòa án cấp sơ thẩm của Viện kiểm sát cùng cấp là 15 ngày, của Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp là 01 tháng, kể từ ngày tuyên án Trường hợp Kiểm sát viên không tham gia phiên tòa thì thời hạn kháng nghị tính từ ngày Viện kiểm sát cùng cấp nhận được bản án.
2 Thời hạn kháng nghị của Viện kiểm sát cùng cấp đối với quyết định tạm đình chỉ, quyết định đình chỉ giải quyết vụ án của Tòa án cấp sơ thẩm là 07 ngày, của Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp là 10 ngày, kể từ ngày Viện kiểm sát cùng cấp nhận được quyết định.
3 Khi Tòa án nhận được quyết định kháng nghị của Viện kiểm sát mà quyết định kháng nghị đó đã quá thời hạn quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này thì Tòa án cấp sơ thẩm yêu cầu Viện kiểm sát giải thích bằng văn bản và nêu rõ lý do”.
2.4.2 Về hình thức kháng nghị
Kháng nghị của VKS dưới hình thức văn bản gọi là quyết định kháng nghị Quyết định kháng nghị của VKS được gửi cho Toá án cấp sơ thẩm đã ra bản
án, quyết định bị kháng nghị Nội dung của quyết định kháng nghị được quy định tại khoản 1 Điều 279 BLTTDS năm 2015
II Đặt tình huống và giải quyết
1 Tình huống
Nguyên đơn: Ngân Hàng T Địa chỉ: Quận G, Thành Phố H
Bị đơn: Anh Nguyễn Văn A (1985) Địa chỉ: Huyện X, tỉnh Y
Năm 2018, Anh Nguyễn Văn A (1985) có địa chỉ tại Huyện X, tỉnh Y là một
hộ kinh doanh về nuôi trồng các loại cây ăn quả, vì thiếu một số vốn để chuẩn
bị cho mùa vụ sau nên anh có đến vay tiền tại Ngân Hàng T Anh A đã vay ngân hàng một tỷ đồng, thời hạn vay là 12 tháng kể từ ngày 2/1/2018 đến
4
Trang 7ngày 2/1/2019 với lãi suất 1,7%/năm Hai bên đã thực hiện kí kết hợp đồng vay tài sản giữa anh A và Ngân hàng T
Vào ngày 1/3/2019 khi đã quá hạn trả số tiền vay nhưng vẫn không thấy Anh
A đem tiền tới trả mặc dù đã liên lạc rất nhiều nhưng vẫn không thấy anh A phản hồi Vì vậy Ngân hàng T đã gửi đơn khởi kiện anh A lên tòa án nhân dân huyện X và trong đơn khởi kiện của ngân hàng đã ghi đầy đủ và đúng địa chỉ của anh A theo địa chỉ được ghi trong hợp đồng vay giữa anh A và ngân hàng T Vụ án được Tòa án nhân dân huyện X thụ lý ngày 15/03/2019 về giải
quyết vụ án “Tranh chấp về hợp đồng vay tài sản” giữa nguyên đơn Ngân
hàng T và bị đơn Anh Nguyễn Văn A Ngân hàng T đã nộp đầy đủ và đúng thời hạn tiền tạm ứng án phí sơ thẩm theo quy định của pháp luật Ngân hàng
T đã giao nộp tài liệu, chứng cứ là các loại giấy tờ, văn bản pho to (có công chứng) có liên quan đến việc anh A vay tiền đến Tòa án
Trong quá trình giải quyết vụ án, tòa án nhân dân huyện X đã phát hiện anh
A không còn ở địa chỉ được ghi trong hợp đồng vay tài sản giữa ngân hàng T
và anh A, cũng như trong đơn khởi kiện của ngân hàng T khởi kiện anh A và ngân hàng T cũng không được A cho biết về việc thay đổi địa chỉ này Vì vậy, TAND huyện X xác định ngân hàng T không cung cấp được địa chỉ mới của
bị đơn anh Nguyễn Văn A nên ngày 5/4/2019 căn cứ theo điểm h khoản 1 điều 217 BLTTDS năm 2015,điểm c khoản 2 Điều 6 Nghị quyết 04/2017 Nghị quyết số 04/2017/NQ-HĐTP ngày 05/5/2017 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao đã ra quyết định đình chỉ vụ án dân sự sơ thẩm số 02/2019/QĐST-DS
Nhận thấy, quyết định đình chỉ giải quyết vụ án của Tòa án nhân dân huyện
X có vi phạm trong việc áp dụng pháp luật ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự, ngày 10/4/2019 VKS huyện X đã kháng nghị phúc thẩm số 110/QĐKNPT-VKS-DS đối với quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự sơ thẩm số 02/2019/QĐST –DS chưa có hiệu lực pháp luật của Tòa án huyện X
Trang 82 Yêu cầu cần giải quyết
1 Xác định căn cứ để đình chỉ giải quyết vụ án và nêu hậu quả pháp lý của việc đình chỉ giải quyết trong vụ án nêu trên?
2 Trong trường hợp nào thì đương sự được quyền khởi kiện lại vụ án trên?
3 Bình luận hoặc đưa ra hướng giải quyết của nhóm đối với vụ án nêu trên?
3 Giải quyết yêu cầu
3.1 Xác định căn cứ để đình chỉ giải quyết vụ án và nêu hậu quả pháp lý của việc đình chỉ giải quyết trong vụ án nêu trên
- Căn cứ: Vụ án trên được TAND huyện X xác định Ngân hàng T không cung cấp được địa chỉ mới của bị đơn anh A nên căn cứ theo điểm h khoản 1 điều 217 BLTTDS năm 2015, điểm c khoản 2 Điều 61 Nghị quyết 04/2017 Nghị quyết số 04/2017/NQ-HĐTP ngày 05/5/2017 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao ra quyết định đình chỉ vụ án
- Căn cứ điều 218 BLTTDS 2015 về hậu quả pháp lý của việc đình chỉ giải quyết vụ án trên:
+ Căn cứ khoản 1 điều này, điểm d khoản 3 Điều 192 BLTTDS, điểm c khoản 3 Điều 72 Nghị quyết số 04/2017/NQ-HĐTP ngày 05/5/2017 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thì đương sự có quyền khởi kiện lại trong vụ án trên
+ Về tiền tạm ứng án phí mà đương sự đã nộp: Khoản 3 Điều 218 có quy
định “Trường hợp Tòa án ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự do người khởi kiện rút toàn bộ yêu cầu khởi kiện quy định tại điểm c và trường
1 “ Trường hợp không thuộc điểm a, b khoản 2 Điều này mà Tòa án đã yêu cầu nguyên đơn cung cấp địa chỉ mới của bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan nhưng nguyên đơn không cung cấp được thì
có quyền yêu cầu Tòa án thu thập, xác minh địa chỉ mới của bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan theo quy định của pháp luật Trường hợp Tòa án không xác định được địa chỉ mới của bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan thì Tòa án đình chỉ việc giải quyết vụ án theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 217 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, trừ trường hợp hướng dẫn tại khoản 3 Điều này.”
2
“ Trường hợp quy định tại khoản 4 Điều 6 Nghị quyết này” (khoản 4 Điều 6: Trường hợp vụ án bị đình chỉ giải quyết theo hướng dẫn tại điểm c khoản 2 Điều này thì theo quy định tại điểm d khoản 3 Điều
192 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, người khởi kiện có quyền khởi kiện lại vụ án đó khi cung cấp được đầy đủ và đúng địa chỉ nơi cư trú, làm việc hoặc nơi có trụ sở của người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.)
6
Trang 9hợp khác quy định tại các điểm d, đ, e và g khoản 1 Điều 217 của Bộ luật này thì tiền tạm ứng án phí mà đương sự đã nộp được trả lại cho họ.” Theo quy
định này thì đương sự trong vụ án trên không được trả lại tiền tạm ứng án phí
mà mình đã nộp
3.2 Trong trường hợp nào thì đương sự được quyền khởi kiện lại vụ án nêu trên?
Căn cứ điểm c khoản 3 Điều 7 và khoản 4 Điều 6 Nghị quyết số 04/2017/ NQ-HĐTP ngày 05/5/2017 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao
có quy định về trường hợp đương sự có quyền khởi kiện lại như sau: “ Trường hợp vụ án bị đình chỉ giải quyết theo hướng dẫn tại điểm c khoản 2 Điều này thì theo quy định tại điểm d khoản 3 Điều 192 Bộ luật tố tụng dân sự năm
2015, người khởi kiện có quyền khởi kiện lại vụ án đó khi cung cấp được đầy
đủ và đúng địa chỉ nơi cư trú, làm việc hoặc nơi có trụ sở của người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.”
Như vậy ngân hàng có quyền khởi kiện lại vụ án khi cung cấp được đầy
đủ và đúng địa chỉ nơi cư trú của bị đơn là anh A
3.3 Bình luận hoặc đưa ra hướng giải quyết của nhóm đối với vụ án nêu trên?
Trong quá trình nghiên cứu tình huống thì nhóm đã nhận thấy Tòa án huyện X đã có những vi phạm về thủ tục tố tụng như sau:
Toà án nhân dân huyện X xác định Ngân hàng T không cung cấp được địa chỉ mới của bị đơn anh Nguyễn Văn A nên căn cứ theo điểm h khoản 1 Điều
217 BLTTDS năm 2015 đã ra quyết định đình chỉ vụ án là không đúng quy định của pháp luật, bởi lẽ Toà án nhân dân huyện X sau khi nhận đơn khởi kiện đã xác định có hợp đồng vay tài sản giữa Ngân hàng T với ông Nguyễn Văn A, xác định bị đơn ông Nguyễn Văn A có địa chỉ tại khu M, xã N đúng như địa chỉ được ghi trong hợp đồng vay tài sản giữa Ngân hàng T và anh A, cũng như trong đơn khởi kiện của Ngân hàng T khởi kiện anh A Anh A đã
Trang 10thay đổi nơi cư trú, hiện không có mặt tại địa phương và không thông báo việc thay đổi nơi cư trú cho Ngân hàng T biết, trường hợp này được coi là cố tình giấu địa chỉ
Quá trình nộp đơn khởi kiện, Ngân hàng T đã ghi đúng và đầy đủ địa chỉ của bị đơn như địa chỉ ghi trong hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng, sau khi vay
nợ, bị đơn trốn tránh không thực hiện nghĩa vụ trả nợ, trốn tránh không thông báo cho Ngân hàng biết Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án không tiến hành
mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, không hướng dẫn Ngân hàng yêu cầu Tòa án thu thập, xác minh địa chỉ mới của bị đơn, mà trong quyết định đình chỉ của Tòa án ghi là Ngân hàng không cung cấp được địa chỉ mới là không đúng thực tế, ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền lợi của Ngân hàng
Theo đó thì việc Tòa án huyện X đã quyết định đình chỉ vụ án sơ thẩm là không có căn cứ pháp luật và vi phạm quy định tại điểm e khoản 1 điều 192
BLTTDS 2015 quy định “Trường hợp trong đơn khởi kiện, người khởi kiện
đã ghi đầy đủ và đúng địa chỉ nơi cư trú của người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan nhưng họ không có nơi cư trú ổn định, thường xuyên thay đổi nơi cư trú, trụ sở mà không thông báo địa chỉ mới cho cơ quan, người có thẩm quyền theo quy định của pháp luật về cư trú làm cho người khởi kiện không biết được nhằm mục đích che giấu địa chỉ, trốn tránh nghĩa
vụ đối với người khởi kiện thì Thẩm phán không trả lại đơn khởi kiện mà xác định người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan cố tình giấu địa chỉ và tiến hành thụ lý, giải quyết theo thủ tục chung” và điểm a khoản 2 điều
6 Nghị quyết số 04/2017/NQ-HĐTP ngày 05/5/2017 của Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân tối cao hướng dẫn một số quy định tại khoản 1 và khoản 3 điều 192 BLTTDS số 92/2015/QH13 về trả lại đơn khởi kiện, quyền nộp đơn khởi kiện lại vụ án quy định: “2 Trường hợp sau khi thụ lý vụ án, Tòa án không tống đạt được thông báo về việc thụ lý vụ án do bị đơn, người có
8