1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Lý thuyết heckscher ohlin về thương mại quốc tế và thực tiễn tại việt nam trong hội nhập kinh tế quốc tế

22 195 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Lý Thuyết Heckscher - Ohlin Về Thương Mai Quốc Tế Và Thực Tiễn Tại Việt Nam Trong Hội Nhập Kinh Tế Quốc Tế
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Chuyên ngành Kinh tế quốc tế
Thể loại Luận văn
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 22
Dung lượng 58,33 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

[Nhóm 4 lỚp ch25s] KINH TẾ QUỐC DÂN Đề tài LÝ THUYẾT HECKSCHER OHLIN VỀ THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ VÀ THỰC TIỄN TẠI VIỆT NAM TRONG HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ I LÝ THUYẾT HECKSCHER OHLIN 1 Các giải thiết cơ bản[.]

Trang 1

LÝ THUYẾT HECKSCHER - OHLIN VỀ THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ VÀ THỰC

TIỄN TẠI VIỆT NAM TRONG HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ

I LÝ THUYẾT HECKSCHER - OHLIN

1 Các giải thiết cơ bản của lý thuyết H-O

Eli Heckscher và Bertil Ohlin đã đưa các một số giả thiết làm cơ sở cho lý thuyết của mình,

cụ thể như sau:

- Một là, thế giới bao gồm hai quốc gia (Nhật Bản và Việt Nam), hai yếu tố sản xuất (lao

động và vốn), hai mặt hàng (thép và vải), mức độ trang bị các yếu tổ ở mỗi quốc gia là cốđịnh, và mức độ trang bị các yếu tố ở hai quốc gia là khác nhau

- Hai là, công nghệ sản xuất là giống nhau giữa hai quốc gia: Nếu giá cả các yếu tố sản xuất

là như nhau thì để sản xuất ra 1m vải, các nhà sản xuất vải ở Việt Nam và ở Nhật Bản sẽ sửdụng lượng lao động như nhau và lượng vải như nhau

- Ba là, các mặt hàng khác nhau sẽ có hàm lượng các yếu tố sản xuất khác nhau và không

có sự hoán vị về hàm lượng các yếu tố sản xuất tại bất kỳ mức giá cả yếu tố tương quan nào(vải luôn là mặt hàng có hàm lượng lao động cao, còn thép là mặt hàng có hàm lượng vốncao)

- Bốn là, cạnh tranh hoàn hảo tồn tại trên cả thị trường hàng hóa lẫn thị trường yếu tố sản

xuất (mức giá trên thị trường là duy nhất và được xác định bởi cung cầu , và trong dài hạngiá cả hàng hóa đúng bằng chi phí sản xuất)

- Năm là, chuyên môn hóa là không hoàn toàn (Hai nước có quy mô tương đối giống nhau,

không có nước nào được coi là nước nhỏ với nước kia)

- Sáu là, các yếu tố sản xuất có thể di chuyển trong mỗi quốc gia , nhưng không di chuyển

được giữa các quốc gia

- Bảy là, sở thích là giống nhau giữa hai quốc gia (nếu hai nước có cùng mức thu nhập và

mức giá cả hàng hóa thì sẽ có xu hướng tiêu dùng lượng hàng hóa như nhau)

- Tám là, thương mại được thực hiện tự do, chi phí vận chuyển bằng 0.

Trang 2

3 Hàm lượng các yếu tố sản xuất - quốc gia được coi là tương đối dồi dào về lao động/vốn

Hai khái niệm được coi là then chốt với lý thuyết H-O là khái niệm hàm lượng các yếu tốsản xuất và khái niệm mức độ dồi dào của các yếu tố sản xuất

3.1 Hàm lượng các yếu tố sản xuất

Một mặt hàng được coi là có hàm lượng lao động cao nếu tỷ lệ lao động/vốn sử dụng để sảnxuất ra một đơn vị mặt hàng đó lớn hơn tỷ lệ tương ứng đối với mặt hàng thứ hai Ngượclại, nếu tỷ lệ giữa vốn/lao động để sản xuất 1 đơn vị hàng hóa lớn hơn tỷ lệ tương ứng củamặt hàng thứ hai thì mặt hàng thứ nhất được coi là có hàm lượng vốn cao Chẳng hạn, mặthàng X được coi là có hàm lượng lao động cao nếu:

L x

K x > L y

K y

Trong đó: L xL ylà lượng lao động cần thiết để sản xuất ra một đơn vị X và Y

K xK y là lượng vốn cần thiết để sản xuất ra một đơn vị X và Y

Lưu ý là định nghĩa về hàm lượng vốn (hay hàm lượng lao động) không căn cứ vào tỷ lệgiữa lượng vốn (hay lượng lao động) và mức sản lượng, cũng như số lượng tuyệt đối củavốn (hay lao động), mà được xuất phát từ tương quan giữa lượng vốn và lượng lao động cầnthiết để sán xuất ra một đơn vị sản phẩm

3.2 Mức độ dồi dào của các yếu tố sản xuất

Mức độ dồi dào tương đối và khan hiếm tương đối về các yếu tố sản xuất của một quốc thểhiện như sau: Quốc gia A được coi là dồi dào tương đối về lao động nếu:

Trang 3

quốc gia được đo không phải bằng số lượng tuyệt đối, mà bằng tương quan giữa số lượngyếu tố với các yếu tố sản xuất khác của quốc gia.

4 Định lý H-O

4.1 Nội dung

Một quốc gia sẽ xuất khẩu những mặt hàng sử dụng nhiều tương đối yếu tố sản xuất dồi dào tươgn đối, và nhập khẩu những mặt hàng sử dụng nhiều tương đối yếu tố sản xuất khan hiếm tương đối của quốc gia đó

4.2 Ý nghĩa

Lý thuyết Heckscher-Ohlin dự báo rằng các nước sẽ xuất khẩu những hàng hóa mà sử dụngnhiều hàm lượng những nhân tố dồi dào tại nước đó và nhập khẩu những hàng hóa mà sửdụng nhiều hàm lượng những nhân tố khan hiếm tại nước đó Như vậy, lý thuyết H-O cốgắng giải thích mô hình của thương mại quốc tế mà ta chứng kiến trên thị trường thế giới.Giống như lý thuyết của Ricardo, lý thuyết H-O cho rằng thương mại tự do sẽ mang lại lợiích Tuy nhiên, khác với lý thuyết của Ricardo, lý thuyết H-O lại lập luận rằng mô hìnhthương mại quốc tế được xác định bởi sự khác biệt về mức độ sẵn có của các nhân tố sảnxuất hơn là bởi sự khác biệt về năng suất lao động

Lý thuyết H-O dễ dàng được minh chứng trên thực tế Ví dụ như nước Mỹ trong một thờigian dài là một nước xuất khẩu lớn trên thế giới về hàng nông sản, và điều này phản ánhmột phần về sự dồi dào khác thường của Mỹ về diện tích đất có thể canh tác Hay ngược lại,Trung Quốc nổi trội về xuất khẩu những hàng hóa được sản xuất trong những ngành thâmdụng lao động như là dệt may và giày dép Điều này phản ánh mức độ dồi dào tương đốicủa Trung Quốc về lao động giá rẻ Nước Mỹ, vốn dĩ không có nhiều lao động giá rẻ, từ lâu

đã là nước nhập khẩu chủ yếu những mặt hàng này

4.3 Các mệnh đề khác của lý thuyết H-O

Trên cơ sở các giả thiết của lý thuyết H-O, một số định lý bổ sung liên quan đến mối liên hệgiữa thương mại quốc tế và giá cả hàng hóa, giá cả các yếu tố sản xuất, phân phối thu nhập

và tác động của những biến động trong nguồn lực đến mức sản lượng hàng hóa ở các quốcgia như sau:

Trang 4

- Định lý cân bằng giá cả yếu tố sản xuất: Thương mại tự do không chỉ làm cân bằng giá cả hàng hóa, mà còn làm cân bằng giá cả tương đối của các yếu tố sản xuất giữa hai quốc gia,

và nếu hai quốc gia tiếp tục sản xuất cả hai mặt hàng khi có thương mại thì thương mại sẽ cân bằng giá cả tuyệt đối của các yếu tố sản xuất.

- Định lý Stolper – Samuelson: Nếu giá tương đối của một mặt hàng nào đó tăng lên thì giá tương đối của yếu tố được sử dụng nhiều tương đối để sản xuất ra mặt hàng đó sẽ tăng lên, còn giá tương đối của yếu tố còn lại sẽ giảm xuống.

- Định lý Rybczynski: Nếu giá hàng hóa tương đối không đổi thì sự gia tăng mức cung của một yếu tố sẽ làm tăng sản lượng mặt hàng sử dụng nhiều yếu tố đó, và làm giảm sản lượng của mặt hàng kia.

bố vào năm 1953 bởi Wassily Leontief (người đạt giải Nobel về kinh tế học vào năm1973), nhiều nghiên cứu thực nghiệm đã đặt vấn đề về tính đúng đắn của lý thuyết H-O bởicác yếu tố không hoàn hảo trên thị trường và gọi là nghịch lý Leontief

5.1 Nghịch lý Leontief

Sự khác biệt giữa giả định của lý thuyết và thực tế:

1 Lý thuyết H-O dự báo rằng giá yếu tố

sản xuất sẽ được cân bằng giữa các quốc

1 Trong thế giới thực, giá các yếu tố khôngbằng nhau giữa các nước

Trang 5

gia có thương mại với nhau

2 Thương mại tự do cân bằng giá sản phẩm

tương đối Do đó có sự liên kết giữa giá sản

phẩm và giá yếu tố, giữa các yếu tố cũng sẽ

được cân bằng

2 Giả định rằng các nước giao thương sảnxuất sản phẩm giống nhau, nhưng các nước

có thể sản xuất sản phẩm khác nhau nếu tỷ

lệ các yếu tố khác nhau một cách căn bản

3 Thương mại làm tăng nhu cầu đối với

sản phẩm được sản xuất bằng các yếu tố

sản xuất tương đối dồi dào, một cách gián

tiếp tăng nhu cầu đối với các yếu tố này,

làm tăng giá các yếu tố sản xuất này

3 Giả định rằng các nước giao thương cócùng công nghệ, nhưng sự khác nhau vềcông nghệ có thể ảnh hưởng đến năng suấtcủa các yếu tố và do đó tiền lương/chi phítrả cho các yếu tố này cũng khác nhau

4 Cạnh tranh hoàn hảo tồn tại trên cả thị

trường hàng hóa và thị trường các yếu tố

sản xuất Thương mại thực hiện tự do, chi

phí vận chuyển bằng 0

4 Tồn tại các rào cản thương mại

Các nhà kinh tế trước đó đều đồng ý rằng xuất khẩu của một quốc gia phản ánh yếu tố đầuvào phong phú nhất (có thế mạnh) của quốc gia đó Tuy nhiên, Leontief chỉ ra rằng: mặc dùnước Mỹ có nguồn vốn dồi dào hơn các quốc gia khác, nhưng đa số hàng hóa xuất khẩu lại

là những mặt hàng có tỷ lệ lao động nhiều hơn vốn và ngược lại, đa số hàng hóa nhập khẩucủa Mỹ lại được nhiều vốn Đi đến kết luận này, ông đã sử dụng số liệu của những ngànhcạnh tranh với hàng hóa nhập khẩu của Mỹ năm 1947, và tính toán tỷ lệ vốn/lao động củahàng hóa nhập khẩu và xuất khẩu có giá trị 1 triệu USD Ông phát hiện ra tỷ lệ vốn/lao độngtrong sản xuất thay thế hàng nhập khẩu của Mỹ lớn hơn 30% so với tỷ lệ tương ứng trongsản xuất hàng xuất khẩu Điều này hoàn toàn trái ngược với kết luận của lý thuyết H-O

Đã có nhiều nỗ lực để giải thích nghịch lý Leontief, nhưng cho đến nay chưa có cáchgiải thích nào được hoàn toàn chấp nhận Do đó nghịch lý vẫn tiếp tục tồn tại và thách đốcác nhà kinh tế Một số cách lý giải của nghịch lý Leontief:

1 Sai sót trong tính toán và và số liệu thống kê: Có ý kiến cho rằng các tính toán của

Leontief là sai, hoặc các số liệu ông sử dụng không mang tính đại diện Tuy nhiên quan

Trang 6

điểm này không xác đáng bởi lẽ nhiều công trình nghiên cứu khác khi áp dụng phương phápkiểm chứng của Leontief cũng đã đi đến những kết luận tương tự.

2 Sự đảo ngược hàm lượng các yếu tố: Cách giải thích này hàm ý rằng nếu như các mặt

hàng thay thế nhập khẩu của Mỹ lại là những mặt hàng sử dụng nhiều vốn một cách tươngđối so với các mặt hàng xuất khẩu thì theo kết luận của lý thuyết H-O, nhập khẩu của Mỹ sẽ

là những mặt hàng sử dụng nhiểu lao động Tuy nhiên, trên thực tế thì sự đảo ngược hàmlượng các yếu tố không phải là hiện tượng phổ biến, và do vậy không coi nó là cơ sở duynhất để giải thích nghịch lý Leontief

3 Sở thích: Trên thực tế, sở thích của các quốc gia là khác nhau, và dân chúng của một

quốc gia có thể có thiên hướng tiêu dùng nhiều mặt hàng mà quốc gia đó có lợi thế trongsản xuất Nếu người dân Mỹ ưa thích sử dụng hàng hóa có hàm lượng vốn cao đến mức sựdồi dào về vốn của Mỹ không đủ tạo ra mức cung thích ứng, thì việc Mỹ phải nhập khẩu cácmặt hàng này là điều dễ hiểu Tuy nhiên, ở những nước có mức thu nhập cao thì dân thường

có xu hướng chi tiêu nhiều cho các mặt hàng có hàm lượng lao động cao, chứ không phảicho các mặt hàng sử dụng nhiều vốn Do vậy, nếu ở Mỹ tồn tại thiên hướng tiêu dùng nhấtđịnh nào đó thì phải là thiên hướng tiêu dùng nhiều mặt hàng sử dụng nhiều lao động

4 Chính sách bảo hộ thương mại: Trong các mô hình đã được đề cập thì thương mại giả

định là hoàn toàn tự do Tuy nhiên năm, vào năm 1947, chính sách bảo hộ mậu dịch được

áp dụng phổ biến ở Mỹ và nhiều quốc gia khác Nếu thuế quan được áp đặt nhằm loại trừcác mặt hàng sử dụng nhiều lao động ra khỏi thị trường Mỹ thì các quốc gia khác sẽ xuấtkhẩu vào Mỹ các mặt hàng sử dụng nhiều vốn Tuy nhiên điểm không rõ ràng ở đây là tạisao các nước khác vẫn muốn buôn bán với Mỹ nếu chỉ có thể xuất khẩu vào Mỹ những mặthàng không có lợi thế (mặt hàng sử dụng nhiều vốn) để đổi lấy mặt hàng mà chính họ cólợi thế (mặt hàng sử dụng nhiều lao động)

5 Năng suất lao động cao của công nhân Mỹ: Bản thân Leoontief có sự giải thích nghịch lý

của mình với lập luận rằng do năng suất lao động của công nhân Mỹ cao hơn nhiều so vớicông nhân các nước khác, cho nên vể thực chất, Mỹ là nước dồi dào về lao động, chứ khôngphải dồi dào về vốn Trên thực tế, có nhiều yếu tố làm tăng năng suất lao động của côngnhân Mỹ, nhưng những yếu tố này cũng có thể làm tăng hiệu suất sử dụng vốn của Mỹ, vàkhi các mức tăng này là tương đương thì Mỹ vẫn là nước dồi dào tương đối về vốn

Trang 7

6 Tài nguyên thiên nhiên: Có lập luận cho rằng Mỹ không còn là nước dồi dào tương đối về

tài nguyên thiên nhiên, cho nên phải nhập khẩu một lượng lớn các loại khoáng sản như sắt,đồng, bô xít, dầu mỏ… Để chế biến các mặt hàng này, Mỹ sẽ phải nhập khẩu một lượngvốn lớn từ bên ngoài (dưới dạng vốn hữu hình )

7 Vốn đầu tư vào nguồn nhân lực: Trong tính toán của mình, Leontief chỉ đưa vào hai yếu

tố sản xuất là lao động và vốn hữu hình Tuy nhiên, nếu như các yếu tố khác, chẳng hạn nhưvốn đầu tư vào nguồn nhân lực, được tính đến thì hàm lượng các yếu tố của các mặt hàngxuất khẩu và thay thế nhập khẩu của Mỹ có thể thay đổi, dẫn đến đảo ngược nghịch lýLeontief

Một giải thích được đưa ra là nước Hoa Kỳ có lợi thế đặc biệt trong sản xuất những sảnphẩm mới hoặc những hàng hóa chế tạo với những công nghệ có tính đổi mới Những sảnphẩm đó có thể được xem là có mức thâm dụng vốn thấp hơn so với những sản phẩm sửdụng công nghệ đã có thời gian chín muồi và trở thành thông dụng cho sản xuất hàng loạt

Do vậy, nước Hoa Kỳ có thể xuất khẩu những hàng hóa sử dụng nhiều lao động có kỹ năng

và tinh thần doanh nghiệp sáng tạo, ví dụ như các phần mềm máy tính, trong khi đó lại nhậpkhẩu các sản phẩm chế tạo công nghiệp nặng vốn dĩ sử dụng một lượng lớn vốn đầu tư Mộtvài nghiên cứu thực nghiệm cũng có xu hướng ủng hộ nhận định này.Tuy nhiên, nhữngkiểm nghiệm lý thuyết H-O sử dụng dữ liệu cho một số lượng lớn các nước lại có xu hướngkhẳng định sự tồn tại của nghịch lý Leontief

Điều này đẩy các nhà kinh tế vào thế tiến thoái lưỡng nan Họ thích sử dụng lý thuyết H-O

về các nền tảng lý thuyết, nhưng đó lại là một cách dự đoán không chắc chắn về các môhình thương mại đang diễn ra trên thế giới Mặt khác, lý thuyết H-O có nhiều hạn chế, lýthuyết về lợi thế so sánh của Ricardo, trên thực tế còn dự báo các mô hình thương mại với

độ chính xác cao hơn Giải pháp tốt nhất cho tình thế khó xử này có lẽ là quay trở lại với ýtưởng của Ricardo là các mô hình thương mại chủ yếu được xác định bởi những sự khácbiệt  giữa các nước về năng suất lao động Do đó, một người có thể lập luận rằng nước Hoa

Kỳ xuất khẩu máy bay chở khách và nhập khẩu hàng dệt may không phải vì sự sẵn có cácyếu tố sản xuất của nước này đặc biệt thích hợp vớingành sản xuất máy bay và không thíchhợp với ngành dệt may, mà bởi vì nước Hoa Kỳ tương đối hiệu quả hơn trong việc chế tạomáy bay so với sản xuất hàng dệt may

Trang 8

2 Quan hệ thương mại nội ngành (intra- industry trade)

Một tỷ trọng lớn và ngày càng gia tăng của thương mại thế giới, đặc biệt là thương mại giữacác quốc gia công nghiệp phát triển, bao gồm những sản phẩm rất giống nhau (hoặc nóicách khác, có hàm lượng yếu tố giống nhau)

Ví dụ, Mỹ xuất khẩu xe hơi sang Nhật và châu Âu nhưng cũng nhập khẩu xe hơi từ Nhật vàchâu Âu (cụ thể: Nhật Bản xuất khẩu xe Toyota sang Mỹ, đồng thời lại nhập khẩu xeCadillac từ Mỹ) Theo lý thuyết lợi thế so sánh thì trao đổi thương mại trong ngành nàykhông thể xảy ra vì với một mặt hàng, chỉ có một chiều thương mại từ nơi có lợi thế sangnơi không có lợi thế sản xuất mặt hàng đó, như nước chỉ chảy từ chỗ cao xuống chỗ thấp,

mà thôi Nhưng thực tế lại không diễn ra như vậy Hiện tượng này không phù hợp với kếtluận của lý thuyết H- O, theo đó các mặt hàng xuất khẩu và nhập khẩu của một quốc giaphải có hàm lượng các yếu tố khác nhau: mặt hàng xuất khẩu là mặt hàng sử dụng nhiềuyếu tố dồi dào, còn mặt hàng nhập khẩu là mặt hàng sử dụng nhiều yếu tố khan hiếm)

3 Không giải thích được tại sao một số nền kinh tế như Đài Loan và Hàn Quốc lại thành

công trong việc chuyển từ xuất khẩu quần áo, giày dép vào những năm 1960 sang xuất khẩumáy tính, ô tô đến Mỹ và Châu Âu như ngày nay

4 Ảnh hưởng của quá trình tự do hóa thương mại

Kể từ sau đại chiến thế giới thứ hai, thương mại quốc tế đã được tự do hóa một cách đáng

kể, và do đó có sự gia tăng nhanh chóng về qui mô Xuất phát từ lý thuyết H-O, thì thực tếtrên sẽ phải đi cùng với những biến đổi lớn trong quá trình phân bổ nguồn lực và mâu thuẫn

xã hội Chẳng hạn,theo định lý Stolper – Samuleson, tự do hóa thương mại sẽ làm giảm thunhập của một yếu tố sản xuất, dẫn đến khả năng phản kháng quyết liệt của một số tầng lớpnào đó trong xã hội Tuy nhiên, tất cả những điều này đều không xác đáng: trên thực tế quátrình phân bổ lại nguồn lực diễn ra rất hạn chế, và dường như thương mại có tác dụng làmtăng năng suất của tất cả các yếu tố sản xuất cũng như phúc lợi của tất cả các tầng lớp khácnhau trong xã hội

5 Thương mại giữa các nước công nghiệp phát triển

Ngày nay, hơn một nửa thương mại quốc tế được diễn ra giữa các quốc gia công nghiệpphát triển- những nước được coi là có mức độ trang thiết bị các yếu tố sản xuất tương đối

Trang 9

giống nhau Hơn nữa, kể từ sau Đại chiến thế giới thứ hai, tỷ trọng của các quốc gia nàytrong thương mại thế giới gia tăng đều đặn, cùng với việc thu nhập bình quân đầu ngườingày càng xích lại gần nhau Điều này thể hiện sự giống nhau ngày càng tăng về mức độtrang bị các yếu tố giữa các quốc gia này và do đó, mâu thuẫn với dự đoán của lý thuyết H-

O, theo đó lợi thế so sánh xuất phát từ sự khác biệt về mức độ trang bị các yếu tố sản xuấtgiữa các quốc gia

II VIỆT NAM – NHỮNG LỢI THẾ THEO LÝ THUYẾT H-O TRONG HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ

1 Những lợi thế và hạn chế của Việt Nam

1.1 Lợi thế

1.1.1 Tài nguyên thiên nhiên

Việt Nam có nguồn tài nguyên phong phú bao gồm: tài nguyên đất, tài nguyên nước, tàinguyên biển, tài nguyên rừng, tài nguyên sinh vật, tài nguyên khoáng sản và tài nguyên dulịch

+ Tài nguyên đất:

Việt Nam có trên 39 triệu ha đất tự nhiên, diện tích đất đã sử dụng vào các mục đích Kinh tế

- Xã hội là 18,881 triệu ha, chiếm 57,04% quỹ đất tự nhiên, trong đó đất nông nghiệp chiếm22,20% diện tích đất tự nhiên và 38,92% diện tích đất đang sử dụng Hiện còn, 14,217 triệu

ha đất chưa sử dụng, chiếm 43,96% quỹ đất tự nhiên Vị trí và địa hình đặc biệt làm cho thổnhưỡng Việt Nam có tính chất chung của vùng nhiệt đới ẩm nhưng rất đa dạng và phân hóa

rõ từ đồng bằng lên núi cao, từ Bắc vào Nam và từ Ðông sang Tây Tiềm năng đất có khảnăng canh tác nông nghiệp của cả nước khoảng từ 10-11 triệu ha, diện tích đã được sử dụngchỉ có 6, 9 triệu ha; trong đó 5,6 triệu ha là đất trồng cây hàng năm (lúa: 4, 144 triệu ha;màu, cây công nghiệp ngắn ngày: 1, 245 triệu ha) và 1, 3 triệu ha là đất trồng cây ăn quả vàcây lâu năm khác (cà phê, cao su, dâu tằm, hồ tiêu, cam, chanh, quýt)

+ Tài nguyên nước:

Nếu xét chung trong cả nước, thì tài nguyên nước mặt của nước ta tương đối phongphú, chiếm khoảng 2% tổng lượng dòng chảy của các sông trên thế giới, trong khi đó diệntích đất liền nước ta chỉ chiếm khoảng 1,35% của thế giới

Trang 10

Nước ta có mạng lưới sông ngòi dày đặc với 2.345 con sông có chiều dài trên 10 km,mật độ trung bình từ 1,5 – 2 km sông/1 km2 diện tích, cứ đi dọc bờ biển khoảng 20 km lạigặp một cửa sông Tổng lượng dòng chảy của tất cả các con sông chảy qua lãnh thổ ViệtNam là 853 km3, trong đó tổng lượng dòng chảy phát sinh trên nước ta chỉ có 317 km3 Tỉtrọng nước bên ngoài chảy vào nước ta tương đối lớn, tới 60% so với tổng lượng nước sôngtoàn quốc, riêng đối với sông Cửu Long là 90%.

Nước ta có trữ lượng nước ngầm phong phú, khoảng 130 triệu m3/ngày, đáp ứngđược 60% nhu cầu nước ngọt của đất nước

+ Tài nguyên biển:

Việt Nam có 3260 km bờ biển với vùng lãnh thổ rộng tới 226000 km2, diện tích cókhả năng nuôi trồng thuỷ sản là 2 triệu ha trong đó 1 triệu ha nước ngọt; 0,62 triệu ha nước

lợ và 0,38 triệu ha nước mặn Phần lớn diện tích này đã được đưa vào sử dụng để khai tháchoặc nuôi trồng thuỷ sản

Biển nước ta còn có 2.028 loài cá biển, trong đó có 102 loài có giá trị kinh tế cao,

650 loài rong biển, 300 loài thân mềm, 300 loài cua, 90 loài tôm, 350 loài san hô… Biểnnước ta có trữ lượng cá khoảng 3,6 triệu tấn, tầng trên mặt có trữ lượng 1,9 triệu tấn, tầngđáy có trữ lượng 1,7 triệu tấn Ngoài ra còn có 40.000 ha san hô ven bờ, 250.000 ha rừngngập mặn ven biển có sự đa dạng sinh học cao Trong đó có 3 khu sinh quyển thế giới là:vườn quốc gia Xuân Thủy (Nam Định), rừng Sác Cần Giờ (TP Hồ Chí Minh) và vườn quốcgia Cát Bà (Hải Phòng) Đồng thời nước ta còn có 290.000 ha triệu lầy, 100.000 ha đầmphá

+ Tài nguyên rừng:

Nước ta có tới 3/4 diện tích là đồi núi và rừng che phủ hơn 30% diện tích Rừng ViệtNam là kho tài nguyên quí báu, là bộ phận quan trọng của môi trường sinh thái, rừng làmcho không khí trong lành, điều hoà khí hậu

Có khoảng 8000 loài thực vật bậc cao, 800 loài rêu, 600 loài nấm, 275 loài thú, 820loài chim, 180 loài bò sát, 471 loài cá nước ngọt và hơn 2000 loài cá biển sống trên lãnh thổViệt Nam Việc tìm ra 2 loài móng guốc lớn là Sao la và Mang lớn ở Việt Nam là sự kiệnlớn chứng tỏ sự phong phú và đa dạng của tài nguyên sinh vật Việt Nam

Trang 11

Độ che phủ của rừng cao và hợp lý làm giảm dòng chảy mặt ngay sau mưa, làmchậm lũ, điều hoà dòng chảy giữa mùa mưa và mùa khô

Việt Nam có hơn 100 khu bảo tồn thiên nhiên Để nâng cao độ che phủ của rừng,Chính phủ đang tiến hành giao trên 1 triệu ha đất lâm nghiệp cho các hộ gia đình cá nhân,hơn 5 triệu ha cho các tổ chức kinh tế xã hội để quản lý Nhờ việc cấm khai thác rừng tựnhiên để xuất khẩu gỗ, trong thời gian quan độ che phủ rừng đã bắt đầu tăng lên

+ Tài nguyên sinh vật:

Hệ thực vật: Việt Nam là một quốc gia có sự đa dạng sinh học, hệ thực vật có khoảng14.000 loài thực vật bậc cao có mạch; đã xác định được khoảng 7.000 loài thực vật bậc cao,

800 loài rêu, 600 loài nấm, 600 loài rong biển Trong đó có 1.200 loài thực vật đặc hữu, hơn2.300 loài thực vật đã được sử dụng làm lương thực thực phẩm, thuốc chữa bệnh, tinh dầu,vật liệu trong xây dựng Tỷ lệ số loài thực vật dùng làm dược liệu ở nước ta lên tới 28% Hệthực vật nước ta có nhiều loài quý hiếm như gỗ đỏ, gụ mật, Hoàng Liên chân gà, ba kích,hoàng đàn, cẩm lai, pơ mu…

Hệ động vật: Tính đến nay đã xác định được ở nước ta có 275 loài thú, 1.009 loài và phânloài chim, 349 loài bò sát và lưỡng cư, 527 loài cá nước ngọt, khoảng 2.038 loài cá biển,12.000 loài côn trùng, 1.600 loài động vật giáp xác, 350 loài động vật da gai, 700 loài giunnhiều tơ, 2.500 loài động vật thân mềm, 350 loài san hô được biết tên

+ Tài nguyên khoáng sản:

Nước ta nằm giữa hai vành đai tạo khoáng lớn của thế giới là Thái Bình Dương vàÐịa Trung Hải Công tác thăm dò địa chất trong 40 năm qua đã phát hiện và đánh giá đượctrữ lượng của 5000 mỏ và điểm quặng, thuộc 60 loại khoáng sản

+ Tài nguyên du lịch:

Việt Nam là đất nước thuộc vùng nhiệt đới, bốn mùa xanh tươi Địa hình có núi, córừng, có sông, có biển, có đồng bằng và có cả cao nguyên Núi non đã tạo nên những vùngcao có khí hậu rất gần với ôn đới, nhiều hang động, ghềnh thác, đầm phá, nhiều điểm nghỉdưỡng và danh lam thắng cảnh

Với hàng nghìn năm lịch sử, Việt Nam có trên bảy nghìn di tích (trong đó khoảng2.500 di tích được nhà nước xếp hạng bảo vệ) lịch sử, văn hoá, dấu ấn của quá trình dựng

Ngày đăng: 07/03/2023, 13:17

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w