Báo cáo thực tập: Sự phát triển nguồn nhân lực - Vai trò của nó với sự nghiệp Công nghiệp hóa- Hiện đại hóa với nên kinh tế tri thực ở nước ta
Trang 1Đề tài: Sự phát triển nguồn nhân lực - vai trò của nó với sự nghiệp CNH - HĐH
và với nền kinh tế tri thức ở nớc ta Thực trạng và thách thức
-I Khái niệm nguồn nhân lực
Ngày nay, khi vai trò của nguồn nhân lực đang ngày càng đợc thừa nhận nh một yếu tố quan trọng bên cạnh vốn và công nghệ cho mọi sự tăng trởng thì một trong những yêu cầu để hoà nhập vào nền kinh tế khu vực cũng nh thế giới là phải có đợc một nguồn nhân lực có đủ sức đáp ứng đợc những yêu cầu của trình độ phát triển của khu vực, của thế giới, của thời
đại
Nguồn nhân lực là toàn bộ những ngời lao động đang có khả năng tham gia vào các quá trình lao động và các thế hệ nối tiếp sẽ phục vụ cho xã hội
Nguồn nhân lực với t cách là một yếu tố của sự phát triển kinh tế-xã hội là khả năng lao động cả xã hội đợc hiểu theo nghĩa hẹp hơn, bao gồm nhóm dân c trong độ tuổi lao động có khả năng lao động Với cách hiểu này nguồn nhân lực tơng đơng với nguần lao động
Nguồn nhân lực còn có thể hiểu là tổng hợp cá nhân những con ngời
cụ thể tham gia vào quá trình lao động, là tổng thể các yếu tố về thể chất và tinh thần đợc huy động vào quá trình lao động Với cách hiểu này nguồn nhân lực bao gồm những ngời từ giới hạn dới độ tuổi lao động trở lên
Nguồn nhân lực đợc xem xét trên giác độ số lợng và chất lợng Số l-ợng nguồn nhân lực đợc biểu hiện thông qua các chỉ tiêu quy mô và tốc độ tăng nguồn nhân lực Các chỉ tiêu này có quan hệ mật thiết với chỉ tiêu quy mô và tốc độ tăng dân số Quy mô dân số càng lớn, tốc độ tăng dân số càng cao thì dẫn đến quy mô và tốc độ tăng nguồn nhân lực càng lớn và ngợc lại Tuy nhiên, mối quan hệ dân số và nguồn nhân lực đợc biểu hiện sau một thời gian nhất định (vì đến lúc đó con ngời muốn phát triển đầy đủ, mới có khả năng lao động)
Khi tham gia vào các quá trình phát triển kinh tế-xã hội, con ngời
đóng vai trò chủ động, là chủ thể sáng tạo và chi phối toàn bộ quá trình đó, hớng nó tới mục tiêu nhất định Vì vậy, nguồn nhân lực không chỉ đơn thuần là số lợng lao động đã có và sẽ có mà nó còn phải bao gồm một tổng
Trang 2thể các yếu tố thể lực, trí lực, kỹ năng làm việc, thái độ và phong cách làm việc tất cả các yếu tố đó ngày nay đều thuộc về chất lợng nguồn nhân lực
và đợc đánh giá là một chỉ tiêu tổng hợp là văn hoá lao động Ngoài ra, khi xem xét nguồn nhân lực, cơ cấu của lao động-bao gồm cả cơ cấu đào tạo và cơ cấu ngành nghề cũng là một chỉ tiêu rất quan trọng
Cũng giống nh các nguần lực khác, số lợng và đặc biệt là chất lợng nguồn nhân lực đóng vai trò hết sức quan trọng trong việc tạo ra của cải vật chất và tinh thần cho xã hội
Để đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế và nhu cầu sử dụng lao động, những ngời lao động phải đợc đào tạo, phân bổ và sử dụng theo cơ cấu hợp
lý, đảm bảo tính hiệu quả cao trong sử dụng Một quốc gia có lực lợng lao
động đông đảo, nhng nếu phân bổ không hợp lý giữa các ngành, các vùng, cơ cấu đào tạo không phù hợp với nhu cầu sử dụng thì lực lợng lao động
đông đảo đó không những không trở thành nguần lực để phát triển mà nhiều khi còn là gánh nặng cản trở sự phát triển
vai trò của nó với sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá và với nền kinh tế tri thức ở nớc ta
Ngày nay, trớc sự phát triển nh vũ bão của cuộc cách mạng khoa học công nghệ và thông tin, sự giao lu trí tuệ và t tởng liên minh kinh tế giữa các khu vực trên thế giới Sự ra đời của nhiều công ty xuyên quốc gia đã tạo
ra tốc độ tăng trởng kinh tế cha từng thấy Tình hình đó đã dẫn đến sự quốc
tế hoá kinh tế thế giới, gây nên những đảo lộn về chính trị xã hối sâu sắc mang tính toàn cầu và đang đi đến thiết lập một trật tự thế giới mới Trong bối cảnh đó, khu vực châu á-Thái Bình Dơng đang nổi lên là khu vực kinh
tế năng động nhất Một trong những yếu tố chủ chốt thúc đẩy tăng trởng kinh tế nhanh chóng là vai trò của nguồn nhân lực
Nền kinh tế tri thức là kinh tế dựa trên các trụ cột chủ yếu là công nghệ thông tin, công nghệ sinh học, công nghệ vật liệu mới Để có đợc nền kinh tế tri thức cần phải xây dựng cơ sở hạ tầng vững chắc để phát triển khoa học công nghệ, đặc biệt là công nghệ thông tin; đồng thời phải đầu t cho phát triển giáo dục đào tạo hay nói cách khác phải đầu t cho phát triển nguồn nhân lực Suy cho cùng tri thức là hệ quả, là tất yếu của sự phát triển nguồn nhân lực Các nớc muốn phát triển nền kinh tế tri thức cần phải đầu
t cho phát triển con ngời mà cốt lõi là phát triển giáo dục và đào tạo,đặc biệt
Trang 3là đầu t phát triển nhân tài Nhà kinh tế học ngời Mỹ, ông Garry
Becker-ng-ời đợc giải thởng Nobel về kinh rế năm 1992, đã khẳng định:''không có đầu
t nào mang lại nguần lợi lớn nh đầu t cho giáo dục’’ (Nguồn: The Economist 17/10/1992) Nhờ có sự đầu t cho phát triển nguồn nhân lực mà nhiều nớc chỉ trong một thời gian ngắn đã nhanh chóng trở thành nớc công nghiệp phát triển
Việt nam là nớc đang phát triển có lực lợng sản xuất ở trình độ thấp, nền kinh tế tri thức đối với Việt Nam là khái niệm hoàn toàn mới mẻ Do vậy, có ý kiến cho rằng nền kinh tế tri thức đối với Việt Nam hiện nay quá
xa và không hiện thực; cho rằng Việt Nam phải xây dựng xong CNH, HĐH
để làm tiền đề cho kinh tế tri thức ra đời và phát triển, kinh tế tri thức không chỉ bao gồm các ngành mới xuất hiện dựa trên công nghệ cao, mà còn cả các ngành truyền thống đợc cải tạo bằng khoa học công nghệ cao Do đó không nên chờ cho đến khi sự nghiệp CNH, HĐH kết thúc mới tiến hành xây dựng kinh tế tri thức, mà ngay trong giai đoan này, để phát triển và theo kịp các nớc trên thế giới, chúng ta phải đồng thời quan tâm tới những lĩnh vực mà chúng ta có thể tiếp cận
Đối với Việt Nam, một đất nớc nông nghiệp, rõ dàng chúng ta không thể xây dựng và phát triển nền kinh tế tri thức nh các nớc công nghiệp phát triển Thực ra đó là sự tiếp tục quá trình CNH, HĐH đất nớc ở một trình độ cao hơn, dựa trên chất xám của con ngời Mặt khác do xuất phát điểm của lực lợng sản xuất của ta thấp, mà tiếp cận kinh tế tri thức ở Việt Nam phải phù hợp với điều kiện của Việt Nam, tức mang những đặc thù của mình Do
đó việc xác định nội dung các ngành kinh tế trong quá trình CNH, HĐH, chuẩn bị các điều kiện vật chất và con ngời để tiếp cận kinh tế tri thức trở thành nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của mọi cấp, mọi ngành, nhất là các cấp hoạch định chiến lợc Trong việc chuẩn bị ấy việc nghiên cứu thực trạng mạnh, yếu và tìm ra giải pháp phát triển nguồn nhân lực là quan trọng
và cấp bách nhất trong giai đoạn hiện nay
Theo kinh nghiệm của nhiều nớc thì nếu chỉ có lực lợng lao động
đông và rẻ thì không thể tiến hành công nghiệp hoá, mà đòi hỏi phải có một
đội ngũ lao động có trình độ chuyên môn cao Chính nhờ lực lợng lao động
có trình độ chuyên môn cao mà Nhật Bản và các nớc Nics (các nớc công nghiệp mới) vận hành có hiệu quả công nghệ nhập khẩu hiện đại, sản xuất
ra nhiều mặt hàng có sức cạnh tranh cao với các nớc công nghiệp phát triển trên thế giới
Trang 4Để đảm bảo thực hiện thành công sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện
đại hoá đất nớc, phải bồi dỡng và phát huy nhân tố con ngời Với t cách là mục tiêu và động lực phát triển, con ngời có vai trò to lớn không những trong đời sống kinh tế mà còn trong lĩnh vực hoạt động khác Bởi vậy phải quan tâm, nâng cao chất lợng con ngời, không chỉ với t cách là ngời lao
động sản xuất, mà với t cách là công dân trong xã hội, một cá nhân trong tập thể, một thành viên trong cộng đồng nhân loại không thể thực hiện
đ-ợc công nghiệp hoá, hiện đại hoá nếu không có đội ngũ đông đảo những công nhân lành nghề, những nhà khoa học kỹ thuật tài năng, giỏi chuyên môn nghiệp vụ, những nhà doanh nghiệp tháo vát, những nhà lãnh đạo, quản lý tận tuỵ, biết nhìn xa trông rộng
Vào những năm 80, quan điểm phát triển nguồn nhân lực đã trở thành vấn đề quan tâm đặc biệt ở châu á-Thái Bình Dơng Con ngời đợc coi
là yếu tố quan trọng nhất của sự phát triển Trong thời đại mới, muốn giải quyết hài hoà các yếu tố ciung và cầu có liên quan đến chiến lợc phất triển nguồn nhân lực thì cần xem xét khía cạnh nguồn nhân lực theo quan hệ một phía Phải thấy đợc vai trò sản xuất của nguồn là vấn đề cốt lõi của học thuyết vốn con ngời Và vai trò sản xuất của nguồn nhân lực có quan hệ chặt chẽ với vai trò tiêu dùng đợc thể hiện bằng chất lợng cuộc sống Cơ chế nối liền hai vai trò là trả công cho ngời lao động tham gia các hoạt
động kinh tế và thu nhập đầu t trở lại để nâng cao mức sống của con ngời tạo nên khả năng nâng cao mức sống cho toàn xã hội và làm tăng năng suất lao động các nớc nghèo ở châu á đều nhận thức do tốc độ tăng dân số quá nhanh nhiều quốc gia coi việc giảm đói nghèo còn quan trọng hơn cả giáo dục, đó là một thiệt thòi to lớn
Việt Nam đang hớng tới một nền kinh tế thị trờng theo định hớng xã hội chủ nghĩa có sự quản lý vĩ mô của Nhà nớc với mục tiêu bảo đảm cho dân giàu, nớc mạnh, xã hội công bằng văn minh, an ninh quốc gia và sự bền vững của môi trờng Nền kinh tế Việt Nam chỉ có thể đạt đợc tốc độ tăng tr-ởng nhanh, hiệu quả kinh tế-xã hội cao khi nền kinh tế ấy thực sự dựa trên cơ sở công nghiệp hoá, hiện đại hoá trong đó phải lấy việc phát huy nguồn lực con ngời làm yếu tố cơ bản cho sự phát triển bền vững
Trang 5III Thực trạng, thách thức và xu hớng phát triển của nguồn nhân lực Việt Nam.
1 Số lợng (quy mô) nguồn nhân lực Việt Nam.
a Quy mô nguồn nhân lực Việt Nam
Việt Nam là một trong những nớc đông dân số với quy mô dân số
đứng
thứ hai Đông nam á và thứ mời ba trên thế giới Một đất nớc với cơ cấu dân
số trẻ với số ngời trong độ tuổi 16-34 chiếm 60% trong tổng số 35,9 triệu ngời lao động: nguần bổ sung hàng năm là 3%-tức khoảng 1,24 triệu ngời Theo tổng điều tra dân số ngày 1-4-1999, quy mô dân số nớc ta là 76,3 triệu ngời và dự tính đến năm 2010 quy mô dân số nớc ta vào khoảng 95 triệuvà
số ngời trong tuổi lao động gần 58 triệu, chiếm 60,7% dân số Dự báo thời
kỳ 2001 đến 2010 cần tạo thêm chỗ làm việc mới cho khoảng 11-12 triệu lao động (cha kể số lao đông tồn động các năm chuyển sang), bình quân mỗi năm phải tạo thêm 1,1 đến 1,2 triệu chỗ làm việc mới Tính đến 1/7/2000, tổng lực lợng lao động cả nớc có 38.643.089 ngời, so với kết quả
điều tra tại thời điểm 1/7/1996 tăng bình quân hàng năm là 975.645 ngời, với tốc độ tăng 2,7% một năm, trong khi tốc độ tăng bình quân hàng năm của thời kỳ này là 1,5% một năm
Chỉ tính riêng số lợng cán bộ chính quyền cơ sở ( bao gồm cán bộ công tác ở các xã, phờng, thị trấn) cũng cho ta thấy nớc ta có số lợng lao
đông đảo, số lợng lao động ngày một gia tăng Theo quy định trong Nghị
định 174/CP ban hành tháng 9 năm 1994, cơ cấu số lợng của uỷ ban nhân dân xã, phờng, thị trấn gồm có 1 chủ tịch, 1 phó chủ tịch và 5 uỷ viên uỷ ban Với khoảng 1 vạn xã, đội ngũ cán bộ chính quyền cơ sở gồm có số l-ợng trên dới 70000 ngời Tuy nhiên, nếu tính theo cách định biên theo cơ cấu cán bộ cơ sở theo Nghị định 50-CP ngày 26-7-1995 thì ngoài số uỷ viên
uỷ ban đã nêu trên, còn có chức danh khác đợc bố trí theo yêu cầu của từng
địa phơng với mức quy định nh sau:
- Dới 5000 dân: 12 cán bộ
- Từ 5000 dân đến dới 10000 dân : 14 cán bộ
- Từ 10000 dân đến 15000 dân :16 cán bộ
- Từ 15000 dân đến 20000 dân :18 cán bộ
Trang 6- Từ 20000 dân trở lên tối đa không quá 20 cán bộ.
Từ số cán bộ làm công tác đoàn thể, số cán bộ chính quyền cơ sở
gồm chủ tịch uỷ ban nhân dân, phó chủ tịch uỷ ban nhân dân và các thành
viên của uỷ ban dao động từ khoảng 7 đến 13 ngời tuỳ theo từng loại xã
Đến Nghị định 09/1998/NĐ-CP ban hành ngày 23-1-1998 số lợng
cán bộ chính quyền cơ sở loại xã sau đây đợc ấn định nh sau :
- Dới 10000 dân :17-19 cán bộ
- Từ 10000 đến 20000 dân: 19-21 cán bộ
- Trên 20000 dân cứ thêm 3000 dân thêm 1 cán bộ, tối đa không
quá 25 cán bộ
Nh vậy, nếu trừ số cán bộ làm công tác đoàn thể, số lợng cán bộ làm
công tác chính quyền cơ sở đã tăng lên ở từng loại xã từ 3 đến 5 ngời và
nếu lấy bình quân mỗi xã có khoảng 20 cán bộ, thì tổng số cán bộ chính
quyền cơ sở trong cả nớc sẽ vào khoảng trên dới 150.000 ngời So với đội
ngũ công chức hành chính trong cả nớc từ cấp huyện lên trung ơng hiện có
khoảng trên dới 200.000 ngời, thì đội ngũ cán bộ làm công tác chính quyền
cơ sở không phải là nhỏ Ngoài số đó ra còn có khoảng 200.000 là đại biểu
hội đồng dân c, những ngời đang đợc chính quyền cơ sở trao những quyền
hạn nhất định về mặt chính quyền, hợp thành một đội ngũ cán bộ đông đảo
ở cơ sở và trong toàn quốc
So với các nớc trong khu vực, quy mô dân số Việt Nam cùng với
Philippin và Thái Lan ở vào khoảng trung bình Nhng nếu so sánh với thế
giới thì về quy mô dân số, Việt Nam đứng thứ 13, còn trong ASEAN, Việt
Nam xếp thứ hai, chỉ sau Inđônêxia điều đó đợc thể hiện qua bảng sau:
Một số chỉ tiêu về dân số và lao động của các nớc ASEAN
Nớc
Dânsố 1994 (Triệu ng-ời)
Tỷ lệ tăng dân số(%) Lực lợng lao động
1960-1992 1992-2000
1994 (triệu ngời)
% tăng giai đoạn 90-94
% trong dân số
Trang 7Philippin 68,6 2,7 2,0 27,48 3,0 56
Nguồn: - Chỉ tiêu và chỉ số phát triển con ngời,Nxb Thống kê, Hà Nội,
1995.
Xem bảng trên ta thấy dân số trong toàn khối giai đoạn 1960-1992
còn khá cao, trừ Xingapo có tỷ lệ là 1,7% và trải qua thời kỳ chuyển tiếp
dân số Trong giai đoạn 1992-2000, có thêm Inđônêxia và Thái Lan giảm
đ-ợc tỷ lệ tăng dân số Riêng Việt Nam luôn nằm ở nhóm có tỷ lệ gia tăng
dân số cao trong khu vực: 2,2% trong giai đoạn 1992-2000 điều này dẫn
đến sự gia tăng lực lợng lao động trong những năm 90 còn cao ở phần lớn
các nớc trong khối: Malaixia là 2,8%; Philippin là 3%; Việt Nam là 2,8%;
Xingapo là 2,9% Với tốc độ tăng dân số nhanh và còn đợc duy trì nh vậy,
tỷ lệ gia tăng lực lợng lao động của Việt Nam trong cả giai đoạn 1960-1992
và tiếp theo cho đến nay là điều khó tránh khỏi Năm 1986, Việt Nam mới
có 30,3 triệu ngời trong độ tuổi lao động thì đến năm 1995 đã tăng đến 40,2
triệu ngời, bình quân mỗi năm tăng khoảng một triệu ngời, tức là khoảng
3,22% Ngoài ra còn phải kể đến số ngời ngoài độ tuỏi lao động nhng thực
tế có làm việc cũng tăng lên, tạo thành một nguần cung cấp về lao động khá
dồi dào: cuối năm 1995 có 3,7 triệu ngời, trong đó có 1,3-1,4 triệu trẻ em
(nguần: kim Ngọc Cơng, ''phân tích và dự báo thị trờng lao động ở nớc ta'',
Bộ kế hoạch và đầu t, tạp chí kinh tế và dự báo, số 5/1997, tr.19)
Đối với Việt Nam, ngoài hai yếu tố về số ngời trong và ngoài độ tuổi
lao động kể trên, còn có thể tính đến một số yếu tố mang tính chất biến
động cơ học làm tăng nguần lao động của Việt Nam hiện nay nh: số bộ đội
giải ngũ; số lao động đi làm ở các nớc Đông Âu, Trung Đông trở về; số
ng-ời tỵ nạn ở Thái Lan, Hồng Kông, Malaixia, Việt kiều ở Campuchia hồi
h-ơng…
Nh vậy, Việt Nam có nguồn nhân lực dồi dào và thờng xuyên đợc bổ
sung bằng đội ngũ lao động trẻ, hùng hâụ, tạo nên một trong những u thế
cho Việt Nam trong việc tham gia và hoà nhập vào nền kinh tế khu vực va
thế giới
b Quy mô nguồn nhân lực qua đào tạo cuả Việt Nam và việc sử dụng
nguồn nhân lực này.
Trang 8Việt Nam tuy có lực lợng lao động dồi dào nhng lực lợng lao động đã
qua đào tạo thực tế lại thiếu đó là mâu thuẫn về quy mô của nguồn nhân
lực nớc ta, chúng ta vừa thừa vừa thiếu nguồn nhân lực
Hiện nay đội ngũ cán bộ, công chức trong các cơ quan quản lý nhà
n-ớc thuộc các bộ, các ngành ở các cơ quan trung ơng có 129763 ngời, trong
đó có 74% công chức có trình độ từ đại học trở lên
Khi nói đến nguồn nhân lực của một quốc gia thờng ngời ta hay quan
tâm đến số lợng học sinh, sinh viên đợc đào tạo hàng năm ở các trờng
trung học chuyên nghiệp, trờng công nhân kỹ thuật, các trờng đại học, cao
đẳng trong quốc gia đó Bởi đó là con số nói lên số lao động đợc đào tạo
hàng năm và chất lợng nguồn nhân lực của quốc gia ở Việt Nam, số học
sinh và sinh viên thuộc các trờng trung học chuyên nghiệp, kỹ thuật, cao
đẳng và đại học trong cả nớc từ năm 1992 đến năm 1997 (chỉ tính học sinh,
vị tính: 1.000 ngời
Trung học chuyên nghiệp 107,8 119,0 155,6 170,5 172,4 164,1
Số tốt nghiệp 43,5 44,9 49,0 56,3 59,3 68,3 Công nhân kỹ thuật 57,6 68,7 74,7 58,7 69,9 102,5
Số tốt nghiệp 35,2 38,0 64,9 66,4 75,1 70,6 Cao đẳng, đại học 136,8 157,1 203,3 297,9 509,3 662,8
Số tốt nghiệp 24,8 29,1 36,9 58,5 78,5 74,1
Nguồn: niên giám thống kê 1998-Nxb Thống kê, 1999, tr342, 345
&349
Theo bảng trên ta thấy, cơ cấu đào tạo ở các cấp bậc rất khác nhau, số
sinh viên cao đẳng,đại học tăng nhanh trong những năm gần đây, trong khi
đó số học sinh trung học chuyên nghiệp và công nhân kỹ thuật tăng rất
chậm và biến đổi bất thờng khi lên khi xuống nhất là số công nhân kỹ
thuật Nếu năm 1994 các trờng công nhân kỹ thuật có 74.700 học sinh, thì
năm 1995 còn 58.700 học sinh , song đến năm 1997 lại tăng lên 102.500
học sinh Chính điều đó tạo nên sự thiếu hụt lớn số công nhân kỹ thuật và
cán bộ có trình độ trung cấp, và ngợc lại dẫn tới sự lãng phí chất xám, bởi
sẽ có những sinh viên có trình độ cao đẳng hoặc đại học đảm nhận những
công việc của công nhân kỹ thuật hoặc trung cấp Hiện nay số sinh viên đại
học, cao đẳng vẫn tiếp tục tăng nhanh, năm 2000 số sinh viên cao đẳng, đại
học là gần 1 triệu bằng 1,8 lần năm 1995, vợt dự kiến kế hoạch 5 năm
Trang 9(1996-2000) là 13% (Lê Quang Trung: biện pháp cho vấn đề lao động thất nghiệp ở thành thị-Vụ chính sách lao động và việc làm) và năm học
2001-2002 tổng chỉ tiêu cho các trờng cao đẳng, đại học tăng 5% tức khoảng 160.000 sinh viên, tăng 10.000 sinh viên so với năm trớc
Số học sinh, sinh viên tốt nghiệp các trờng trung học chuyên nghiệp,
kỹ thuật, cao đẳng và đại học năm 1992 là 103.500 ngời, thì đến năm 1996
là 212.900 ngời và năm 1997 là 213.000 ngời bổ sung cho nguồn nhân lực của đất nớc
Tỷ lệ lao động đợc đào tạo trong tổng lực lợng lao động xã hội tăng lên hằng năm đợc thể hiện qua bảng sau:
Năm Tỷ lệ lao động đợc đào tạo/tổng lực lợng lao động xã hội(%)
Nguồn: dự thảo Nghị quyết Trung ơng 4 khoá 8-Bộ chính trị.
Tính đến năm 1998, số cán bộ có trình độ cao đẳng, đại học, trên đại học là trên 930.000 ngời, trong đó khoảng trên 10.000 ngời là cán bộ có trình độ trên đại học đội ngũ này chiếm 2,3% lực lợng lao động xã hội Số sinh viên tốt nghiệp đại học hàng năm khoảng 25.000 ngời có học vị trên
đại học bổ xung vào nguồn nhân lực chất lợng câo Hàng năm ở Việt Nam
tỷ lệ cán bộ có trình độ cao đẳng, đại học trên 1000 dân đang tăng lên:
Năm Tỷ lệ cán bộ có trình độ cao đẳng, đại học/1000 dân
Trong khi đó ở các nớc khác là:
Nớc Tỷ lệ cán bộ có trình độ cao đẳng, đại học/1000 dân
Trang 10Nhật bản 70
Nguồn:Võ Đại Lợc-CNH, HĐH ở Việt Nam đến năm 2000 Nxb KHXH,Hà
Nội.
So sánh các số liệu trên ta thấy giữa số lợng nguồn nhân lực đợc đào
tạo ở Việt Nam so với các nớc khác vẫn đang còn khoảng cách khá xa, chứ
cha nói đến nguồn nhân lực có chất lợng cao Mặt khác cơ cấu đào tạo
nguồn nhân lực cũng cha phù hợp, thể hiện ở cỗ một số ngành đợc đào tạo ồ
ạt nh ngành kinh tế, luật trong khi đó các ngành kỹ thuật, công nghệ tin
học, khoa học cơ bản cha đợc coi trọng đúng mức
Do đó, xét cả những điều kiện kinh tế-xã hội lẫn những điều kiện về
nguồn nhân lực cho thấy chúng ta cha đủ điều kiện để xây dựng nền kinh tế
tri thức, mà chỉ tiếp cận nó trên một số lĩnh vực chúng ta có khả năng
2 Về giá nhân công.
Hiện nay, giá nhân công ở Việt Nam vẫn còn rất thấp không chỉ so
với các nớc trên thế giới mà ngay cả với các nớc trong khu vực
Bảng:Lơng tháng trung bình trong công nghiệp của một số nớc
ASEAN
theo ftăng)
* Là số thu nhập bình quân/ngời/tháng năm 1993.
Nguồn: Thái Lan, ISEAS, Việt Nam, Điều tra giầu nghèo 1993.
Nhìn chung, ở Việt Nam hiện nay, trừ một số doanh nghiệp làm ăn
có hiệu quả, còn phần lớn các doanh nghiệp hoặc cơ quan nhà nớc, mức
l-ơng chỉ phổ biến là 250000-350000 đồng/tháng ( tức là gần 24-34 đô la/
tháng hay xấp xỉ trên dới 1 đô la/ngày) trong khi đó, ngày công ở Băng
Cốc (Thái Lan) năm 1992 đã là 115 bạt, tức là 30 frăng hay hơn 5 đô la; ở
Jakarta (Inđônêxia) là 3000 rubi, tức là 8 frăng hay 11,5 đô la Còn theo số