1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Thực trạng công tác chăm sóc vết thương ở người bệnh sau phẫu thuật gẫy hở xương cẳng chân tại bệnh viện đa khoa tỉnh sơn la năm 2022

49 9 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Thực trạng công tác chăm sóc vết thương ở người bệnh sau phẫu thuật gẫy hở xương cẳng chân tại bệnh viện đa khoa tỉnh Sơn La năm 2022
Tác giả Tòng Văn Thao
Người hướng dẫn TS. Đỗ Minh Sinh
Trường học Trường Đại học Điều dưỡng Nam Định
Chuyên ngành Điều dưỡng
Thể loại Báo cáo chuyên đề tốt nghiệp
Năm xuất bản 2022
Thành phố Nam Định
Định dạng
Số trang 49
Dung lượng 1,36 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TÒNG VĂN THAO THỰC TRẠNG CÔNG TÁC CHĂM SÓC VẾT THƯƠNG Ở NGƯỜI BỆNH SAU PHẪU THUẬT GẪY HỞ XƯƠNG CẲNG CHÂN TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA TỈNH SƠN LA NĂM 2022 BÁO CÁO CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP NAM ĐỊ

Trang 1

TÒNG VĂN THAO

THỰC TRẠNG CÔNG TÁC CHĂM SÓC VẾT THƯƠNG

Ở NGƯỜI BỆNH SAU PHẪU THUẬT GẪY HỞ XƯƠNG CẲNG CHÂN TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA

TỈNH SƠN LA NĂM 2022

BÁO CÁO CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP

NAM ĐỊNH - 2022

Trang 2

TÒNG VĂN THAO

THỰC TRẠNG CÔNG TÁC CHĂM SÓC VẾT THƯƠNG

Ở NGƯỜI BỆNH SAU PHẪU THUẬT GẪY HỞ XƯƠNG CẲNG CHÂN TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA

TỈNH SƠN LA NĂM 2022

Chuyên ngành: Điều dưỡng Ngoại người lớn

BÁO CÁO CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP

GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN:

TS ĐỖ MINH SINH

NAM ĐỊNH - 2022

Trang 3

LỜI CẢM ƠN Trong quá trình học tập, nghiên cứu và thực hiện báo cáo chuyên đề, tôi

đã nhận được sự hướng dẫn cũng như sự giúp đỡ, động viên của các thầy cô giáo, các đồng nghiệp tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Sơn La, Trung tâm chấn thương chỉnh hình, gia đình và bạn bè Đến nay, báo cáo chuyên đề đã được hoàn thành

Với sự kính trọng và lòng biết ơn sâu sắc, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới: Ts Đỗ Minh Sinh, Trường Đại học Điều dưỡng Nam Định là người thầy đã tận tình chỉ bảo, hướng dẫn và giúp đỡ tôi trong suốt thời gian thực hiện và hoàn thành báo cáo chuyên đề

Tôi xin trân trọng cảm ơn Ban Giám hiệu, phòng Đào tạo Sau Đại học, các phòng ban và các thầy cô giáo Trường Đại học Điều dưỡng Nam Định đã cho tôi kiến thức, những kinh nghiệm quý báu và tạo điều kiện, giúp đỡ tôi trong thời gian học tập tại trường

Tôi cũng xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành nhất đến Ban Giám đốc, các đồng nghiệp tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Sơn La đã tận tình giúp đỡ và tạo điều kiện để tôi có thể hoàn thành tốt khóa học này

Tôi cũng bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc tới gia đình, đồng nghiệp, bạn bè và tập thể lớp Chuyên khoa cấp I khóa 9 những người đã giành cho tôi tình cảm và nguồn động viên khích lệ

Nam Định, ngày 06 tháng 7 năm 2022

Học viên

Tòng Văn Thao

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN Tên tôi là: Tòng Văn Thao

Học viên lớp Điều dưỡng chuyên khoa I, khóa 9, chuyên ngành Ngoại người lớn, trường Đại học Điều dưỡng Nam Định

Tôi xin cam đoan đây là chuyên đề nghiên cứu của cá nhân tôi và được

sự hướng dẫn của Ts Đỗ Minh Sinh Các nội dung, kết quả trong chuyên đề này là trung thực và chưa công bố dưới bất kỳ hình thức nào trước đây Những số liệu được trích dẫn nhằm phục vụ cho việc phân tích, đánh giá, nhận xét được chính tác giả thu thập từ nhiều nguồn khác nhau có ghi rõ trong phần tài liệu tham khảo

Nếu phát hiện có bất cứ sự gian lận nào tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về nội dung chuyên đề của mình Trường Đại học điều dưỡng Nam Định không liên quan gì đến việc vi phạm bản quyền, tác quyền mà tôi gây ra trong quá trình thực hiện (nếu có)

Nam Định, ngày 06 tháng 7 năm 2022

Học viên

Tòng Văn Thao

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI CẢM ƠN i

LỜI CAM ĐOAN ii

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT v

DANH MỤC BẢNG vi

DANH MỤC BIỂU ĐỒ, SƠ ĐỒ, HÌNH ẢNH vii

ĐẶT VẤN ĐỀ 1

Chương I 4

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 4

1.1 Cơ sở lý luận 4

1.1.1 Giới thiệu tổng quan về phẫu thuật gãy hở xương cẳng chân 4 1.1.2 Vai trò chức năng của người điều dưỡng trong chăm sóc người bệnh sau phẫu thuật gãy hở xương cẳng chân 7

1.1.3 Các nội dung chăm sóc người bệnh phẫu thuật gãy hở xương cẳng chân 8

1.1.4 Nguyên tắc chăm sóc người bệnh trong bệnh viện 8

1.1.5 Chức năng, nhiệm vụ người điều dưỡng trong bệnh viện 9

1.2 Cơ sở thực tiễn 11

1.2.1 Công tác chăm sóc người bệnh gãy xương trên thế giới 11

1.2.2 Thực trạng chăm sóc người bệnh gãy xương tại Việt Nam 12

Chương 2 17

MÔ TẢ VẤN ĐỀ CẦN GIẢI QUYẾT 17

2.1 Tổng quan về địa bàn thực tế 17

2.2 Thực trạng công tác chăm sóc vết thương ở người bệnh sau phẫu thuật gãy hở xương cẳng chân 18

2.2.1 Phương pháp thực hiện 18

2.2.2 Kết quả 19

Chương 3 25

Trang 6

BÀN LUẬN 25

3.1 Thực trạng công tác chăm sóc vết thương ở người bệnh sau phẫu thuật gãy hở xương cẳng chân tại bệnh viện Đa khoa tỉnh Sơn La năm 2022 25

3.1.1 Quy trình chăm sóc, hướng dẫn người bệnh tập luyện phục hồi chức năng sau phẫu thuật 26

3.1.2 Hướng dẫn tập luyện phục hồi chức năng 27

3.1.3 Hướng dẫn người bệnh tập luyên các bài tập sau khi xuất viện 27

3.2 Mố số giải pháp tăng cường hiệu quả công tác chăm sóc vết thương ở người bệnh sau phẫu thuật gãy hở xương cẳng chân tại bệnh viện Đa khoa tỉnh Sơn La 28

3.2.1 Đối với điều dưỡng viên 28

3.2.2 Đối với bệnh viện 28

KẾT LUẬN 30

ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP 31

1 Đối với điều dưỡng viên 31

2 Đối với bệnh viện 31

TÀI LIỆU THAM KHẢO 32

PHỤ LỤC 35

Phiếu 1: Khảo sát người bệnh 35

Phiếu 2: Quan sát, đánh giá công tác chăm sóc điều dưỡng 37

Trang 7

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

Trang 8

DANH MỤC BẢNG

1 Thực trạng quy trình thay băng thường quy của điều dưỡng 19-20

2 Mô tả điểm trung bình các bước thực hiện theo quy trình ở

mức I

20

3 Thực trạng công tác chăm sóc người bệnh sau phẫu thuật 22

4 Thực trạng công tác hướng dẫn tập phục hồi chức sau phẫu

Trang 9

DANH MỤC BIỂU ĐỒ, SƠ ĐỒ, HÌNH ẢNH

1 Số lượng các bước trong quy trình mà các điều dưỡng cùng

lúc thực hiện đạt ở mức I

21

2 Phân loại mức độ thực hiện quy trình thay băng thường quy

của điều dưỡng

21

Trang 10

ĐẶT VẤN ĐỀ Điều dưỡng đại diện cho một tỷ lệ đáng kể của lực lượng chăm sóc sức khỏe, và cung cấp dịch vụ chăm sóc người bệnh 24 giờ liên tục, họ dành phần lớn thời gian làm việc để tiếp xúc trực tiếp với người bệnh[20], [16] Trong thực hành nghề nghiệp, người điều dưỡng (ĐD) đóng vai chủ động trong xác định nhu cầu cần chăm sóc của người bệnh để đáp ứng những nhu cầu mà người bệnh bị thiếu hụt Hoạt động chăm sóc người bệnh toàn diện của điều dưỡng bao gồm: chăm sóc về thể chất, tinh thần, xã hội và tri thức Nhiều nghiên cứu đã khẳng định, ở đâu có công tác chăm sóc (CS) của ĐD tốt sẽ làm giảm các biến chứng góp phần nâng cao chất lượng chăm sóc, điều trị và

sự an toàn của người bệnh, từ đó làm tăng sự hài lòng của người bệnh và uy tín của cơ sở y tế [2]

Trên thế giới, đánh giá hoạt động của điều dưỡng được thực hiện hàng năm, có tác dụng đảm bảo và nâng cao chất lượng chăm sóc Năm 1993, Viện Hàn lâm Mỹ đã xây dựng tiêu chuẩn thực hành của điều dưỡng bao gồm: quá trình chăm sóc, môi trường, trách nhiệm hợp tác, ghi chép, bảo vệ người bệnh, đảm bảo chất lượng, các vai trò trợ giúp và nghiên cứu khoa học làm cơ

sở đánh giá các hoạt động của điều dưỡng Hội điều dưỡng Mỹ đã ban hành các tiêu chuẩn thực hành của điều dưỡng vào năm 1973 và sửa đổi năm 1991, cập nhật năm 2003 bao gồm các tiêu chuẩn chăm sóc và tiêu chuẩn nghề nghiệp của điều dưỡng Vì vậy hoạt động của điều dưỡng có tác dụng tăng cường chất lượng chăm sóc sức khỏe và được thực hiện thường xuyên nhằm đánh giá kiến thức và chất lượng chăm sóc thông qua việc đánh giá kỹ thuật của điều dưỡng [1]

Tại Việt Nam, đã có nhiều văn bản ban hành về công tác chăm sóc điều dưỡng, trong đó gần đây nhất cụ thể hóa được công việc chăm sóc người bệnh (CSNB) là Thông tư 07 của Bộ Y tế Thông tư bổ sung và hoàn thiện thêm quy chế chăm sóc người bệnh toàn diện (CSNBTD), quy định việc chăm sóc, theo dõi người bệnh là nhiệm vụ của bệnh viện, các hoạt động chăm sóc điều

Trang 11

dưỡng, theo dõi do điều dưỡng, hộ sinh viên thực hiện và chịu trách nhiệm, trong đó quy định cụ thể 12 nhiệm vụ chuyên môn chăm sóc người bệnh của người điều dưỡng Tuy nhiên, thực tế việc chăm sóc người bệnh hầu như được khoán cho người nhà người bệnh, kể cả phần việc chuyên môn như thay chai truyền dịch, cho ăn qua ống thông, vận chuyển người bệnh nặng Có nhiều nguyên nhân khác nhau ảnh hưởng đến công tác chăm sóc toàn diện người bệnh, trong đó có nguyên nhân do người điều dưỡng còn ngại khó, mặc cảm trong chăm sóc người bệnh, chính vì vậy chất lượng công tác chăm sóc người bệnh được đánh giá chưa cao[1], [3]

Trên thế giới cũng như ở Việt Nam, cùng với sự phát triển kinh tế ngày càng tăng, sự phát triển của các phương tiện giao thông cũng tăng lên, cùng với đó là số lượng tai nạn ngày càng tăng, tình trạng chấn thương nặng, nguy kịch: chấn thương sọ não, chấn thương ngực, chấn thương gãy xương, đặc biệt thường gặp gẫy hở 2 xương cẳng chân Gãy hở hai xương cẳng chân (XCC) là loại khá phổ biến Theo thống kê tại bệnh viện việt Đức gãy hở hai xương cẳng chân chiếm 37,72 % trong các trường hợp gãy hở xương dài Nguyên nhân phần lớn là do tai nạn giao thông, tai nạn lao động (TNLĐ), tai nạn sinh hoạt (TNSH) Người bệnh (NB) chủ yếu trong độ tuổi lao động, nam nhiều hơn nữ Những điều này càng làm tăng thêm gánh nặng cho gia đình và cho xã hội, cho mỗi gia đình, mỗi người bệnh cả về mặt tinh thần, thể chất, và kinh tế

Bệnh viện đa khoa tỉnh Sơn La hiện có 32 khoa, phòng và 01 Trung tâm

Số lượng người bệnh cần chăm sóc vết thương sau phẫu thuật gãy xương tại bệnh viện tập trung tại Trung tâm chấn thương chỉnh hình Với tổng số giường điều trị tại trung tâm là 88 giường, lượng người bệnh cần chăm sóc vết thương sau phẫu thuật gãy xương khoảng 20 người bệnh/ngày (chiếm 22%), trong đó chăm sóc vết thương gẫy hở sau phẫu thuật khoảng 1-2 người bệnh/ngày

Trang 12

Tuy nhiên, tại bệnh viện đa khoa tỉnh Sơn La chưa có nghiên cứu nào thực hiện đánh giá hoạt động CSNB của ĐD tại bệnh viện, do đó chưa có những bằng chứng khoa học để khẳng định thực trạng công tác chăm sóc của điều dưỡng thực hiện cho người bệnh ra sao? Chưa có đánh giá thực trạng dụng cụ, công tác chăm sóc vết thương của điều dưỡng ở người bệnh sau phẫu thuật đã đúng kỹ thuật hay chưa? Để trả lời những câu hỏi trên, chúng tôi tiến hành thực hiện nghiên cứu chuyên đề này với 02 mục tiêu chính:

1 Mô tả thực trạng công tác chăm sóc vết thương ở người bệnh sau phẫu thuật gẫy hở xương cẳng chân tại bệnh viện đa khoa tỉnh Sơn La năm 2022

2 Đề xuất một số giải pháp tăng cường hiệu quả công tác chăm sóc vết thương ở người bệnh sau phẫu thuật gẫy hở xương cẳng chân tại bệnh viện đa khoa tỉnh Sơn La

Trang 13

Chương I

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1.1 Cơ sở lý luận

1.1.1 Giới thiệu tổng quan về phẫu thuật gãy hở xương cẳng chân

a Đặc điểm giải phẫu

Xương: vùng cẳng chân gồm hai xương: xương chày và xương mác Xương chày lớn hơn, hơi cong và lõm vào trong vào trong ở 2/3 trên có hình lăng trụ tam giác, ở 1/3 dưới có hình ống điểm nối giữa hai phần này là một điểm yếu dễ gãy khi chấn thương Xương chày là xương chịu lực chính toàn bộ sức nặng của cơ thể Mặt trước xương chày nằm ngay dưới da, khi gãy xương dễ rách da và hoại tử da trở thành gãy hở, còn xương mác có các lớp cơ che phủ gần như hoàn toàn[9]

Xương mác nhỏ hơn nằm ngoài xương chày, là một xương dài tiếp giáp với xương chày ở hai đầu, ít có tác dụng chịu lực Xương mác là chỗ bám của cân cơ, dây chằng, tham gia cấu tạo nên khớp cổ chân và làm vững cho khớp gối Vùng thân xương cẳng chân được giới hạn bởi: Phái trên là dưới lồi củ xương chày 1cm và phía dưới là trên khớp cổ chân 2 khoát ngón tay[9]

Hình 1 1 Giải phẫu xương cẳng chân Khối cơ vùng cẳng chân được chia làm 4 khoang: khoang trước, khoang bên, khoang sau nông và khoang sau sâu Giữa các khoang có vách gian cơ dầy, chắc Khoang trước gồm 4 cơ: Cơ chày trước, cơ duỗi dài ngón cái, cơ duỗi dài

Trang 14

các ngón chân, cơ mác trước Khoang bên gồm hai cơ: Cơ mác bên dài và cơ mác bên ngắn Khoang sau nông gồm: Cơ tam đầu do (3 cơ chập lại: Cơ sinh đôi trong, cơ sinh đôi ngoài và cơ dép) và cơ gan chân Khoang sau sâu gồm 4 cơ:

Cơ khoeo, cơ gấp dài ngón cái, cơ gấp dài các ngón chân, và cơ chày sau[9]

Hình 1 2 Sơ đồ các khoang cẳng chân

b Đặc điểm tổn thương trong gãy hở hai xương cẳng chân

- Tổn thương xương: Xương cẳng chân ở ngay sát dưới da, khi gãy xương

dễ thông với môi trường bên ngoài thành gãy hở Đặc biệt là khi gãy hở phức tạp dễ khuyết da, nhiễm trùng trên diện rộng do không có thành phần che phủ

Hệ thống mạch nuôi dưỡng xương đặc biệt đoạn 1/3 dưới rất nghèo nàn, ít phần mềm xung quanh nên khó liền, chậm phục hồi, lộ xương[9]

- Tổn thương phần mềm: Tổn thương phần mềm trong gãy hở 2 xương cẳng chân bao gồm tổn thương da, cân, cơ, mạch máu, thần kinh Trong đó tổn thương mạch máu là nguy hiểm nhất, ảnh hưởng đến tính mạng chân Chính tổn thương phần mềm quyết định thái độ điều trị và là yếu tố tiên lượng chủ yếu Có nhiều cách phân loại gãy hở khác nhau nhưng đa số các phẫu thuật viên chỉnh hình của viện Việt Đức, Xanh Pôn, BV108 đều áp dụng theo cách phân loại của GUSTILO (Mỹ), cách phân loại này tính đến cả tổn thương phần mềm và xương[9]

Trang 15

+ Độ I: Gãy hở mà vết thương phần mềm < 1cm Vết thương gọn, sạch, thường là loại gãy hở do đầu xương chọc từ trong ra

+ Độ II: Gãy hở mà vết thương từ 1cm đến 10cm, vết thương gọn, sạch + Độ III: Là loại gãy hở rất nặng Độ IIIa: vết thương phần mềm dập nát nhiều nhưng xương còn được che phủ một cách thích hợp Độ IIIb: tổn thương phần mềm rộng, lộ cả một đoạn xương Khi cắt lọc vết thương, muốn che xương phải chuyển vạt cơ hoặc vạt da-cân để che xương Độ IIIc: là những gãy hở có kèm theo mạch máu và thần kinh lớn

- Các biến chứng của gãy hở cẳng chân [9]

+ Biến chứng ngay: Sốc chấn thương: do mất máu, do đau do đó phải băng

và bất động vết thương ngay Tổn thương mạch thần kinh Tắc mạch do mỡ tủy xương: hiếm gặp

+ Biến chứng sớm: Nhiễm khuẩn vết thương: đặc biệt nguy hiểm là nhiễm khuẩn yếm khí Vì vậy khi xử lý vết thương phải rạch rộng không được khâu kín Xử lý vết thương cấp cứu cần làm sạch dị vật, rửa dung dịch sát khuẩn dưới

áp lực Rối loạn dinh dưỡng kiểu Sudex hoặc Wolkmann

+ Di chứng: Chậm liền: sau 4 đến 5 tháng mà xương không liền Khớp giả: sau 6 tháng mà xương không liền Can lệch: gây nên ngắn chi, lệch trục chi, làm bệnh nhân không đi lại được Viêm xương: điều trị phức tạp và tốn kém Teo cơ, cứng khớp

c Các phương pháp điều trị gãy hở cẳng chân [9]

- Kết hợp xương bên trong ngay: bằng đinh hoặc nẹp vít nếu thể trạng bệnh nhân tốt, gãy hở độ I, độ II đến sớm, phẫu thuật viên chuyên khoa có kinh nghiệm

- Cố định ngoài: cắt lọc, xử trí vết thương cấp cứu, cố định xương chầy bằng khung cố định ngoài Chỉ định cho gãy hở độ II, độ III

Trang 16

Hình 1 3 Khung FESSA

- Kéo liên tục: dùng đinh Steimann hoặc Kirschner xuyên qua xương gót sau khi xử lý vết thương cấp cứu Kéo liên tục còn làm cho cơ đỡ căng thuận lợi cho kết hợp xương về sau Nhưng có nhược điểm là cố định ổ gãy không tốt, dễ nhiễm trùng vết thương

- Bó bột: sau khi xử lý vết thương cấp cứu, đặt xương về thẳng trục, phủ cơ che xương, kéo thẳng chi và bó bột rạch dọc, bất động 2 khớp lân cận, kết hợp xương thì 2 sau khi vết thương ổn định

1.1.2 Vai trò chức năng của người điều dưỡng trong chăm sóc người bệnh sau phẫu thuật gãy hở xương cẳng chân

Chăm sóc người bệnh toàn diện là sự chăm sóc của người hành nghề và gia đình người bệnh lấy người bệnh làm trung tâm, đáp ứng các nhu cầu điều trị, sinh hoạt hàng ngày nhằm bảo đảm an toàn, chất lượng và hài lòng của người bệnh[3]

Là nhà thực hành chăm sóc: Sử dụng quy trình Điều dưỡng để đáp ứng nhu cầu cho người bệnh Biết lập kế hoạch chăm sóc và thực hiện kế hoạch theo mục tiêu đề ra Giao tiếp được với người bệnh và những người liên quan đến việc lập

kế hoạch chăm sóc người bệnh Cộng tác với những người liên quan đến người bệnh, người bệnh và với đồng nghiệp để kế hoạch chăm sóc đạt hiệu quả hơn[3], [5]

Là nhà quản lý: Sử dụng những khả năng giao tiếp và suy nghĩ lý luận của mình cho những người bệnh mắc các bệnh mạn tính, những người bệnh trong giai đọan cấp cứu, những người bệnh trong cộng đồng, … một cách khéo léo và

Trang 17

đạt hiệu quả cao Hướng dẫn cán bộ y tế khác trong việc chăm sóc người bệnh một cách chọn lọc và thích hợp Sử dụng nguồn nhân lực sẵn có để phục vụ chăm sóc người bệnh có hiệu quả [3], [5]

Là nhà giáo dục: Sử dụng phương pháp dạy và học cho đội ngũ kế thừa các kiến thức, kỹ năng và đạo đức Điều dưỡng Thực hiện tốt công tác giáo dục sức khỏe cho mọi người Biết tự đào tạo liên tục, biết nhận lãnh trách nhiệm đối với nghề nghiệp Yêu nghề tha thiết, tham gia vào việc bảo vệ và phát triển nghề nghiệp [3], [5]

Là nhà nghiên cứu: Thực hiện và đóng góp các công trình nghiên cứu để nâng cao kiến thức cho ngành Điều dưỡng Ứng dụng những thành quả các công trình nghiên cứu thành công [3], [5]

1.1.3 Các nội dung chăm sóc người bệnh phẫu thuật gãy hở xương cẳng chân

Chăm sóc người bệnh bao gồm: hỗ trợ, đáp ứng các nhu cầu cơ bản của mỗi người bệnh nhằm duy trì hô hấp, tuần hoàn, thân nhiệt, ăn uống, bài tiết, tư thế, vận động, vệ sinh cá nhân, ngủ, nghỉ; chăm sóc tâm lý; hỗ trợ điều trị và tránh các nguy cơ từ môi trường bệnh viện cho người bệnh [3]

Quy trình điều dưỡng là phương pháp khoa học được áp dụng trong lĩnh vực điều dưỡng để thực hiện chăm sóc người bệnh có hệ thống bảo đảm liên tục,

an toàn và hiệu quả bao gồm: nhận định, chẩn đoán điều dưỡng, lập kế hoạch, thực hiện và đánh giá kết quả chăm sóc điều dưỡng [3]

1.1.4 Nguyên tắc chăm sóc người bệnh trong bệnh viện

- Người bệnh là trung tâm của công tác chăm sóc nên phải được chăm sóc toàn diện, liên tục, bảo đảm hài lòng, chất lượng và an toàn

- Chăm sóc, theo dõi người bệnh là nhiệm vụ của bệnh viện, các hoạt động chăm sóc điều dưỡng, theo dõi do điều dưỡng viên, hộ sinh viên thực hiện và chịu trách nhiệm

- Can thiệp điều dưỡng phải dựa trên cơ sở các yêu cầu chuyên môn và sự đánh giá nhu cầu của mỗi người bệnh để chăm sóc phục vụ

Trang 18

1.1.5 Chức năng, nhiệm vụ người điều dưỡng trong bệnh viện

Giáo dục sức khỏe: Bệnh viện có quy định và tổ chức các hình thức tư vấn, hướng dẫn giáo dục sức khỏe phù hợp Người bệnh nằm viện được điều dưỡng viên, hộ sinh viên tư vấn, giáo dục sức khỏe, hướng dẫn tự chăm sóc, theo dõi, phòng bệnh trong thời gian nằm viện và sau khi ra viện [3]

Chăm sóc về tinh thần: Người bệnh được điều dưỡng viên, hộ sinh viên và người hành nghề khám bệnh, chữa bệnh khác chăm sóc, giao tiếp với thái độ ân cần và thông cảm Người bệnh, người nhà người bệnh được động viên yên tâm điều trị và phối hợp với người hành nghề khám bệnh, chữa bệnh trong quá trình điều trị và chăm sóc Người bệnh, người nhà người bệnh được giải đáp kịp thời những băn khoăn, thắc mắc trong quá trình điều trị và chăm sóc Bảo đảm an ninh, an toàn và yên tĩnh, tránh ảnh hưởng đến tâm lý và tinh thần của người bệnh[3]

Chăm sóc vệ sinh cá nhân: Chăm sóc vệ sinh cá nhân cho người bệnh hằng ngày gồm: vệ sinh răng miệng, vệ sinh thân thể, hỗ trợ đại tiện, tiểu tiện và thay đổi đồ vải[3]

Trách nhiệm chăm sóc vệ sinh cá nhân: Người bệnh cần chăm sóc cấp I do điều dưỡng viên, hộ sinh viên và hộ lý thực hiện Người bệnh cần chăm sóc cấp

II và cấp III tự thực hiện dưới sự hướng dẫn của điều dưỡng viên, hộ sinh viên

và được hỗ trợ chăm sóc khi cần thiết[3]

Chăm sóc dinh dưỡng: Điều dưỡng viên, hộ sinh viên phối hợp với bác sĩ điều trị để đánh giá tình trạng dinh dưỡng và nhu cầu dinh dưỡng của người bệnh Hằng ngày, người bệnh được bác sĩ điều trị chỉ định chế độ nuôi dưỡng bằng chế độ ăn phù hợp với bệnh lý Người bệnh có chế độ ăn bệnh lý được cung cấp suất ăn bệnh lý tại khoa điều trị và được theo dõi ghi kết quả thực hiện chế độ ăn bệnh lý vào Phiếu chăm sóc Người bệnh được hỗ trợ ăn uống khi cần thiết Đối với người bệnh có chỉ định ăn qua ống thông phải do điều dưỡng viên,

hộ sinh viên trực tiếp thực hiện[3]

Trang 19

Chăm sóc phục hồi chức năng: Người bệnh được điều dưỡng viên, hộ sinh viên hướng dẫn, hỗ trợ luyện tập và phục hồi chức năng sớm để đề phòng các biến chứng và phục hồi các chức năng của cơ thể Phối hợp khoa lâm sàng và khoa Vật lý trị liệu - Phục hồi chức năng để đánh giá, tư vấn, hướng dẫn và thực hiện luyện tập, phục hồi chức năng cho người bệnh[3]

Chăm sóc người bệnh có chỉ định phẫu thuật, thủ thuật: Người bệnh được điều dưỡng viên, hộ sinh viên hướng dẫn và hỗ trợ thực hiện chuẩn bị trước phẫu thuật, thủ thuật theo yêu cầu của chuyên khoa và của bác sĩ điều trị Trước khi đưa người bệnh đi phẫu thuật, thủ thuật, điều dưỡng viên, hộ sinh viên phải: Hoàn thiện thủ tục hành chính; Kiểm tra lại công tác chuẩn bị người bệnh đã được thực hiện theo yêu cầu của phẫu thuật, thủ thuật; Đánh giá dấu hiệu sinh tồn, tình trạng người bệnh và báo cáo lại cho bác sĩ điều trị nếu người bệnh có diễn biến bất thường[3]

Điều dưỡng viên hoặc hộ sinh viên hoặc hộ lý chuyển người bệnh đến nơi làm phẫu thuật, thủ thuật và bàn giao người bệnh, hồ sơ bệnh án cho người được phân công chịu trách nhiệm tiếp nhận của đơn vị thực hiện phẫu thuật hoặc thủ thuật[3]

Dùng thuốc và theo dõi dùng thuốc cho người bệnh: Khi dùng thuốc cho người bệnh, điều dưỡng viên, hộ sinh viên phải: Dùng thuốc đúng theo chỉ định của bác sĩ điều trị Chuẩn bị đủ và phù hợp các phương tiện cho người bệnh dùng thuốc; khi dùng thuốc qua đường tiêm phải chuẩn bị sẵn sàng hộp thuốc cấp cứu và phác đồ chống sốc, chuẩn bị đúng và đủ dung môi theo quy định của nhà sản xuất Kiểm tra thuốc (tên thuốc, nồng độ/hàm lượng, liều dùng một lần,

số lần dùng thuốc trong 24 giờ, khoảng cách giữa các lần dùng thuốc, thời điểm dùng thuốc và đường dùng thuốc so với y lệnh) Kiểm tra hạn sử dụng và chất lượng của thuốc bằng cảm quan: màu sắc, mùi, sự nguyên vẹn của viên thuốc, ống hoặc lọ thuốc Hướng dẫn, giải thích cho người bệnh tuân thủ điều trị Thực hiện 5 đúng khi dùng thuốc cho người bệnh Bảo đảm người bệnh uống thuốc ngay tại giường bệnh trước sự chứng kiến của điều dưỡng viên, hộ sinh viên

Trang 20

Theo dõi, phát hiện các tác dụng không mong muốn của thuốc, tai biến sau dùng thuốc và báo cáo kịp thời cho bác sĩ điều trị Ghi hoặc đánh dấu thuốc đã dùng cho người bệnh và thực hiện các hình thức công khai thuốc phù hợp theo quy định của bệnh viện Phối hợp giữa các bác sĩ, dược sĩ, điều dưỡng viên, hộ sinh viên trong dùng thuốc nhằm tăng hiệu quả điều trị bằng thuốc và hạn chế sai sót[3]

1.2 Cơ sở thực tiễn

1.2.1 Công tác chăm sóc người bệnh gãy xương trên thế giới

Người bệnh nhập viện vì gãy xương có nhiều nhu cầu chăm sóc chỉnh hình rất phức tạp cần phương pháp chăm sóc theo nhóm bao gồm điều dưỡng có tay nghề cao, giàu lòng nhân ái Việc tiếp tục phát triển và cải thiện dịch vụ chăm sóc gãy xương dễ gãy đòi hỏi các điều dưỡng phải có các kỹ năng cụ thể về cả

kỹ năng điều dưỡng chung và chuyên khoa, bao gồm cả kỹ năng của cả điều dưỡng chỉnh hình và bác sĩ lão khoa Điều dưỡng dành nhiều thời gian trực tiếp nhất với người bệnh và đại diện cho những người lớn nhất [18]

Gãy xương dễ gãy thường dẫn đến giảm mức độ khả năng chức năng và người bệnh hiếm khi lấy lại được mức hoàn toàn trước khi gãy Bất kể môi trường lâm sàng mà người bệnh gãy xương mỏng manh được quản lý, điều dưỡng cần phải có một bộ kỹ năng cốt lõi chung để cung cấp dịch vụ chăm sóc

an toàn và hiệu quả cho những người bệnh có nhu cầu phức tạp Nhận thức được mức độ phức tạp của nhu cầu chăm sóc của nhóm dân số dễ bị tổn thương này là một bước quan trọng trong việc tạo điều kiện cho các kết quả tích cực Gãy xương hông được biết đến [18]

Đặc điểm cơ bản của chăm sóc toàn diện là các điều dưỡng phải cộng tác với những người khác để đạt được thực hành tốt nhất Thách thức đối với các điều dưỡng khi làm việc trong đội ngũ bác sĩ chỉnh hình là, để tiếp cận dịch vụ chăm sóc gãy xương cấp tính, người bệnh chắc chắn phải được chăm sóc tại nhiều khoa của bệnh viện bao gồm các đơn vị như khoa cấp cứu, phòng khám

Trang 21

gãy xương và khoa chấn thương Đây là những cơ sở chăm sóc đã phát triển trong lịch sử để điều trị cho tất cả người lớn[19]

Một nghiên cứu tìm hiểu điểm của người bệnh về việc chăm sóc điều dưỡng sau gãy xương hông cho thấy đa số người bệnh cảm thấy hài lòng với điều dưỡng được cung cấp Nhân viên tạo cảm giác an toàn và thể hiện sự quan tâm, đồng cảm với người bệnh Tuy nhiên, các người bệnh đã trải qua một thời gian chờ đợi phẫu thuật rất căng thẳng, và những người bệnh đã phát triển tình trạng bối rối chờ đợi hơn 24 giờ để được phẫu thuật Do đó, phải giảm thời gian chờ đợi Hơn nữa, các mô tả của người bệnh về một loạt các vấn đề đau cho thấy, ví dụ, sự hợp tác tốt giữa điều dưỡng và nhà vật lý trị liệu là rất quan trọng

để đạt được hiệu quả giảm đau tốt trước khi vận động Nhân viên điều dưỡng cần phải quan tâm và khơi gợi cảm xúc của người bệnh thông qua giao tiếp tập trung vào người bệnh để giảm bớt lo lắng về nhà[21]

Một đánh giá có hệ thống trên 19 nghiên cứu cho thấy tỷ lệ tử vong do gãy xương đã giảm và chất lượng cuộc sống của người bệnh gãy xương đã tăng lên

rõ rệt khi có sự chăm sóc của các điều dưỡng Các tác giả đã nhận định rằng : (1) Chức danh và vai trò của điều dưỡng không được xác định rõ ràng, nhưng các đặc điểm của vai trò điều dưỡng là rõ ràng; (2) các đặc điểm của điều dưỡng đã thúc đẩy việc cung cấp dịch vụ chăm sóc gãy xương hông thực hành tốt nhất và

có tác động tích cực đến tỷ lệ tử vong và chất lượng cuộc sống; và (3) các mô hình cung cấp dịch vụ sáng tạo liên quan đến điều dưỡng cần được xem xét để giải quyết các dự báo trong tương lai về tỷ lệ gãy xương hông và cải thiện kết quả Đánh giá có hệ thống này cung cấp bằng chứng về đặc điểm vai trò của điều dưỡng trong gãy xương hông dễ gãy và tác động của vai trò này đối với kết quả Các phát hiện từ nghiên cứu này có thể được sử dụng để phát triển các mô hình cung cấp dịch vụ sử dụng điều dưỡng để chăm sóc người bệnh sau gãy xương hông dễ gãy và để thông báo cho thực tiễn nơi vai trò của điều dưỡng có thể cải thiện kết quả cho các nhóm người bệnh khác [17]

1.2.2 Thực trạng chăm sóc người bệnh gãy xương tại Việt Nam

Trang 22

Nghiên cứu trên 166 người bệnh gãy xương tại Bệnh viện đa khoa Trung ương Thái Nguyên cho thấy tại thời điểm 24h đầu sau mổ, toàn bộ NB tỉnh tiếp xúc tốt (100%), không có NB lơ mơ, kích thích vật vã và hôn mê; 24,7%NB có huyết áp cao hơn giới hạn bình thường; 4,2% NB có mạch nhanh Sau 3 ngày

và khi ra viện tất cả NB đều bình thường Phần lớn NB trong 24 giờ đầu sau mổ đau vừa chiếm tỷ lệ cao nhất có (68,7%), đau nhiều (19,2%), đau nhẹ ít (13,2%) Mức độ đau giảm dần sau 3 ngày và khi ra viện Phần lớn vết mổ của NB trong

24 giờ đầu sau mổ khô bình thường chiếm tỷ lệ cao nhất 157(94,6%), sưng nề

đỏ là 153 (92,2%), chảy rỉ máu là 6 (3,6%) Khi ra viện chỉ còn 1,8% NB có vết thương sưng nề đỏ Trong 24 giờ đầu sau mổ NBngủ được bình thường (46,4%), Ngủ ít hoặc không ngủ (8,4%); Sau 3 ngày NB ngủ bình thường là 95,8%; Thời điểm ra viện là 99,4% Tai biến trong 24 giờ đầu sau mổ có 3,6%

NB chảy máu vết mổ Sau 3 ngày, NK vết mổ là 6,6% NK hô hấp là 0,6%, NK tiết niệu là 1,2%, chảy máu vết mổ là 0,6% Thời điểm ra viện 100% NB ổn định

Đa phần NB trong 24 giờ đầu sau mổ được HDchế độ ăn chiếm tỷ lệ cao nhất 91,6%, giữ vệ sinh và giữ khô vết mổ 89,8%, HD theo dõi phát hiện biến chứng sau mổ 83,1%, vận động sớm là 41,0% Thời điểm ra viện HD theo dõi phát hiện biến chứng sau mổ là 90,9%, vận động sớm (92,2%), giữ vệ sinh và giữ khô vết

mổ (82,5%) Tại thời điểm 24h sau mổ có 96,3% NBcó tình trạng phẫu thuật tốt

và chỉ có 3,7% NBcó tình trạng khá Sau 3 ngày tỷ lệ NBcó tình trạng phẫu thuật khá là 11,5% Thời điểm ra viện phần lớn tình trạng sau phẫu thuật NB tốt là 93,3% Không có trường hợp nào có tình trạng xấu sau phẫu thuật[13]

Nghiên cứu tiến cứu, mô tả cắt ngang 124 người bệnh chấn thương hàm mặt đơn thuần, được điều trị tại Khoa Phẫu thuật Hàm mặt và Tạo hình - Bệnh viện Trung ương Quân đội 108, từ tháng 11/2020 đến tháng 05/2021 Kết quả: Tai nạn giao thông (86,29%), thường gặp ở nam giới (75,81%), lứa tuổi lao động (18 - 59) chiếm đa số (87,90%) Đa số người bệnh bị sưng nề (94,35%), 27,05% bị tổn thương niêm mạc miệng, có tới 56,45% người bệnh có vết thương phần mềm khác ngoài hàm mặt Tỷ lệ sưng, nề sau mổ giảm dần đến ngày ra

Trang 23

viện còn 35,48% Số lượng bạch cầu trung bình là 13,51 ± 0,71 (G/L) cao hơn bình thường, chẩn đoán bằng X-quang có tỷ lệ gãy tầng giữa mặt chiếm tỷ lệ cao hơn gãy xương hàm dưới với tỷ lệ 73,39% Kết quả phẫu thuật có 01 người bệnh (0,81%) bị nhiễm khuẩn vết mổ, tỷ lệ sưng nề sau mổ giảm dần, ngày thứ nhất là 100%, đến ngày thứ 3 tỷ lệ này giảm còn 98,38%, ngày thứ 5 là 83,87% và ngày

ra viện chỉ còn 35,48% Truyền thông giáo dục sức khỏe đều trên 80%; tốt nhất

là hướng dẫn quy chế bệnh viện và sử dụng thuốc đúng chỉ định chiếm 100% [7]

Nghiên cứu tại Bệnh viện Đại học Y Hà nội cho kết quả thời gian nằm viện sau phẫu thuật trung bình là 15,58 ± 4,26 ngày Người bệnh đau dữ dội lần lượt vào - Sốt: chiếm tỷ lệ cao nhất là ngày 1 (6,7%), tiếp đến ngày thứ 3 (20%), đến ngày 5 (14,2%, ngày 7 chỉ còn 2,5% Huyết áp bất thường: chiếm tỷ lệ cao nhất

là ngày 2 (12,5%), tiếp đến ngày thứ 1 (6,7%), đến ngày 5 (9,2%), ngày 7 chỉ còn 4,2% Đau sau mổ: NB đau dữ dội vào ngày 1 chiếm 5,8%, ngày 3 tăng lên 10,8%, ngày thứ 5 còn 7,5% và ngày 7 hết đau nhiều (0,0%) Ở mức đau vừa chiếm cao nhất vào ngày 3 (74,2%) và giảm tỷ lệ thấp nhất vào ngày 7 (6,7%) Riêng đau nhẹ ngày 1 chiếm 47,5% và tăng lên vào ngày thứ 7 chiếm 93,3% Trung tiện: ngày 1 chưa có NB trung tiện (100%), ngày 3 đã trung tiện chiếm 27,5%, ngày thứ 5 tăng lên được 71,7% và ngày thứ 7 có 100% NB đã trung tiện Về hoạt động chăm sóc: tỷ lệ chăm sóc vết mổ ≥ 1 lần/ngày chiếm 90%; chăm sóc ống dẫn lưu ≥ 1 lần/ngày chiếm 70%; chăm sóc ống thông tiểu ≥ 1 lần/ngày chiếm 67,5%; chăm sóc HMNT ≥ 1 lần/ngày chiếm 31,7% Kết quả chăm sóc tốt (77,5%); chăm sóc khá/trung bình (22,5%) Có sự khác biệt và có ý nghĩa thống kê giữa tuổi; giữa trình độ học vấn, giữa thời gian nằm viện với kết quả chăm sóc (p < 0,05) Giữa người bệnh được chăm sóc vết mổ và ống dẫn lưu < 1 lần/ngày và ≥ 1 lần/ngày; giữa chăm sóc hậu môn nhân tạo < 1 lần/ngày

và ≥ 1 lần/ngày với kết quả chăm sóc [12]

Nghiên cứu tại Bệnh viện Đa khoa khu vực Bồng Sơn – Bình Định cho thấy có hai người bệnh có bất thường về nhiệt độ chiếm tỷ lệ 5,4% và một người

Trang 24

bệnh có bất thường về huyết áp chiếm tỷ lệ 2,7% Ngày thứ nhất có 16 người bệnh rất đau chiếm tỷ lệ 43,2% Có 03 người bệnh có dấu hiệu chảy máu ngày thứ nhất chiếm tỷ lệ 8,1% Không có người bệnh nào có dấu hiệu chèn ép chi Ngày thứ nhất ngủ ít có 29 người bệnh chiếm tỷ lệ 78,5 và ngày thứ 2 ngủ ít có 5 người bệnh chiếm tỷ lệ 13,5%, không có người bệnh không ngủ được Ngày thứ nhất có 12 người bệnh ăn ít chiếm tỷ lệ 32,4% Tình trạng vận động chi gãy ngày thứ 3 với người bệnh tập gập gối tối đa có 32 người bệnh chiếm tỷ lệ 86,4% Không có người bệnh nào bị loét ép trong thời điểm nghiên cứu Có 2 người bệnh vết mổ bị rỉ dịch chiếm tỷ lệ 5,4% Thời gian nằm viện từ 5 - 7 ngày có15 người bệnh chiếm tỷ lệ 40,6%, 8 - 10 ngày có 12 người bệnh chiếm tỷ lệ 32,4% và trên 15 ngày có 01 người bệnh chiếm tỷ lệ 2,7%[6]

Một nghiên cứu mô tả cắt ngang hồi cứu trên 75 người bệnh gãy hở hai xương cẳng chân, được điều trị có sử dụng khung cố định ngoài loại FESSA tại Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức cho thấy kết quả liền phần mềm: tốt và rất tốt chiếm 69,3%; liền xương: tốt chiếm 65,4%, trung bình 30,8%; phục hồi chức năng: tốt và rất tốt chiếm 89% Khung cố định ngoài vẫn là phương tiện hữu dụng trong điều trị gãy hở hai xương cẳng chân[4]

Nghiên cứu mô tả tiến cứu 134 người bệnh phẫu thuật gãy xương chi trên

từ tháng 1 đến tháng 12 năm 2021 tại Khoa Ngoại Chấn thương, Bệnh viện Đa khoa Nông nghiệp cho thấy 83,6% người bệnh được chăm sóc ở mức tốt, trong

đó thời gian nằm viện trung bình của người bệnh sau phẫu thuật là 9,43 ± 3,2, có

41 (30,6%) người bệnh nằm viện dưới 7 ngày và 93 (69,4%) người bệnh nằm viện trên 7 ngày; tỷ lệ nhiễm khuẩn vết mổ là 0,7% Yếu tố tuổi và phân độ gãy

hở có liên quan đến kết quả chăm sóc với OR là 2,0 và 3,1 (p đều < 0,5)[8] Nghiên cứu tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Phú Thọ cho thấy các điều dưỡng đã chủ động thực hiện các nội dung chăm sóc người bệnh gãy xương theo như thông tư 07/2011 Người bệnh được thực hiện đầy đủ các y lệnh thuốc và điều trị Các điều dưỡng đã thực hiện tốt các hoạt động chăm sóc và tư vấn giáo dục

Ngày đăng: 08/03/2023, 08:29

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
11. Võ Thành Toàn, Ngô Hoàng Viễn và Nguyễn Minh Dương (2021), "Bước đầu đánh giá kết quả phẫu thuật thay lại khớp háng toàn phần tại bệnh viện Thống Nhất", Tạp chí Y học Việt Nam. 498(2) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bước đầu đánh giá kết quả phẫu thuật thay lại khớp háng toàn phần tại bệnh viện Thống Nhất
Tác giả: Võ Thành Toàn, Ngô Hoàng Viễn, Nguyễn Minh Dương
Nhà XB: Tạp chí Y học Việt Nam
Năm: 2021
12. Vũ Thị Quyến và Lê Thị Bình (2022), "Kết quả chăm sóc, điều trị người bệnh sau phẫu thuật ung thư đại trực tràng tại Bệnh viện Đại học Y Hà Nội", Tạp chí Y học Việt Nam. 512(2) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kết quả chăm sóc, điều trị người bệnh sau phẫu thuật ung thư đại trực tràng tại Bệnh viện Đại học Y Hà Nội
Tác giả: Vũ Thị Quyến, Lê Thị Bình
Nhà XB: Tạp chí Y học Việt Nam
Năm: 2022
13. Mai Thị Vân Hằng, Nguyễn Đình Phúc và Lê Hải Yến (2022), "Kết quả chăm sóc người bệnh sau mổ gãy xương chi dưới tại khoa ngoại bệnh viện trung ương Thái Nguyên", Tạp chí Y học Việt Nam. 508(1) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kết quả chăm sóc người bệnh sau mổ gãy xương chi dưới tại khoa ngoại bệnh viện trung ương Thái Nguyên
Tác giả: Mai Thị Vân Hằng, Nguyễn Đình Phúc, Lê Hải Yến
Nhà XB: Tạp chí Y học Việt Nam
Năm: 2022
14. Mai Thị Vân Hằng, Nguyễn Đình Phúc và Lê Hải Yến (2022), "Kết quả chăm sóc người bệnh sau mổ gãy xương chi dưới tại khoa ngoại Bệnh việnTrung ương Thái Nguyên", Tạp chí Y học Việt Nam. 508(1) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kết quả chăm sóc người病 sau mổ gãy xương chi dưới tại khoa ngoại Bệnh việnTrung ương Thái Nguyên
Tác giả: Mai Thị Vân Hằng, Nguyễn Đình Phúc, Lê Hải Yến
Nhà XB: Tạp chí Y học Việt Nam
Năm: 2022
15. Mai Văn Hạnh và Phạm Quốc Đạt (2022), "Đánh giá kết quả chăm sóc người bệnh sau phẫu thuật cắt thực quản tạo hình nội soi và một số yếu tố liên quan tại Bệnh viện K năm 2020 -2021", Tạp chí Y học Việt Nam.508(2).TIẾNG ANH Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá kết quả chăm sóc người bệnh sau phẫu thuật cắt thực quản tạo hình nội soi và một số yếu tố liên quan tại Bệnh viện K năm 2020 -2021
Tác giả: Mai Văn Hạnh, Phạm Quốc Đạt
Nhà XB: Tạp chí Y học Việt Nam
Năm: 2022
16. M. M. Al-Qadi (2021), "Workplace violence in nursing: A concept analysis", J Occup Health. 63(1), tr. e12226 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Workplace violence in nursing: A concept analysis
Tác giả: M. M. Al-Qadi
Nhà XB: J Occup Health
Năm: 2021
17. S. Allsop và J. Morphet (2021), "Exploring the roles of advanced practice nurses in the care of patients following fragility hip fracture: A systematic review". 77(5), tr. 2166-2184 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Exploring the roles of advanced practice nurses in the care of patients following fragility hip fracture: A systematic review
Tác giả: S. Allsop, J. Morphet
Năm: 2021
20. H. Fernandes, D. C. P. Sala và A. L. M. Horta (2018), "Violence in health care settings: rethinking actions", Rev Bras Enferm. 71(5), tr.2599-2601 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Violence in health care settings: rethinking actions
Tác giả: H. Fernandes, D. C. P. Sala, A. L. M. Horta
Nhà XB: Rev Bras Enferm.
Năm: 2018
21. A. Hommel và các cộng sự. (2012), "The Patient's View of Nursing Care after Hip Fracture", ISRN Nurs. 2012, tr. 863291 Sách, tạp chí
Tiêu đề: The Patient's View of Nursing Care after Hip Fracture
Tác giả: A. Hommel, et al
Nhà XB: ISRN Nurs.
Năm: 2012
12. Bộ Y tế (2004), Đạo đức và nghĩa vụ nghề nghiệp của người điều dưỡng, Nhà xuất bản Y học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đạo đức và nghĩa vụ nghề nghiệp của người điều dưỡng
Tác giả: Bộ Y tế
Nhà XB: Nhà xuất bản Y học
Năm: 2004
13. Bộ Y tế (2004), Điều dưỡng học và nguyên lý cơ bản về điều dưỡng- Tài liệu quản lý điều dưỡng, Nhà xuất bản Y học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Điều dưỡng học và nguyên lý cơ bản về điều dưỡng- Tài liệu quản lý điều dưỡng
Tác giả: Bộ Y tế
Nhà XB: Nhà xuất bản Y học
Năm: 2004
14. Bộ Y tế (2011), Thông tư 07/2011/TT- BYT ngày 26/01/0211 về việc hướng dẫn công tác điều dưỡng về chăm sóc người bệnh trong bệnh viện, chủ biên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư 07/2011/TT-BYT ngày 26/01/2011 về việc hướng dẫn công tác điều dưỡng về chăm sóc người bệnh trong bệnh viện
Tác giả: Bộ Y tế
Nhà XB: Bộ Y tế
Năm: 2011
15. Bộ Y tế (2014), Hướng dẫn chẩn đoán và điều trị các bệnh về cơ xương khớp, Nhà xuất bản Y học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hướng dẫn chẩn đoán và điều trị các bệnh về cơ xương khớp
Tác giả: Bộ Y tế
Nhà XB: Nhà xuất bản Y học
Năm: 2014
16. Lê Trung Hải (2011), Hướng dẫn chăm sóc người bệnh sau mổ, Nhà xuất bản Y học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hướng dẫn chăm sóc người bệnh sau mổ
Tác giả: Lê Trung Hải
Nhà XB: Nhà xuất bản Y học
Năm: 2011
17. Mai Thị Vân Hằng, Nguyễn Đình Phúc và Lê Hải Yến (2022), "Kết quả chăm sóc người bệnh sau mổ gãy xương chi dưới tại khoa ngoại Bệnh việnTrung ương Thái Nguyên", Tạp chí Y học Việt Nam. 508(1) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kết quả chăm sóc người bệnh sau mổ gãy xương chi dưới tại khoa ngoại Bệnh viện Trung ương Thái Nguyên
Tác giả: Mai Thị Vân Hằng, Nguyễn Đình Phúc, Lê Hải Yến
Nhà XB: Tạp chí Y học Việt Nam
Năm: 2022
18. Mai Văn Hạnh và Phạm Quốc Đạt (2022), "Đánh giá kết quả chăm sóc người bệnh sau phẫu thuật cắt thực quản tạo hình nội soi và một số yếu tố liên quan tại Bệnh viện K năm 2020 -2021", Tạp chí Y học Việt Nam.508(2) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá kết quả chăm sóc người bệnh sau phẫu thuật cắt thực quản tạo hình nội soi và một số yếu tố liên quan tại Bệnh viện K năm 2020 -2021
Tác giả: Mai Văn Hạnh, Phạm Quốc Đạt
Nhà XB: Tạp chí Y học Việt Nam
Năm: 2022
18. Louise Brent và các cộng sự. (2018), "Nursing care of fragility fracture patients", Injury. 49(8), tr. 1409-1412 Khác

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w