MỤC LỤ C DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT 1 PHẦN MỞ ĐẦU 1 PHẦN NỘI DUNG 1 I Khái quát chung về nạn nhân của tội phạm 1 1 Khái niệm, đặc điểm, ý nghĩa của nghiên cứu nạn nhân 1 2 Phân loại nạn nhân 2 3 Vai trò của[.]
Trang 1MỤC LỤ
C
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT 1
PHẦN MỞ ĐẦU 1
PHẦN NỘI DUNG 1
I Khái quát chung về nạn nhân của tội phạm 1
1 Khái niệm, đặc điểm, ý nghĩa của nghiên cứu nạn nhân 1
2 Phân loại nạn nhân 2
3 Vai trò của nạn nhân trong quá trình phát sinh tội phạm 3
II Bình luận về ý kiến “Để hạn chế thấp nhất nguy cơ trở thành nạn nhân của TP thì biện pháp quan trọng nhất là thay đổi căn bản những đặc điểm tâm lí, lối sống, thói quen tiêu cực của cá nhân” 4
1 Nguyên nhân trở thành nạn nhân của tội phạm 4
a Yếu tố chủ quan 4
b Yếu tố khách quan 4
2 Chứng minh ý kiến “Để hạn chế thấp nhất nguy cơ trở thành nạn nhân của TP thì biện pháp quan trọng nhất là thay đổi căn bản những đặc điểm tâm lí, lối sống, thói quen tiêu cực của cá nhân” là chính xác 5
a Xuất phát từ vai trò của nạn nhân đối với nguyên nhân của tội phạm 5
b Xuất phát từ vai trò của các yếu tố chủ quan của cá nhân trong việc nạn nhân hóa 6
c Khả năng thay đổi đặc điểm tâm lý, lối sống, thói quen tiêu cực so với các đặc điểm khác 14
d Về hiệu quả của việc thay đổi đặc điểm tâm lý, lối sống, thói quen tiêu cực 15
3 Biện pháp thay đổi căn bản những đặc điểm tâm lí, lối sống, thói quen tiêu cực của cá nhân .16 PHẦN KẾT LUẬN 17
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 18
Trang 3PHẦN MỞ ĐẦU
Xã hội ngày nay đang đứng trước một nguy cơ đáng báo động về sự gia tăng của tộiphạm Việc tội phạm gia tăng nhanh chóng kéo theo sự bất ổn về xã hội và gia tăngnạn nhân của tội phạm Các nhà TPH đã nghiên cứu nạn nhân và thấy rằng nạn nhânđóng một vai trò quan trọng trong quá trình phạm tội của NPT, nạn nhân vừa lànguyên nhân gây ra TP nhưng cũng là yếu tố hạn chế sự gia tăng của TP Hạn chế việctrở thành nạn nhân của TP là một nhiệm vụ quan trọng góp phần phòng ngừa TP Đểhạn chế việc trở thành nạn nhân của TP, có rất nhiều biện pháp được đưa ra như: thayđổi căn bản các thói quen, lối sống, tâm lý tiêu cực; thay đổi môi trường sống tiêu cực;thay đổi chính sách pháp luật; Vậy trong các biện pháp nêu trên, biện pháp nào làquan trọng và hữu hiệu nhất? Bàn về vấn đề này, đã có một ý kiến cho rằng “Để hạnchế thấp nhất nguy cơ trở thành nạn nhân của TP thì biện pháp quan trọng nhất là thayđổi căn bản những đặc điểm tâm lí, lối sống, thói quen tiêu cực của cá nhân” Để bày
tỏ quan điểm của mình về ý kiến trên, nhóm sẽ đi sâu vào tìm hiểu về vấn đề nạn nhâncủa TP với những nôi dung cụ thể: khái niệm, phân loại, vai trò của nạn nhân vànguyên nhân trở thành nạn nhân của TP
PHẦN NỘI DUNG
I Khái quát chung về nạn nhân của tội phạm
1 Khái niệm, đặc điểm, ý nghĩa của nghiên cứu nạn nhân
* Khái niệm
Nạn nhân của TP là những cá nhân, tổ chức chịu những hậu quả thiệt hại về tínhmạng, sức khỏe, tinh thần, tình cảm, tài sản hoặc các quyền và lợi ích hợp pháp khác
mà những hậu quả thiệt hại này do hành vị phạm tội trực tiếp gây ra
* Đặc điểm nạn nhân của tội phạm
Thứ nhất, đối tượng được coi là nạn nhân của TP chỉ có thể là cá nhân, tổ chức còn
tồn tại ở thời điểm TP xảy ra Thứ hai, nạn nhân của TP có thể chịu các thiệt hại về
tính mạng, sức khỏe, tinh thần, tình cảm, tài sản hoặc các quyền và lợi ích hợp pháp
Trang 4khác.Thứ ba, hậu quả thiệt hại mà nạn nhân của TP phải gánh chịu là những hậu quả
trực tiếp do HVPT gây ra
* Ý nghĩa của nghiên cứu nạn nhân
Thứ nhất, góp phần tìm ra nguyên nhân làm phát sinh hoặc thúc đẩy TP được thực
hiện; Thứ hai, giúp cho việc tìm hiểu, đánh giá các nguyên nhân từ phía nạn nhân làm
phát sinh HVPT từ đó đưa ra các biện pháp loại trừ, triệt tiêu các TP đồng thời hạn chế
tối đa nguy cơ trở thành nạn nhân của TP; Thứ ba, đảm bảo cho việc xây dựng và thực
hiện các chính sách về hình sự, xã hội tốt hơn
2 Phân loại nạn nhân
* Căn cứ vào địa vị pháp lý của nạn nhân
Nạn nhân là cá nhân Là nạn nhân phổ biến của TP, chịu sự xâm hại của HVPT về
tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm,…Nạn nhân là tổ chức Đối với nạn nhân là
tổ chức, phải là những tổ chức hợp pháp và phải còn tồn tại vào thời điểm HVPT gây
ra và chỉ có thể bị HVPT xâm hại về mặt tài sản hoặc kinh tế
* Căn cứ vào cơ chế tác động của hành vi
Nhóm nạn nhân trực tiếp là những cá nhân hay tổ chức bị HVPT trực tiếp tác động
gây thiệt hại về thể chất, tinh thần, tài sản Nhóm nạn nhân thứ cấp “nạn nhân gián tiếp”, là những cá nhân bị HVPT gián tiếp tác động đến họ Nhóm nạn nhân mở rộng
“nạn nhân thứ ba” là những người chịu ảnh hưởng, tác động sâu sắc của HVPT
* Căn cứ vào vai trò của nạn nhân trong cơ chế hành vi phạm tội
Nạn nhân có lỗi, là những nạn nhân đã có các hành vi, xử xự không đúng chuẩn
mực tạo điều kiện thuận lợi, thúc đẩy HVPT được thực hiện Nạn nhân không có lỗi, là
những người có những hành vi, xử xự hoàn toàn đúng, tuân thủ đúng những chuẩnmực đạo đức, HVPT không liên quan đến nạn nhân
* Căn cứ vào thể chất, trạng thái tinh thần cũng như đặc điểm tâm lý hiểu biết của nạn nhân
Trang 5Nhóm người dưới 16 tuổi, mang đặc điểm hạn chế về mặt sinh lý, tình cảm Nhóm
nữ giới, là nhóm đối tượng có những đặc điểm đặc thù về tâm sinh lý như sự hạn chế
về sức khỏe, sự nhạy cảm thiên về tình cảm mà yếu về lý trí Nhóm người già, là
những người có đặc điểm là hạn chế về sức khỏe, sự chống chọi, phản kháng lại HVPT
nên dễ bị lợi dụng, khai thác Nhóm người mắc bệnh tâm thần, tàn tật, trí tuệ kém phát
triển là những người có sự hạn chế về năng lực và điều khiển hành vi nên không có
khả năng nhận thức ý nghĩa xã hội, tính nguy hiểm của HVPT
3 Vai trò của nạn nhân trong quá trình phát sinh tội phạm
* Nạn nhân là nguyên nhân phát sinh hoặc thúc đẩy tội phạm
Vai trò này thể hiện thông qua việc nạn nhân với các phẩm chất tiêu cực, thể hiện
ra bên ngoài bằng các hành vi, lời nói, cử chỉ tiêu cực, kết hợp với tình huống cụ thể
đã tác động đến quá trình đánh giá tình huống và đánh giá nhân thân của cá nhân củaNPT trước khi thực hiện HVPT Trong một số trường hợp tình huống cụ thể, nạn nhânđóng vai trò như nguyên nhân làm phát sinh TP nhưng cũng có thể chỉ đóng vai trò làđiều kiện thuận lợi cho việc thực hiện TP
* Nạn nhân đóng vai trò là nguyên nhân nảy sinh tội phạm
Nạn nhân có thể là nguyên nhân làm nảy sinh TP qua một số biểu hiện như khoekhoang, mất cảm giác, thiếu hiểu biết, phản trắc, bội bạc, tự tin thái quá không phòngngừa không có khả năng tự vệ, lối sống buông thả,…NPT có thể lợi dụng các đặc điểmcủa cá nhân như đặc điểm sinh học, tâm lý, lối sống, thói quen để thực hiện HVPT.Chính những biểu hiện của nạn nhân là nguyên nhân làm nảy sinh HVPT của NPT
* Nạn nhân đóng vai trò hạn chế phần nào tội phạm xảy ra trên thực tế
Trang 6Vai trò của nạn nhân của TP có thể hạn chế được phần nào TP xảy ra trên thực tế.Nếu như nạn nhân nâng cao ý thức cảnh giác, có ý thức cao hơn trong việc bảo vệ tàisản cũng như tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm của mình thì có thể làm cho
TP từ bỏ ý định phạm tội và HVPT của NPT Tuy nhiên, trong một số trường hợp dùmột người có ý thức bảo vệ tài sản, tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm,… củamình nhưng họ vẫn có thể trở thành nạn nhân của TP nếu NPT đã quyết tâm thực hiện
TP đến cùng
II Bình luận về ý kiến “Để hạn chế thấp nhất nguy cơ trở thành nạn nhân của TP thì biện pháp quan trọng nhất là thay đổi căn bản những đặc điểm tâm lí, lối sống, thói quen tiêu cực của cá nhân”
1 Nguyên nhân trở thành nạn nhân của tội phạm
a Yếu tố chủ quan
Thứ nhất, các đặc điểm tâm, sinh lý có vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy
quá trình phát sinh TP hết phải kể đến những đặc điểm sinh học di truyền như khí chất
nóng nảy, cục cằn, thô lỗ hay sự dâm đãng, háo sắc Thứ hai, những phẩm chất tâm lý
lệch lạc như lòng tham, sự ích kỉ thậm chí coi thường các chuẩn mực xã hội, các giátrị đạo đức, quá đề cao giá trị đồng tiền, coi thường tính mạng, sức khoẻ, danh
dự, nhân phẩm của người khác, thậm chí cả thói quen hưởng thụ, lười nhác, sự háo
sắc Thứ ba, ngoài những đặc điểm về tâm sinh lý thì lối sống cũng là một phần yếu
tố chủ quan của nạn nhân Lối sống của một người hay nhóm người trong nhiều trườnghợp cũng là nguyên nhân khiến cá nhân trở thành nạn nhân của TP
b Yếu tố khách quan
Ngoài những yếu tố thuộc về cá nhân con người, những yếu tố khách quan thuộc vềmôi trường sống cũng đóng vai trò đáng kể trong việc làm gia tăng nguy cơ trở thànhnạn nhân của TP Đó là các yếu tố như thời gian, địa điểm cũng như mối quan hệ giữanạn nhân và NPT
* Thời gian và địa điếm
Trang 7Thời gian và địa điểm luôn đóng vai trò quan trọng trong cơ chế HVPT. NPT luônluôn biết tận dụng khoảng thời gian và những địa điểm thuận lợi cho quá trình thựchiện HVPT của mình. Mỗi loại TP thường có đặc điểm về thời gian, địa điểm riêng và
cá nhân nếu hoạt động vào những thời gian hay địa điểm này thường dễ dàng trở thànhnạn nhân của TP Ví dụ: Tội hiếp dâm thường xảy ra ở những nơi và trong nhữngkhoảng thời gian vắng vẻ. Tội cướp giật thường xảy ra trên các đoạn đường lớn, cónhiều nhánh đường cắt ngang và có mật độ người thấp
* Yếu tố nghề nghiệp
Yếu tố nghề nghiệp cũng là yếu tố có vai trò khá quan trọng trong cơ chế HVPT.Một số người do đặc thù nghề nghiệp nên thường là mục tiêu nhằm đến của nhiều loại
TP Một số nghề nghiệp có nguy cơ dễ bị TP xâm hại là nhóm người làm nghề lái xe
ôm, lái xe taxi, kinh doanh vàng bạc, hàng hoá đắt tiền, cho thuê xe ô tô Đây lànhững người dễ trở thành nạn nhân của các tội cướp tài sản, lừa đảo, trộm cắp, Nhóm người khác là người làm trong các cơ quan bảo vệ pháp luật như cảnh sát giaothông, công an, kiểm lâm do việc thi hành công vụ tác động đến lợi ích của ngườikhác nên họ dễ trở thành nạn nhân của các tội chống người thi hành công vụ
* Mối quan hệ giữa nạn nhân và NPT
Mối quan hệ giữa nạn nhân và NPT cũng có vai trò vô cùng quan trọng trong cơchế HVPT Các mối quan hệ xã hội có thể được chia thành các nhóm sau: Các mốiquan hệ gần gũi (gia đình, bạn tình); các mối quan hệ bạn bè thân thiết; các mối quan
hệ quen biết (bạn bè, hàng xóm, láng giềng, công tác, hành chính, cộng đồng); các mốiquan hệ mới thiết lập và các mối quan hệ không quen biết (hoàn toàn xa lạ)
Ở một số loại TP, NPT thường lợi dụng các mối quan hệ quen biết để thực hiệnHVPT như tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản, tội lừa đảo chiếm đoạt tài sảnhay các tội xâm phạm tình dục trẻ em Đó là vì ở những TP này, các mối quan hệ quenbiết là yếu tố vô cùng thuận lợi giúp NPT dễ dàng tiếp cận nạn nhân để thực hiệnHVPT, nhờ các mối quan hệ quen biết này mà NPT sau khi thực hiện HVPT có thể đedoạ, khống chế, mua chuộc nạn nhân để họ không dám tổ cáo và để có thể tiếp tụcthực hiện HVPT Ngược lại, ở một số loại tội khác, NPT lại thường tìm đến những
Trang 8người không quen biết để thực hiện HVPT như các tội cướp, cướp giát tài sản haytrộm cắp tài sản Đó là do việc thực hiện HVPT với những người xa lạ có khả năngche giấu TP cao hơn
2 Chứng minh ý kiến “Để hạn chế thấp nhất nguy cơ trở thành nạn nhân của TP thì biện pháp quan trọng nhất là thay đổi căn bản những đặc điểm tâm lí, lối sống, thói quen tiêu cực của cá nhân” là chính xác
Về ý kiến “Để hạn chế thấp nhất nguy cơ trở thành nạn nhân của TP thì biện phápquan trọng nhất là thay đổi căn bản những đặc điểm tâm lí, lối sống, thói quen tiêu cựccủa cá nhân”, theo quan điểm của nhóm thì đây là một ý kiến chính xác, nhóm hoàntoàn đồng ý với quan điểm này Để chứng minh cho quan điểm này là chính xác, nhóm
đã dựa trên sự phân tích, nghiên cứu kĩ càng vai trò của nạn nhân trong quá trình hìnhthành TP cũng như dựa trên vai trò của đặc điểm tâm lí, lối sống, thói quen tiêu cựccủa cá nhân trong việc nạn nhân hóa
a Xuất phát từ vai trò của nạn nhân đối với nguyên nhân của tội phạm
Như đã phân tích ở trên có thể nhận thấy rằng nạn nhân đóng một vai trò quan trọngtrong việc hình thành HVPT: nạn nhân có thể là nguyên nhân hoặc thúc đẩy việc phạmtội, đồng thời nạn nhân cũng góp phần hạn chế việc phạm tội Các hành vi biểu hiện rabên ngoài của cá nhân là sự thể hiện của các phẩm chất tâm lý tiêu cực hoặc tích cực.Trong mỗi tình huống khác nhau, nạn nhân đóng vai trò khác nhau Có thể thấy rằng,nạn nhân đóng vai trò rất lớn trong viêc hình thành TP, nhưng cúng góp phần thúc đẩyhoặc giảm thiểu khả năng thực hiện HVPT của NPT Như vậy để có thể giảm thiểuđến mức thấp nhất việc trở thành nạn nhân của TP, cần xuất phát từ chính nguyên nhândẫn đến việc phạm tội Để không trở thành nạn nhân của TP thì cá nhân phải tự mìnhloại bỏ khả năng trở thành nguyên nhân của TP Việc thay đổi các phẩm chất tiêu cực
từ chính bản thân mỗi cá nhân là cách hiệu quả nhất để đạt được mục đích này, đồngthời góp phần giảm thiểu việc xảy ra TP từ đó hạn chế được việc trở thành nạn nhâncủa TP
Trang 9b Xuất phát từ vai trò của các yếu tố chủ quan của cá nhân trong việc nạn nhân hóa
Các yếu tố chủ quan thúc đẩy việc trở thành nạn nhân của TP bao gồm: các đặc điểm
về sinh học, các đặc điểm về tâm lý tiêu cực, các đặc điểm về thói quen, lối sống tiêucực Các yếu tố này đóng vai trò trong việc thúc đẩy quá trình nạn nhân hóa, cụ thể:
Về đặc điểm sinh học: đặc điểm sinh học của con người bao gồm: giới tính, độ tuổi,
sức khỏe, Các đặc điểm này tương ứng với các nhóm người cụ thể trong xã hội nhưcác nhóm phụ nữ, trẻ em, người già, người tàn tật hay người mắc bệnh tâm thần Cácnhóm đối tượng này thường là những người yếu thế, khả năng tự vệ không cao và tâm
lý không ổn định, đây chính là những điểm yếu mà NPT thường hướng đến để thựchiện HVPT với những nhóm người này
Thứ nhất, về đặc điểm giới tính, phụ nữ thường là nạn nhân của TP, đặc biệt là
các tội bạo hành, hiếp dâm, NPT lợi dụng đặc điểm sinh học của phụ nữ: có sức khỏeyếu, khả năng chống cự không cao, tâm lý chịu đựng, ngại tố giác TP Russell năm
1982 đã điều tra ngẫu nhiên 930 phụ nữ thì thấy có đến 24% đã từng ít nhất một lần bịcưỡng hiếp, 31% khác từng ít nhất một lần bị cưỡng hiếp không thành 1
Thứ hai, đối với các nhóm đối tượng là người già, trẻ em và người tàn tật,
người mắc bệnh tâm thần cũng là nhóm đối tượng dễ trở thành nạn nhân của TP bởinhững đặc điểm sinh học bất lợi của họ so với các nhóm người khác trong xã hội ví dụnhư: sự không hoàn thiện cả về tâm sinh lý và thể chất đã làm cho khả năng tự bảo vệcủa nhóm người này hạn chế hơn nhiều so với những nhóm người khác; một số đốitượng còn không nhận thức được sự nguy hiểm của HVPT Nghiên cứu của TS.Nguyễn Thanh Hương, Đại học Y tế công cộng Hà Nội cho thấy trong 3000 học sinh
độ tuổi từ 12 đến 18 tại Hà Nội và Hải Dương thì có hơn 20% học sinh nam và 18%học sinh nữ đã từng bị xâm hại tình dục Đây là độ tuổi ít nhiều đã có nhận thức nhấtđịnh về hành vi tình dục cũng như ảnh hưởng của nó và đã có những sự phản khángnhất định Nghiên cứu của William H.Feyernhern và Michael J.Hinderlang ở Mỹ năm
1974 Cho thấy có đến 40% học sinh nam và 44% học sinh nữ đã từng bị cướp hay bị
1 TS Trần Hữu Tráng, “Nguy cơ trở thành nạn nhân của tội phạm”, Tạp chí Luật học số 10/2011
Trang 10hành hung trên đường phố.2 Điều đó chứng tỏ trẻ em là đối tượng dễ bị HVPT xâmhại, đặc biệt là các TP về tình dục Những người già, người khuyết tật, người mắc bệnhtâm thần không chỉ hạn chế về sức khỏe, sự kháng cự mà còn hạn chế về khả năngnhận thức, nhận biết HVPT
Về tâm lý tiêu cực: đặc điểm tâm lý tiêu cực của nạn nhân được cho là một trong các
nguyên nhân quan trọng tạo điều kiện thúc đẩy khả năng họ trở thành nạn nhân của
TP Các đặc điểm tâm lý của con người trước hết tác động đến việc thực hiện hành vicủa họ thể hiện thông qua lời nói, cử chỉ hay hành động Chính những lời nói, cử chỉ
và hành động đó là yếu tố để thúc đẩy những HVPT xảy ra
Thứ nhất, tâm lý tiêu cực của cá nhân được hình thành qua việc thừa hưởng gen
di truyền của cha mẹ, như tính cách nóng nảy, thô lỗ, cục cằn Người mang nhữngphẩm chất tâm lý tiêu cực thường không kiểu soát được các hành vi, lời nói của mình,dẫn đến gây mâu thuẫn, xung đột với người khác, từ đó làm tăng nguy cơ trở thànhnạn nhân của TP cho chính bản thân họ
Thứ hai, tâm lý tiêu cực của cá nhân được hình thành do ảnh hưởng từ những
yếu tố tiêu cực từ môi trường bên ngoài như bạn bè, các quan hệ xã hội, môi trườnggiáo dục Khi con người tiếp xúc với những yếu tố tiêu cực từ môi trường bên ngoàinhiều lần và trong một khoảng thời gian liên tục thì sẽ làm hình thành những phẩmchất tâm lý lệch lạc như lòng tham, sự ích kỷ thậm chí là sự coi thường các chuẩn mực
xã hội, giá trị đạo đức, đề cao giá trị đồng tiền, sự coi thường sức khỏe, nhân phẩm,tính mạng con người Những đặc điểm tâm lý tiêu cực do tác động từ môi trườngđược thể hiện dưới dạng những lời nói, cử chỉ, hành vi lệch chuẩn Khi đặt những đặcđiểm tâm lý tiêu cực trong những tình huống tiêu cực ngoài xã hội cũng sẽ làm phátsinh ý định phạm tội ở người khác, HVPT xảy ra đồng nghĩa với việc cá nhân dễ dàngtrở thành nạn nhân của TP đó
Thứ ba, còn có những phẩm chất tâm lý khác ảnh hưởng đến quá trình nạn nhân
hóa, theo học giả Von Hentig, đó là các các thuộc tính tâm lý (mà do một phần do gen
di truyền, một phần do cuộc sống tạo nên): tình trạng chán nản, thất vọng, suy nhược
Trang 11tinh thần, sự hám lợi, dâm đãng, bậy bạ 3 Các phẩm chất tâm lý tiêu cực này biểuhiện thành các hành vi, xử sự của cá nhân, trở thành yếu tố quan trọng trong việc thúcđẩy, làm phát sinh việc thực hiện các HVPT Theo nghiên cứu của Simha F Landaunăm 1973 cho thấy, có đến 47% số người được điều tra cho rằng các TP về bạo lực vàlừa đảo xảy ra là do lỗi của nạn nhân, 42% cho rằng các TP về tình dục cũng do mộtphần lỗi của nạn nhân Ngoài ra, nghiên cứu của Wolfgang về nạn nhân của tội giếtngười ở bang Philadenphia cho thấy có đến 26% số người trở thành nạn nhân của TP
do bất cẩn, thiếu cảnh giác4 Như vậy, qua các nghiên cứu tiêu biểu nói trên có thểthấy rằng những hành vi, cử chỉ xuất phát từ những đặc điểm tâm lý của nạn nhân đãlàm bàn đạp thúc đẩy việc thực hiện các HVPT Nói cách khác cá nhân đã tự tạo điềukiện thuận lợi cho việc mình trở thành nạn nhân của TP
Thứ tư, một số đặc điểm tâm lý khác, ít tiêu cực hoặc cá nhân cho rằng không
tiêu cực nhưng lại là nguyên nhân thúc đẩy quá trình nạn nhân hóa, ví dụ như tâm lý tựtin, dễ dãi đối với sự an toàn của bản thân, tâm lý vô tư, thiếu sự đề cao cảnh giác vớiviệc bảo vệ tài sản của mình Biểu hiện ra bên ngoài là những hành vi, xử sự mấtcảnh giác như thường xuyên khoe khoang tài sản lên mạng xã hội, trưng bày những đồvật quý nơi dễ lấy, cho người lạ vào nhà một cách thoải mái, Đây là nguyên nhânthúc đẩy lòng tham, sự hám lợi, ích kỷ của NPT dẫn đến việc thực hiện các HVPT.Trên thực tế có nhiều vụ án xâm phạm nhân phẩm, sức khỏe, tính mạng nhằm vàonhững cá nhân có những biểu hiện của tâm lý tiêu cực như thường xuyên gây áp lực,khiêu khích NPT thực hiện hành vi đó hoặc các vụ phạm tội xâm phạm sở hữu nhằmvào những sơ hở, mất cảnh giác hay khoe khoang tài sản của chủ sở hữu Có thể kểđến các vụ việc liên quan đến người nổi tiếng, có cuộc sống khá giả và hay đăng tảihình ảnh giá trị lên mạng xã hội, ví dụ như người mẫu Ngọc Trinh bị trộm vào nhà lấy
đi bộ sưu tập đồng hồ có giá trị lớn, hơn 10 tỉ đồng. Nguyên nhân của vụ trộm này cóthể phát sinh từ thói quen khoe đồ hiệu của cô lên mạng xã hội từ đó trở thành “miếngmồi ngon” cho TP.5 Ngoài ra, các đối tượng khác tuy không đăng tải các hình ảnh về
3 TS Trần Hữu Tráng (2011), Nguy cơ trở thành nạn nhân của tội phạm, Tạp chí Luật Học số 10/2011
4 TS Trần Hữu Tráng (2011), Nguy cơ trở thành nạn nhân của tội phạm, Tạp chí Luật Học số 10/2011
5
Khoa Nam, Người mẫu Ngọc Trinh trình báo bị mất bộ sưu tập đồng hồ hơn 10 tỉ đồng, ,
https://dantri.com.vn/phap-luat/nguoi-mau-ngoc-trinh-trinh-bao-bi-mat-bo-suu-tap-dong-ho-hon-10-ti-dong-20210330173144584.htm