1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tố Tụng Dân Sự Sưu Tầm Hoặc Xây Dựng Một Vụ Án Về Tranh Chấp Lao Động Trong Đó Có Yêu Cầu Phản Tố Của Bị Đơn Hoặc Yêu Cầu Độc Lập Của Người Có Quyền Lợi, Nghĩa Vụ Liên Quan..docx

24 8 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tố Tụng Dân Sự Về Tranh Chấp Lao Động Có Yêu Cầu Phản Tố
Trường học Trường Đại Học Luật Hà Nội
Chuyên ngành Luật Dân Sự
Thể loại Bài tập nhóm
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 24
Dung lượng 45,91 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

MỤC LỤC DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT 6 PHẦN MỞ ĐẦU 1 PHẦN NỘI DUNG 2 1 Khái quát chung 2 1 1 Vụ án dân sự 2 1 2 Tranh chấp lao động 2 1 3 Yêu cầu phản tố 3 2 Giải quyết tình huống 5 2 1 Tình huống 5 2 2 Giải[.]

Trang 1

MỤC LỤC

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT 6

PHẦN MỞ ĐẦU 1

PHẦN NỘI DUNG 2

1 Khái quát chung 2

1.1 Vụ án dân sự 2

1.2 Tranh chấp lao động 2

1.3 Yêu cầu phản tố 3

2 Giải quyết tình huống 5

2.1 Tình huống 5

2.2 Giải quyết các yêu cầu 7

3 Thực trạng và kiến nghị 17

3.1 Thực trạng giải quyết vụ án tranh chấp lao động của Tòa án 17

3.2 Kiến nghị 20

PHẦN KẾT LUẬN 21

TÀI LIỆU THAM KHẢO 22

Trang 3

PHẦN MỞ ĐẦU

Lao động là một hoạt động thường xuyên và chủ yếu của mỗi người Các chủthể trong quá trình lao động đã thiết lập với nhau mối quan hệ lao động, mốiquan hệ này rất gần gũi và phổ biến trong đời sống Tuy nhiên, không phải lúcnào mối quan hệ này cũng diễn ra bình thường, tuân thủ theo đúng quy định củapháp luật mà trong nhiều trường hợp, quan hệ lao động cũng xảy ra những tranhchấp giữa các chủ thể tham gia vào quan hệ lao động Tranh chấp lao động làmột tranh chấp phổ biến, theo quy định của pháp luật về lao động nói riêng vàpháp luật về dân sự nói chung, để giải quyết các tranh chấp này có nhiều cáchkhác nhau, trong đó có con đường giải quyết tranh chấp lao động thông qua tòa

án Tranh chấp về lao động có thể chỉ có yêu cầu xuất phát từ một bên, nhưngcũng có những trường hợp ngoài yêu cầu của nguyên đơn thì phía bị đơn cũng

có yêu cầu phản tố Vậy trong trường hợp này, tòa án sẽ phải giải quyết như thếnào? Việc giải quyết đúng đắn các tranh chấp về lao động nói riêng và tranhchấp dân sự nói chung có ý nghĩa rất quan trọng trong việc bảo vệ quyền và lợiích hợp pháp của các cá nhân, cơ quan, tổ chức

Xuất phát từ tính cấp thiết đó, nhóm đã xây dựng một vụ án tranh chấp về laođộng, trong đó có yêu cầu phản tố của bị đơn để làm đề tài bài báo cáo bài tậpnhóm Thông qua tình huống nhóm xây dựng, nhóm làm rõ các vấn đề xoayquanh việc giải quyết một vụ án tranh chấp về lao động như xác định tư cách tốtụng của đương sự, xác định yêu cầu phản tố của bị đơn, giải quyết các tìnhhuống thường gặp trong tố tụng như triệu tập nhưng nguyên đơn vắng mặt vàđưa ra hướng giải quyết cụ thể cho vụ án trên Từ việc nghiên cứu các vấn đềmang tính pháp lý, nhóm đưa ra thực tiễn áp dụng pháp luật trong việc giảiquyết các tranh chấp lao động bằng tòa án và đưa ra các kiến nghị khắc phụcnhững điểm hạn chế còn tồn tại

1

Trang 4

Khởi kiện VADS được hiểu là việc cơ quan, tổ chức, cá nhân trong phạm viquyền hạn của mình yêu cầu Tòa án có thẩm quyền bảo vệ quyền, lợi ích hợppháp của mình hay của người khác, lợi ích công cộng, lợi ích Nhà nước thuộclĩnh vực cơ quan, tổ chức của mình phụ trách khi quyền, lợi ích hợp pháp đó bịxâm phạm hoặc có tranh chấp Khởi kiện VADS có ý nghĩa rất quan trọng trongquá trình giải quyết VADS, nó là phương tiện hữu hiệu để bảo vệ các quyền conngười, quyền cơ bản của công dân.1

1.2 Tranh chấp lao động

Căn cứ khoản 1 Điều 179 Bộ luật lao động 2019 quy định: “Tranh chấp lao động là tranh chấp về quyền và nghĩa vụ, lợi ích phát sinh giữa các bên trong quá trình xác lập, thực hiện hoặc chấm dứt quan hệ lao động; tranh chấp giữa các tổ chức đại diện người lao động với nhau; tranh chấp phát sinh từ quan hệ

có liên quan trực tiếp đến quan hệ lao động”.

Một tranh chấp được xem là TCLĐ khi thỏa mãn 02 dấu hiệu:

1 Trường Đại học Kiểm sát Hà Nội, Giáo trình luật tố tụng dân sự Việt Nam, PGS.TS Vũ Thị Hồng Vân (chủ

biên), Nxb Chính trị quốc gia sự thật, Hà Nội, 2019, tr.299

2

Trang 5

Đối tượng của TCLĐ là các quyền, nghĩa vụ và lợi ích phát sinh trong quan hệlao động Tranh chấp không liên quan đến các quyền, nghĩa vụ và lợi ích phátsinh từ quan hệ lao động thì không phải là TCLĐ.

TCLĐ phát sinh giữa NSDLĐ với cá nhân hoặc tập thể lao động Nói cách khác,chủ thể của TCLĐ cũng chính là chủ thể của quan hệ lao động

TCLĐ được phân loại thành: TCLĐ cá nhân (là TCLĐ giữa NLĐ với NSDLĐ)

và TCLĐ tập thể (là TCLĐ giữa tập thể lao động với NSDLĐ)

1.3 Yêu cầu phản tố

1.3.1 Khái niệm

Phản tố là quyền của bị đơn trong VADS, thực chất việc phản tố của bị đơn làviệc bị đơn khởi kiện ngược lại người đã kiện mình (tức là kiện ngược trở lại vớiyêu cầu khởi kiện của nguyên đơn), nhưng được xem xét, giải quyết cùng vớiđơn khởi kiện của nguyên đơn trong vụ án vì việc giải quyết yêu cầu của hai bên

có yêu cầu chặt chẽ với nhau Yêu cầu phản tố của bị đơn chỉ phát sinh khi cóviệc nguyên đơn kiện bị đơn và Toà án có thẩm quyền thụ lý vụ việc đối với yêucầu của nguyên đơn, sau đó bị đơn cũng cho rằng quyền và lợi ích của mình bịxâm phạm và có đơn yêu cầu toà án giải quyết những vấn đề có liên quan đếnyêu cầu của nguyên đơn trong cùng một VADS Tức là, khi bị khởi kiện trongmột VADS, bị đơn có quyền đưa ra ý kiến hoặc yêu cầu phản tố

Như vậy, quyền được đưa ra yêu cầu phản tố của bị đơn được quy định tại

khoản 1 Điều 200 của BLTTDS năm 2015 như sau: “Cùng với việc phải nộp cho Tòa án văn bản ghi ý kiến của mình đối với yêu cầu của nguyên đơn, bị đơn

có quyền yêu cầu phản tố đối với nguyên đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập.”

1.3.2 Đặc điểm của quyền yêu cầu phản tố

Thứ nhất, quyền yêu cầu phản tố phát sinh sau khi Tòa án đã thụ lý vụ án.

3

Trang 6

Thứ hai, phản tố là việc bị đơn yêu cầu Tòa án giải quyết một vấn đề khác với

yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, yêu cầu độc lập của người có quyền lợi,nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập

Thứ ba, quyền yêu cầu phản tố là quyền đặc thù của bị đơn.

Thứ tư, chủ thể bị yêu cầu phản tố là nguyên đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ

liên quan có yêu cầu độc lập.2

1.3.3 Thời hạn nộp yêu cầu phản tố

Theo quy định tại khoản 3 Điều 200 BLTTDS năm 2015 thì “Bị đơn có quyền đưa ra yêu cầu phản tố trước thời điểm mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải”.

Về việc đưa ra ý kiến bằng văn bản của bị đơn với yêu cầu khởi kiện của nguyênđơn Đây là quyền của bị đơn, do đó bị đơn có thể thực hiện hoặc không

Quy định bị đơn chỉ có quyền đưa ra yêu cầu phản tố trước thời điểm mở phiênhọp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải là một quyđịnh hoàn toàn mới của BLTTDS năm 2015 Bởi vì thực tiễn giải quyết cácVADS nói chung trước đây theo BLTTDS năm 2004 thì nhiều trường hợp bịđơn không đưa ra yêu cầu phản tố ngay từ đầu mà có khi đưa ra yêu cầu phản tốtrong thời gian chuẩn bị xét xử, có khi bị đơn đưa ra yêu cầu phản tố tại phiêntòa làm cho thời gian giải quyết vụ án kéo dài và làm tăng tính phức tạp của bị

án Tuy nhiên, điểm hạn chế của BLTTDS năm 2015 là không quy định rõ bịđơn có quyền đưa ra yêu cầu phản tố trước thời điểm mở phiên họp kiểm traviệc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải lần thứ mấy Vì một vụ

án có thể mở nhiều phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng

cứ và hòa giải khác nhau Điều này dẫn đến tình trạng áp dụng pháp luật khôngkhông nhất giữa các Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án, đôi khi là sự

“lách luật” để có thể xem xét thụ lý yêu cầu phản tố của bị đơn trong trường hợp

2 Xem: Nguyễn Ngọc Sơn, Quyền yêu cầu phản tố của bị đơn trong pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam, Luận

văn Thạc sĩ, 2020

4

Trang 7

bị đơn đưa ra yêu cầu phản tố sau thời điểm mở phiên họp kiểm tra việc giaonộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải lần thứ nhất.3

2 Giải quyết tình huống

2.1 Tình huống

Ngày 15/06/2021, TAND huyện C tỉnh D tiếp nhận đơn khởi kiện của ôngNguyễn Văn A, có địa chỉ thường trú tại Huyện G tỉnh D Trong đơn khởi kiệnông A trình bày như sau:

“Ông A là nhân viên kĩ thuật của công ty B (trụ sở tại huyện C tỉnh D) Vàotháng 10/2020 công ty có nhu cầu mua máy cho dây chuyền sản xuất và có giaonhiệm vụ cho ông A tìm kiếm các nhà cung cấp máy, báo giá, Ông A đã hoànthành các nhiệm vụ theo yêu cầu của lãnh đạo công ty như: Lấy báo giá, phântích ưu khuyết điểm của từng nhà cung cấp theo yêu cầu, thậm chí ông A còncảnh báo trước là máy có xuất xứ Trung Quốc thường hoạt động không ổn định

và có tư vấn cho công ty nên mua máy có xuất xứ Đài Loan nhưng công ty chọnmua máy Trung Quốc Tuy nhiên đến 05/01/2021, sau khi công ty nhập máy vềthì gặp vấn đề trục trặc kĩ thuật nên quy trách nhiệm lỗi chính cho ông A và sau

đó ra quyết định xử lý kỷ luật bằng hình thức sa thải, có hiệu lực vào01/04/2021”

Không đồng ý với quyết định xử lý kỷ luật lao động theo hình thức sa thải củacông ty B, vào ngày 15/06/2021 ông Nguyễn Văn A đã gửi khởi kiện công ty Bđến TAND huyện C tỉnh D yêu cầu công ty B bồi thường thiệt hại; hủy quyếtđịnh sa thải đối với ông A và nhận ông vào làm trở lại tại công ty Kèm theo đơnkhởi kiện, ông A cung cấp thêm đến TAND huyện C tỉnh D các hồ sơ, chứng cứbao gồm: hợp đồng lao động của ông A và công ty B; biên bản xử lý kỷ luật laođộng bằng hình thức kỷ luật; các biên bản phân công nhiệm vụ của công ty Bcho ông A về việc tìm nhà cung cấp máy cho công ty; các văn bản làm việc củaông A với nhà cung cấp máy về chất lượng, giá cả, xuất xứ máy ; văn bản báo

3 Dương Tấn Thanh, Yêu cầu phản tố theo Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 và vướng mắc trong thực tiễn, Cổng

thông tin điện tử Bộ Tư pháp, https://moj.gov.vn/ , 30/08/2019

5

Trang 8

cáo nhiệm vụ của ông A về việc thực hiện nhiệm vụ của công ty bao gồm: bảngđánh giá chất lượng sản phẩm kèm báo giá, bảng phân tích ưu nhược điểm củacác loại máy, văn bản đề xuất nên mua máy có xuất xứ Đài Loan và văn bảnquyết định nhập máy xuất xứ Trung Quốc của công ty B

Sau khi tiếp nhận đơn khởi kiện, TAND huyện C tỉnh D đã cấp giấy xác nhận đãnhận đơn cho ông A Ngày 17/06/2021 Chánh án TAND huyện C tỉnh D phâncông Thẩm phán Lê Văn H xem xét đơn khởi kiện Ngày 21/06/2021 TANDhuyện C tỉnh D ra quyết định thụ lý VADS Ngay sau đó, vào ngày 23/06/2021,TAND huyện C đã gửi thông báo bằng văn bản cho ông A về việc thụ lý đơnkhởi kiện và yêu cầu ông nộp tiền tạm ứng án phí Ngày 28/06/2021 ông A nộptiền tạm ứng án phí và nộp cho Tòa án biên lai thu tiền tạm ứng án phí Ngày30/06/2021 TAND huyện C tỉnh D thông báo bằng văn bản đến ông NguyễnVăn A, công ty B và VKSND huyện C tỉnh D về việc thụ lý đơn khởi kiện củaông Nguyễn Văn A Ngày 02/07/2021, Chánh án TAND huyện C tỉnh D phâncông Thẩm phán Ngô Văn T là con nuôi của ông Nguyễn Văn A để giải quyết

vụ án TCLĐ giữa ông A và công ty B

Ngày 12/07/2021, công ty B đã nộp cho TAND huyện C văn bản ý kiến về yêucầu khởi kiện của nguyên đơn là ông Nguyễn Văn A Ông Trần Văn E đại diệncông ty B trình bày trong văn bản ý kiến như sau: “năm 2020, công ty có chủtrương mua máy móc, thiết bị để hỗ trợ nâng cấp hệ thống máy sản xuất và giaocho ông A làm việc với các nhà cung cấp về giá cả, thông số kỹ thuật Tuynhiên, ông A đã không thực hiện hết trách nhiệm của mình nên trong quá trìnhcho máy vận hành đã xảy ra nhiều trục trặc và không hoạt động được; trong khi,chi phí mà công ty bỏ ra mua máy, trang thiết bị hơn 760 triệu đồng Công tyxác định lỗi chính trong vấn đề này là của ông A nên tiến hành xử lý kỷ luật và

ra quyết định sa thải ông vì có hành vi thiếu trách nhiệm, không thực hiện đúngnhiệm vụ được giao, gây thiệt hại về tài sản cho công ty Ngoài việc không đồng

ý nội dung đơn khởi kiện trên, công ty còn có đơn phản tố đề nghị tòa án buộcông A phải bồi thường cho công ty số tiền hơn 456 triệu đồng (60% giá trị hợp

6

Trang 9

đồng mua máy)” Kèm theo văn bản nêu ý kiến và đơn phản tố, công ty B đãgiao nộp cho TAND các tài liệu chứng cứ, bao gồm: văn bản phân công nhiệm

vụ cho ông Nguyễn Văn A chịu trách nhiệm tìm nhà cung cấp máy cho công ty,cung cấp thông số kĩ thuật và báo giá cho công ty; biên bản xử lý kỷ luật laođộng bằng hình thức sa thải của công ty B đối với ông A; văn bản quyết địnhnhập máy xuất xứ Trung Quốc của công ty B; hợp đồng mua bán máy giữa công

ty B và nhà cung cấp máy

Đối với yêu cầu phản tố của công ty B, TAND huyện C tỉnh D cho rằng khôngthuộc các trường hợp quy định tại Khoản 2 Điều 200 BLTTDS năm 2015, do đóTAND huyện C tỉnh D quyết định không chấp nhận yêu cầu phản tố của công ty

B

*Yêu cầu

1 Xác định tư cách tham gia tố tụng của đương sự trong vụ án?

2 Xác định yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và yêu cầu phản tố của bị đơn?

3 Nêu hướng xử lý trong trường hợp Toà án triệu tập hợp lệ lần thứ hai mànguyên đơn trong vụ án vẫn vắng mặt?

4 Nhận xét về trình tự thủ tục tiếp nhận và thụ lý đơn khởi kiện của TANDhuyện C tỉnh D đối với đơn khởi kiện của ông A và quyết định không chấpnhận yêu cầu phản tố của công ty B? Đưa ra hướng giải quyết đối với vụ án?

2.2 Giải quyết các yêu cầu

2.2.1 Xác định tư cách tham gia tố tụng của đương sự trong vụ án?

Theo quy định tại điều 68 BLTTDS năm 2015, đương sự trong VADS lao động

được hiểu là: Đương sự trong vụ án dân sự là cơ quan, tổ chức, cá nhân bao gồm nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.

Trong vụ án trên, các đương sự được xác định bao gồm nguyên đơn và bị đơn

 Nguyên đơn trong vụ án trên được xác định là ông Nguyễn Văn A

7

Trang 10

Theo quy định tại khoản 2 Điều 68 BLTTDS 2015 thì nguyên đơn trong vụ ándân được hiểu là người khởi kiện hay người được cá nhân, cơ quan, tổ chức doBLTTDS quy định khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết VADS khi cho rằngquyền và lợi ích hợp pháp của họ bị xâm phạm, nguyên đơn trong VADS còn là

cơ quan, tổ chức khởi kiện để yêu cầu Tòa án bảo vệ lợi ích công cộng, lợi íchNhà nước thuộc lĩnh vực mà mình phụ trách Việc tham gia tố tụng của nguyênđơn mang tính chủ động hơn so với các đương sự khác Hoạt động tố tụng củanguyên đơn có thể dẫn đến việc làm phát sinh, thay đổi hay đình chỉ tố tụng.Trong trường hợp trên ta thấy ông Nguyễn Văn A không đồng ý với quyết định

xử lý kỷ luật lao động theo hình thức sa thải của công ty B, vào ngày 12/4/2021ông đã gửi khởi kiện công ty B đến TAND huyện C tỉnh D yêu cầu công ty Bbồi thường thiệt hại và hủy quyết định sa thải đối với mình, nhận ông A trở lạilàm việc Ở đây ông Nguyễn Văn A cho rằng quyền lợi của mình bị xâm hại và

đã tiến hành khởi kiện nên được xác định là nguyên đơn

 Bị đơn trong vụ án trên được xác định là Công ty B

Theo quy định tại khoản 3 Điều 68 BLTTDS 2015: “Bị đơn trong VADS là người bị nguyên đơn khởi kiện hoặc bị cơ quan, tổ chức, cá nhân khác do Bộ luật này quy định khởi kiện để yêu cầu Tòa án giải quyết VADS khi cho rằng quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn bị người đó xâm phạm”.

Như vậy, để được xác định tư cách bị đơn cần có các đặc điểm sau:

- Là người bị nguyên đơn hoặc cá nhân, cơ quan, tổ chức có thẩm quyềntheo quy định của BLTTDS khởi kiện

- Bị đơn là người được giả thiết là có tranh chấp hay xâm phạm đến quyềnlợi của nguyên đơn

Trong tình huống trên ta thấy công ty B bị ông Nguyễn Văn A khởi kiện vì chorằng quyết định xử lý kỷ luật lao động bằng hình thức sa thải của công ty B xâm

8

Trang 11

phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của mình vì vậy đã thõa mãn các đặc điểmnêu trên nên được xác định là bị đơn.

Lưu ý: Ông Trần Văn E được xác định là người đại diện của bị đơn Đại diệntheo pháp luật của bị đơn có những quyền được quy định tại Điều 70 và Điều 72BLTTDS 2015

2.2.2 Xác định yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và yêu cầu phản tố của bị đơn?

Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn

Tại khoản 1, điều 5, BLTTDS 2015 có quy định như sau: “Đương sự có quyền quyết định việc khởi kiện, yêu cầu Tòa án có thẩm quyền giải quyết vụ việc dân

sự Tòa án chỉ thụ lý giải quyết vụ việc dân sự khi có đơn khởi kiện, đơn yêu cầu của đương sự và chỉ giải quyết trong phạm vi đơn khởi kiện, đơn yêu cầu đó.”

Theo đó việc xác định yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn có ý nghĩa quan trọnggiúp tòa án xác định phạm vi khởi kiện để tiến hành giải quyết

Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn trong tình huống trên là: Yêu cầu giải quyết

TCLĐ giữa công ty B đối với ông Nguyễn Văn A, về việc xử lý kỷ luật sa thảitrái quy định pháp luật, yêu cầu cụ thể trong đơn khởi kiện là: một là bồi thườngthiệt hại do hành vi xử lý kỷ luật lao động bằng hình thức sa thải gây ra và nhậnông A trở lại làm việc, hai là hủy bỏ quyết định xử lý kỷ luật lao động bằng hìnhthức sa thải

Yêu cầu phản tố của bị đơn

Quyền được đưa ra yêu cầu phản tố của bị đơn được quy định tại khoản 1 Điều

200 của BLTTDS năm 2015 như sau: “Cùng với việc phải nộp cho Tòa án văn bản ghi ý kiến của mình đối với yêu cầu của nguyên đơn, bị đơn có quyền yêu cầu phản tố đối với nguyên đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập.” Nghĩa là sau khi nhận được Thông báo về việc thụ lý vụ án của

Tòa án hoặc sau khi nhận được thông báo về việc thụ lý đơn yêu cầu độc lập của

9

Trang 12

Tòa án, bị đơn có quyền đưa ra yêu cầu phản tố đối với nguyên đơn hoặc đối vớingười có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập

Xét trong tình huống trên yêu cầu phản tố được xác định là: Cty B có đơn phản

tố đề nghị tòa án buộc ông A phải bồi thường cho Cty số tiền hơn 456 triệu đồng(60% giá trị hợp đồng mua máy)

2.2.3 Hướng xử lý trong trường hợp Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà nguyên đơn trong vụ án vẫn vắng mặt

Về nguyên tắc, để giải quyết đúng đắn và khách quan các yêu cầu củađương sự, đồng thời bảo đảm cho việc tiến hành phiên tòa được thực hiện theophương thức xét xử trực tiếp, liên tục, bằng lời nói thì khi Tòa án mở phiên tòaxét xử vụ án những người tham gia tố tụng phải được triệu tập tham gia phiêntòa mà một trong những người quan trọng nhất phải có mặt đó là nguyên đơn và

bị đơn trong vụ án đó Tuy nhiên, có một số trường hợp nguyên đơn vắng mặttại phiên tòa khi tòa án đã triệu tập hợp lệ lần thứ hai thì hướng xử lý như nào? Trong tình huống trên, nguyên đơn được xác định là ông Nguyễn Văn A,khi được Tòa Án triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vẫn vắng mặt thì căn cứ theoquy định tại khoản 2 Điều 227 BLTTDS 2015 có các hướng giải quyết như sau:

- Nếu ông Nguyễn Văn A có đơn đề nghị xét xử vắng mặt thì Tòa án sẽ xét

xử vắng mặt ông A Thủ tục xét xử vắng mặt được thực hiện theo quy định cụthể tại Điều 138 BLTTDS năm 2015

- Nếu ông Nguyễn Văn A vì lý do sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngạikhách quan thì Tòa án có thể hoãn phiên tòa Sự kiện bất khả kháng là sự kiệnxảy ra một cách khách quan không thể lường trước được và không thể khắcphục được mặc dù đã áp dụng mọi biện pháp cần thiết và khả năng chophép.4Trở ngại khách quan là những trở ngại do hoàn cảnh khách quan tác độnglàm cho người có quyền, nghĩa vụ dân sự không thể biết về việc quyền, lợi ích

4 Khoản 1 điều 156 BLDS năm 2015

10

Ngày đăng: 08/03/2023, 10:23

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w