1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Tiểu luận chính trị học so sánh

13 10 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tiểu luận Chính trị học So Sánh
Trường học Đại học Quốc gia Hà Nội
Chuyên ngành Chính trị học
Thể loại Tiểu luận
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 13
Dung lượng 33,81 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

học Chính trị học là một bộ môn khoa học nghiên cứu lĩnh vực chính trị của đời sống xã hội nhằm tìm ra quy luật chính trị của đời sống xã hội nhằm tìm ra công cụ để thực hiện nó thành hiện thực. Chính trị học so sánh là khoa học nghiên cứu và so sánh các vấn đề, nội dung chính trị (tư tưởng chính trị, văn hóa chính trị, thể chế chính trị, hoạt động chính trị, quan hệ chính trị…) của các quốc gia hoặc khu vực thế giới trong lịch sử và trong gia đoạn hiện nay nhằm tìm ra những điểm tương đồng và khác biệt, từ đó có nhận thức khách quan về đời sống chính trị thế giới và khu vực, phục vụ nhu cầu phát triển và bảo vệ lợi ích quốc gia. Đối tượng nghiên cứu của chính trị học so sánh Căn cứ vào tính chất ghép của thuật ngữ , có thể xác định vai trò của Chính trị học so sánh ở 2 khía cạnh: 1) Đơn vị xác định và các chế độ chính trị trong lịch sử thế giới là quốc gia, khu vực (trả lời câu hỏi: cái gì được so sánh 2) Phương pháp cơ bản nhất là so sánh (trả lời câu hỏi: làm như thế nào) Phạm vi nghiên cứu: thời gian và không gian. • Về thời gian: các chế độ chính trị trong lịch sử, các quốc gia – dân tộc, các nhà nước trong giai đoạn lịch sử khác nhau. • Về không gian: 4 cấp độ so sánh 1) Các bộ phận, các vùng địa phương của quốc gia (nhà nước, đảng phái, các nhóm lợi ích, các chính quyền địa phương); 2) Quốc gia; 3) Khu vực quốc tế (Tây Âu, Đông Nam Á…) hoặc không gian liên kết quốc tế (EU,ASEAN…) hoặc loại hình chính trị đồng nhất (các nước phát triển, các nước đang phát triển); 4) Xã hội toàn cầu (cấp độ cao nhất có thể so sánh phương Đông – phương Tây, các châu lục hoặc so sánh biện chứng về lịch sử phát triển của chủ nghĩa tư bản, chủ nghĩa xã hội thế giới…) Việc phân loại chế độ chính trị là nhiệm vụ của chính trị học so sánh, dựa trên những đặc điểm nhất định. Những quốc gia cùng một nhóm phải có chung những điểm bản chất. Vì vậy, cần phải đưa ra các tiêu chí để so sánh có hiệu quả nhất. Vì vậy, cần phải đưa ra các tiêu chí để so sánh có hiệu quả nhất. Ví dụ: thế giới ngày nay thường được chia thành các nước tư bản chủ nghĩa và các nước xã hội chủ nghĩa. Phân loại theo đặc điểm chính trị khu vực, thường xét theo 3 nội dung cơ bản đó là: Văn hóa chính trị, thể chế chính trị, quan hệ chính trị: Chính trị học so sánh nghiên cứu những vấn đề chính trị cơ bản: mô hình chính trị, văn hóa chính trị, thể chế chính trị, quan hệ chính trị giữa các khu vực trên thế giới, trong các thời kỳ lịch sử và đương đại nhằm tìm ra những điểm tương đồng và khác biệt, làm rõ đặc điểm chính trị, vị trí, vai trò của các khu vực trong đời sống chính trị thế giới và xu thế phát triển trong tương lai. Trong chính trị học so sánh, việc phân loại không chỉ nhằm mục đích xác lập các loại hình chế độ chính trị phổ quát, mà thực sự nó cần đạt đến sự khu biệt mang tính địa lý hay tính khu vực của các loại hình chế độ chính trị. Việc phân loại các quốc gia trên thế giới thành một số lượng hữu hạn. các loại hình khu vực về các phương diện chính trị, kinh tế, văn hóa, nhân chủng… có giá trị nhận thức khoa học cao. Một số quốc gia mới giành đươc độc lập cũng trở thành đối tượng nghiên cứu của Chính trị học so sánh, nhất là quá trình phát triển chính trị theo hướng dân chủ hóa hay độc tài ở các nước đó. Nghiên cứu các khu vực trên thế giới được chính phủ các nước phương Tây trong mọi thời kỳ ủng hộ bởi vì thông qua đó sẽ thúc đẩy chính sách thực dân và phát triển kinh tế đối ngoại. Quá trình khám phá và xâm chiếm các vùng đất mới phục vụ sự phát triển của chủ nghĩa

Trang 1

TIỂU LUẬN MÔN: CHÍNH TRỊ HỌC SO SÁNH ĐỐI TƯỢNG, NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU CỦA MÔN HỌC

Trang 2

Câu 1: Chính trị học so sánh: Đối tượng, nhiệm vụ nghiên cứu của môn học

Chính trị học là một bộ môn khoa học nghiên cứu lĩnh vực chính trị của đời sống xã hội nhằm tìm ra quy luật chính trị của đời sống xã hội nhằm tìm

ra công cụ để thực hiện nó thành hiện thực

Chính trị học so sánh là khoa học nghiên cứu và so sánh các vấn đề, nội dung chính trị (tư tưởng chính trị, văn hóa chính trị, thể chế chính trị, hoạt động chính trị, quan hệ chính trị…) của các quốc gia hoặc khu vực thế giới trong lịch sử và trong gia đoạn hiện nay nhằm tìm ra những điểm tương đồng

và khác biệt, từ đó có nhận thức khách quan về đời sống chính trị thế giới và khu vực, phục vụ nhu cầu phát triển và bảo vệ lợi ích quốc gia

Đối tượng nghiên cứu của chính trị học so sánh

Căn cứ vào tính chất ghép của thuật ngữ , có thể xác định vai trò của Chính trị học so sánh ở 2 khía cạnh:

1) Đơn vị xác định và các chế độ chính trị trong lịch sử thế giới là quốc gia, khu vực (trả lời câu hỏi: cái gì được so sánh

2) Phương pháp cơ bản nhất là so sánh (trả lời câu hỏi: làm như thế nào)

Phạm vi nghiên cứu: thời gian và không gian

 Về thời gian: các chế độ chính trị trong lịch sử, các quốc gia – dân tộc, các nhà nước trong giai đoạn lịch sử khác nhau

 Về không gian: 4 cấp độ so sánh

1) Các bộ phận, các vùng địa phương của quốc gia (nhà nước, đảng phái, các nhóm lợi ích, các chính quyền địa phương);

2) Quốc gia;

3) Khu vực quốc tế (Tây Âu, Đông Nam Á…) hoặc không gian liên kết quốc tế (EU,ASEAN…) hoặc loại hình chính trị đồng nhất (các nước phát triển, các nước đang phát triển);

Trang 3

4) Xã hội toàn cầu (cấp độ cao nhất có thể so sánh phương Đông – phương Tây, các châu lục hoặc so sánh biện chứng về lịch sử phát triển của chủ nghĩa tư bản, chủ nghĩa xã hội thế giới…)

Việc phân loại chế độ chính trị là nhiệm vụ của chính trị học so sánh, dựa trên những đặc điểm nhất định Những quốc gia cùng một nhóm phải có chung những điểm bản chất Vì vậy, cần phải đưa ra các tiêu chí để so sánh

có hiệu quả nhất Vì vậy, cần phải đưa ra các tiêu chí để so sánh có hiệu quả nhất Ví dụ: thế giới ngày nay thường được chia thành các nước tư bản chủ nghĩa và các nước xã hội chủ nghĩa Phân loại theo đặc điểm chính trị khu vực, thường xét theo 3 nội dung cơ bản đó là: Văn hóa chính trị, thể chế chính trị, quan hệ chính trị:

Chính trị học so sánh nghiên cứu những vấn đề chính trị cơ bản: mô hình chính trị, văn hóa chính trị, thể chế chính trị, quan hệ chính trị giữa các khu vực trên thế giới, trong các thời kỳ lịch sử và đương đại nhằm tìm ra những điểm tương đồng và khác biệt, làm rõ đặc điểm chính trị, vị trí, vai trò của các khu vực trong đời sống chính trị thế giới và xu thế phát triển trong tương lai

Trong chính trị học so sánh, việc phân loại không chỉ nhằm mục đích xác lập các loại hình chế độ chính trị phổ quát, mà thực sự nó cần đạt đến sự khu biệt mang tính địa lý hay tính khu vực của các loại hình chế độ chính trị Việc phân loại các quốc gia trên thế giới thành một số lượng hữu hạn các loại hình khu vực về các phương diện chính trị, kinh tế, văn hóa, nhân chủng… có giá trị nhận thức khoa học cao Một số quốc gia mới giành đươc độc lập cũng trở thành đối tượng nghiên cứu của Chính trị học so sánh, nhất là quá trình phát triển chính trị theo hướng dân chủ hóa hay độc tài ở các nước đó Nghiên cứu các khu vực trên thế giới được chính phủ các nước phương Tây trong mọi thời kỳ ủng hộ bởi vì thông qua đó sẽ thúc đẩy chính sách thực dân và phát triển kinh tế đối ngoại Quá trình khám phá và xâm chiếm các vùng đất mới phục vụ sự phát triển của chủ nghĩa tư bản đã khiến cho nhiều học giả phương

Trang 4

Tây có điều kiện tiếp xúc với nhiều dân tộc, bộ tộc xa lạ ở Châu Á, châu Phi

và châu Mỹ

Khó khăn trong so sánh khu vực là cần xác định hệ tiêu chí phân loại

để nhận thức đứng đắn bản sắc chính trị của khu vực, giúp xác định được những nét đồng nhất và khác biệt mang tính bản chất giữa các quốc gia? Các quốc gia và khu vực là những thực thể phức tạp, vậy các tiêu chí đó nên ưu tiên thứ tự như thế nào, cái nào là them chốt, cái nào là thứ yếu? Mục đích phân loại để làm gì? Nếu sự phân loại nhằm mục tiêu vụ lợi, lại bị các thế lực chính trị nào đó lợi dụng vì mục đích đen tối, sự so sánh sẽ không còn mang tính khách quan nữa

Tuy nhiên, cần nhấn mạnh là giữa các quốc gia trên thế giới luôn tồn tại những nét giống nhau Chính trị học so sánh phải thực hiện sự phân loại các khu vực theo hàng loạt tiêu chí tổng hợp về văn hóa, chính trị, kinh tế, địa lý Điều này là khó thực hiện do sự phức tạp của các tiêu chí đó Vì vậy, các nhà nghiên cứu chỉ có thể tiến hành phân loại trên từng lĩnh vực mà thôi Ví dụ phân loại theo đặc điểm chính trị khu vực, thường xét theo ba nội dung cơ bản: văn hóa chính trị, thể chế chính trị, quan hệ chính trị

Văn hóa chính trị: là tổng hòa các giá trị, truyền thống chính trị được xác lập, duy trì trong lịch sử, nền tảng của nền chính trị đương thời; là hệ tư tưởng, ảnh hưởng của tôn giáo đến chính trị Văn hóa chính trị là nền tảng hình thành hệ thống chính trị của các quốc gia

Thể chế chính trị: Cấu trúc tổ chức chính trị, bộ máy nhà nước; nguyên tắc tổ chức và phương thức vận hành của các tổ chức trong hệ thống chính trị/

Quan hệ chính trị: quan hệ giữa các quốc gia trong khu vực thể hiện sự gắn kết, bảo vệ những giá trị mang tính bản sắc riêng của khu vực; quan hệ với các khu vực và các nước khác trên thế giới thể hiện vị trí, vai trò của khu vực trong quan hệ quốc tế

Chính trị học so sánh nghiên cứu những vấn đề chính trị cơ bản: mô hình chính trị, văn hóa chính trị, thể chế chính trị, quan hệ chính trị giữa các

Trang 5

khu vực trên thế giới, trong các thời kỳ lịch sử và đương đại nhằm tìm ra những điểm tưởng đồng và khác biệt, làm rõ đặc điểm chính trị, vị trí, vai trò của các khu vực trong đời sống chính trị thế giới và xu thế phát triển trong tương lai

Từ những cách tiếp cận như trên, có thể hiểu Đối tượng nghiên cứu của Chính trị học so sánh nghiên là tìm ra những quy luật tính quy luật chung nhất của đời sống chính trị của các quốc gia, các khu vực và toàn thế giới tìm ra thông qua phương pháp phân tích, so sánh phục vụ cho việc xây dựng và hoàn thiện nền chính trị quốc gia, bảo vệ và phát triển lợi ích dân tộc

Nhiệm vụ nghiên cứu của chính trị học so sánh

Chính trị học so sánh phải trả lời được những câu hỏi:

1) Tại sao các thiết chế và chủ thể kinh tế - xã hội khác nhau lại đạt được những kết quả khác nhau trong khi chúng đều cùng bị chi phối bởi những bối cảnh quốc gia hay khu vực nhất định như nhau, xét từ góc độ kinh

tế, chính trị và an ninh?

2) Những mô hình chính trị thành công có thể chuyển giao ở mức

độ nào cho các điều kiện xã hội khác?

3) Các quá trình toàn cầu đã tác động như thế nào đến sự phát triển của các khu vực, quốc gia?

Chính trị học so sánh có những nhiệm vụ sau:

Thứ nhất: mô tả, phân tích đúng đắn các mô hình chế độ chính trị trong

khu vực, đặc điểm chính trị trong lịch sử, đặc điểm chính trị các khu vực trên thế giới Cung cấp kiến thức tương đối toàn diện và đáng tin cậy về các quốc gia và các khu vực trên thế giới về các mặt địa lý, văn hóa, kinh tế, chính trị,

xã hội Hệ thống hóa những kiến thức về các khu vực và các nước, nhất là các nước láng giềng cùng khu vực nhằm tạo cơ sở khoa học cho việc phát triển chính sách đối ngoại và hợp tác nhiều mặt với các nước và khu vực đó

Thứ hai: so sánh để tìm ra điểm tương đồng và khác biệt về chính trị

giữa các thời đại trong lịch sử và giữa các khu vực trong giai đoạn hiện nay

Trang 6

So sánh để tìm ra những quy luật chung và những nét đặc thù của các mô hình chính trị và các khu vực trên thế giới

Thứ ba: đánh giá về những ưu điểm và hạn chế của các chế độ chính

trị, thể chế chính trị từ đó đề xuất khả năng vận dụng những ưu điểm đó vào xây dựng và hoàn thiện thể chế chính trị nước mình

Thứ tư: tìm ra những đặc điểm riêng, những nét đặc thù của cá chế độ

chính trị, chỉ ra được sự biến đổi, thừa kế và phát triển qua các thời kỳ lịch

sử, nhận thức rõ bản sắc chính trị của từng khu vực trên thế giới và mối quan

hệ của nó với các khu vực khác

Thứ năm: đánh giá một cách khoa hoạc quy luật phát triển và vị thế

quốc tế của các quốc gia hay khu vực được nghiên cứu Trong đó cơ bản nhất

là xác định được cơ sở về mọi mặt của các quốc gia điển hình trung tâm

Thứ sáu: đào tạo chuyên gia về các khu vực quốc tế Họ không chỉ có

những kiến thức lý thuyết, mà đồng thời còn là những người đi mở đường cho các quan hệ kinh tế, văn hóa, chính trị với các nước, các khu vực được nghiên cứu Họ cần được trang bị cả kiến thức, ngôn ngữ giao tiếp của quốc gia hay khu vực để làm việc trực tiếp tham gia vào hoạt động kinh doanh, quan hệ quốc tế và phân tích khu vực

Trang 7

Câu 2: Chế độ chính trị tư bản chủ nghĩa: Bản chất, đặc điểm, giá trị và hạn chế

Cơ sở kinh tế - xã hội: Chế độ chính trị tư bản chủ nghĩa được xác lập trên cơ sở quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa, với nền đại công nghiệp cơ khí phát triển mạnh mẽ Quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa dựa trên nền tảng của

sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất và bóc lột giá trị thặng dư Chủ nghĩa tư bản hiện đại bắt đầu sự vận động của nó trên cơ sở vật chất kỹ thuật mới về chất: kinh tế tri thức, sở hữu trí tuệ, phương thức quản lý hợp lý,…

Bản chất của chế độ chính trị tư bản chủ nghĩa

Chính trị tư bản chủ nghĩa mang bản chất của giai cấp tư sản – giai cấp nắm quyền kiểm soát kinh tế dựa trên chế độ tư hữu tư nhân Giai cấp tư sản

là chủ sở hữu lợi ích kinh tế đồng thời là chủ sở hữu quyền lực trong xã hội Thể chế nhà nước phục vụ cho giai cấp tư sản cầm quyền

Cơ sở tư tưởng của chính trị tư bản chủ nghĩa là chủ nghĩa cá nhân và

tự do tư sản Hai hệ tư tưởng chủ nghĩa tự do và chủ nghĩa cá nhân ủng hộ cho chủ nghĩa tư bản quyết liệt nhất, chống lại các tư tưởng phê phán nó, nhất

là từ chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản Tuy nhiên chủ nghĩa tự do và chủ nghĩa cá nhân là những khái niệm rộng, thể hiện khuynh hướng chính trị trên nhiều phương diện, trong khi chủ nghĩa tư bản thường hay được xem là một hình thái kinh tế nảy sinh tất yếu từ chủ nghĩa tự do kinh tế Chủ nghĩa tự

do xuất phát từ nền tảng đề cao quyền tự định đoạt của cá nhân ủng hộ cho chủ nghĩa tư bản, xem nó là hệ quả tất yếu của nền kinh tế tự do, mà các quyền kinh doanh và lao động không chịu sự cưỡng ép từ phía nhà nước Sự phân hóa xã hội là một hệ quả tất yếu của một nền kinh tế tự do Trong khi đó chủ nghĩa bảo thủ ủng hộ cho chủ nghĩa tư bản dựa trên nền tảng coi đó là một quá trình tự nhiên, không phụ thuộc vào ý chí của các chủ thể cầm quyền dựa theo các lý thuyết mà họ cho là đưa ra mang tính chủ quan, chưa được kiểm định Thậm chí nếu một số hệ tư tưởng cánh tả xem giai cấp tư sản là

Trang 8

bóc lột, thì những người bảo thủ lại xem giai cấp tư sản là những người có nhiều đóng góp cho xã hội và khuyến khích họ làm việc vì cộng đồng (trong khi những người tự do coi giai cấp tư sản cũng như các thành phần khác trong

xã hội làm việc vì lợi ích của bản thân là điều hiển nhiên và khuyến khích nếu không vi phạm đến lợi ích cá nhân khác) Khác với những người dân chủ xã hội thường chủ trương cải tạo chủ nghĩa tư bản bảo đảm một sự "công bằng hơn" thông qua chính sách nhà nước, những người chủ nghĩa bảo thủ muốn tạo ra một sự đối kháng, trong trật tự luật pháp, để giải quyết các vấn đề nảy sinh từ cơ chế thị trường Tuy nhiên khác với chủ nghĩa tự do hay chủ nghĩa bảo thủ là những khuynh hướng chính trị khác biệt với các khuynh hướng khác như chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa phát xít hay chủ nghĩa vô chính phủ, chủ nghĩa tư bản với tư cách là một hình thái kinh tế có thể "sống chung" với các hệ tư tưởng khác Do đó các thể chế chính trị không chấp nhận chủ nghĩa

tự do hay chủ nghĩa bảo thủ thì vẫn có thể chấp nhận chủ nghĩa tư bản (như trong chế độ quân chủ phong kiến, ), cũng như các hình thái kinh tế tư nhân khác

Hệ tư tưởng chính trị tư sản có những biến đổi nhằm thuyết minh cho chủ nghĩa tư bản độc quyền, chủ nghĩa đế quốc và xâm lược thuộc địa

Đặc điểm chế độ chính trị tư bản chủ nghĩa:

Hệ thống chính trị tư bản ở thời kỳ nào cũng hoạt động theo những nguyên tắc cơ bản như:

- Bảo vệ chế độ tư hữu tư nhân về tư liệu sản xuất

- Bảo đảm quyền tự do các nhân, quyền công dân và quyền con người

- Thể hiện chủ quyền nhân dân bằng quyền phổ thông đấu phiếu, giao quyền có thời hạn và thiết lập các thiết chế dân chủ

- Tổ chức nhà nước theo nguyên tắc tam quyền phân lập

- Pháp chế hóa đời sống xh và nhà nước

- Thực hiện đa đảng, đa nguyên chính trị

- Chống chủ nghĩa xã hội

Trang 9

Mỗi tổ chức cơ quan trong hệ thống chính trị thực hiện những chức năng nhiệm vụ riêng :

Nguyên thủ quốc gia: là vua ở các nước quân chủ, tổng thống ở các nước cộng hòa Quân chủ nhị nguyên : vua có quyền lực tối cao bao trùm lên mọi cơ quan nhà nước Quân chủ đại nghị : vua chỉ đóng vai trò tượng trưng

ở các nước cộng hòa tổng thống : tổng thống vừa là nguyên thủ quốc gia vừa đứng đầu cơ quan hành pháp Cộng hòa lưỡng tính : tổng thống là nguyên thủ quốc gia và đứng đầu cơ quan hành pháp nhưng chia sẻ quyền lực với tổng thống

Nghị viện: là cơ quan lập pháp hoạt động thường xuyên, có tính chuyên môn hóa cao, thực hiện 3 chức năng đại diện, quyết định và kiểm soát

Chính phủ: là cơ quan hành pháp do tổng thống, thủ tướng đứng đầu,

bộ máy hành pháp ngày càng mở rộng về quy mô và chức năng, quản lý mọi mặt của đời sống xã hội

Tòa án : là cơ quan tư pháp, có vai trò quan trọng trong bộ máy nhà nước, tòa án là thành trì cuối cùng chống lại mọi sự đe dọa đối với các nguyên tắc, các giá trị nền tảng của nhà nước xã hội tư sản

Các đảng phái và nhóm lợi ích hoạt động trong khuôn khổ hiến pháp và pháp luật

Giá trị và hạn chế của chế độ chính trị tư bản chủ nghĩa

- Vai trò của chủ nghĩa tư bản đối với sự phát triển của nền sản xuất

xã hội:

Chủ nghĩa tư bản phát triển qua hai giai đoạn: chủ nghĩa tư bản tự do cạnh tranh và chủ nghĩa tư bản độc quyền mà nấc thang tột cùng của nó là chủ nghĩa tư bản độc quyền nhà nước

Trong suốt quá trình phát triển, nếu chưa xét đến hậu quả nghiêm trọng đã gây ra đối với loài người thì chủ nghĩa tư bản cũng có những đóng góp tích cực đối với sản xuất, đó là:

Trang 10

Sự ra đời của chủ nghĩa tư bản đã giải phóng loài người khỏi đêm trường trung cổ của xã hội phong kiến, đoạn tuyệt với nền kinh tế tự nhiên, tự túc, tự cấp chuyển sang phát triển kinh tế hàng hóa tư bản chủ nghĩa, chuyển sản xuất nhỏ thành sản xuất lớn, hiện đại Dưới tác động của qui luật giá trị thặng

dư và các kinh tế của sản xuất hàng hóa, chủ nghĩa tư bản đã làm tăng năng suất lao động, tạo ra khối lượng sản phẩm vật chất khổng lồ Điều này đã được khẳng định trong Tuyên ngôn của Đảng cộng sản năm 1848

Phát triển lực lượng sản xuất: Quá trình phát triển của chủ nghĩa tư bản đã làm cho lực lượng sản xuất phát triển mạnh mẽ với trình độ kỹ thuật và công nghệ ngày càng cao: từ kỹ thuật thủ công lên kỹ thuật cơ khí và ngày nay các nước tư bản chủ nghĩa cũng đang là những quốc gia đi đầu trong việc chuyển nền sản xuất của nhân loại từ giai đoạn cơ khí hóa sang giai đoạn tự động hóa, tin học hóa và công nghệ hiện đại Cùng với sự phát triển của kỹ thuật và công nghệ là quá trình giải phóng sức lao động, nâng cao hiệu quả, khám phá

và chinh phục thiên nhiên của con người

Thực hiện xã hội hóa sản xuất: Chủ nghĩa tư bản đã thúc đẩy nền sản xuất hàng hóa phát triển mạnh và đạt tới mức điển hình nhất trong lịch sử, cùng với nó là quá trình xã hội hóa sản xuất cả chiều rộng và chiều sâu Đó là sự phát triển của phân công lao động xã hội, sản xuất tập trung với qui mô hợp

lý, chuyên môn hóa sản xuất và hợp tác lao động sâu sắc, mối quan hệ kinh tế giữa các đơn vị , các ngành, các lĩnh vực ngày càng chặt chẽ…làm cho các quá trình sản xuất phân tán được liên kết lại và phụ thuộc lẫn nhau thành một hệ thống, thành một quá trình sản xuất xã hội

Chủ nghĩa tư bản thông qua cuộc cách mạng công nghiệp đã lần đầu tiên biết tổ chức lao động theo kiểu công xưởng và do đó đã xây dựng được tác phong công nghiệp cho người lao động, làm thay đổi nề nếp, thói quen của người lao động sản xuất nhỏ trong xã hội phong kiến

Chủ nghĩa tư bản lần đầu tiên trong lịch sử đã thiết lập nên nền dân chủ tư sản, nền dân chủ này tuy chưa phải là hoàn hảo song so với thể chế chính trị

Ngày đăng: 07/03/2023, 15:54

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w