TRƯỜNG ĐH KINH TẾ QUỐC DÂN Viện Ngân Hàng – Tài Chính CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP Đề tài PHÂN TÍCH HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN THỰC PHẨM QUỐC TẾ ALPHA Giảng viên hướng dẫn TS Lương Thái Bả[.]
Tính cấp thiết của đề tài
Vốn có vai trò rất quan trọng đối với doanh nghiệp, là yếu tố không thể thiếu của mọi quá trình kinh doanh Trong nền kinh tế thị trường, vốn quyết định quy mô, năng lực sản xuất của doanh nghiệp Vốn càng lớn thì quy mô doanh nghiệp càng lớn, đảm bảo khả năng tài chính vững chắc, tạo điều kiện hiện đại hoá công nghệ, nâng cao trình độ của người lao động Quản lý và sử dụng vốn trong doanh nghiệp vấn đề đặt ra không chỉ là vốn phải được bảo toàn và phát triển mà còn phải nâng cao hiệu quả sử dụng vốn, tức là thể hiện ở số lợi nhuận mà doanh nghiệp thu được trong kì và mức sinh lời của một đồng vốn kinh doanh Vì vậy, vốn trong doanh nghiệp có ý nghĩa vô cùng to lớn nếu nhà quản lý biết phân tích, đánh giá đúng tình hình và hiệu quả sử dụng của nó để đề ra các giải pháp sử dụng đồng vốn có hiệu quả.
Phân tích hiệu quả sử dụng vốn là việc đánh giá mức sinh lời của đồng vốn kinh doanh từ nhiều góc độ khác nhau, giữa hiện tại và quá khứ, giữa doanh nghiệp và các đơn vị cùng ngành Mục tiêu của phân tích hiệu quả sử dụng vốn là giúp doanh nghiệp thấy rõ trình độ quản lý và sử dụng vốn của mình, đánh giá doanh nghiệp một cách chính xác, từ đó tìm ra những giải pháp cơ bản thúc đẩy sự tăng trưởng của doanh nghiệp.
Công ty cổ phần thực phẩm quốc tế Alpha là doanh nghiệp cổ phần tư nhân, hoạt động kinh doanh chủ yếu của công ty là trong lĩnh vực thực phẩm Trong đó công ty chuyên sâu vào mảng sản xuất, gia công và xuất khẩu sản phẩm bánh kẹo. Đây là một bước đi mới trong ngành thực phẩm bánh kẹo nói chung Vì hiện nay các doanh nghiệp nội địa chủ yếu đang chú trọng phát triển thị trường nội địa, chưa chú trọng và đầu tư nhiều để khai thác thị trường xuất khẩu Tuy mới thành lập được 7 năm nhưng Công ty cổ phần thực phẩm quốc tế Alpha đã đạt được những thành tích đáng nể Hàng năm, Công ty đạt mức tăng trưởng doanh số từ 20% đến 30%, kim ngạch xuất khẩu đạt từ hơn 6 triệu USD/năm ( năm 2014) tăng đến hơn
10 triệu USD/năm ( năm 2016), doanh thu đạt hơn 220 tỉ đồng, lợi nhuận sau thuế đạt trên hơn 1,4 tỉ đồng Hiện tại, Công ty là một trong những doanh nghiệp bánh kẹo dẫn đầu tỉnh Bắc Ninh về quy mô kinh doanh xuất khẩu cũng như mức độ đóng góp vào Ngân sách nhà nước của Tỉnh hàng năm trong lĩnh vực bánh kẹo, thực phẩm Với thành tích đạt được đáng khích lệ, những năm gần đây ban lãnh đạo công ty đang có hướng mở rộng quy mô sản xuất xuất kinh sang mảng nội địa và hợp tác liên doanh với nước ngoài Tuy nhiên, những dự án và ý tưởng mới này chủ yếu xoay quanh các vấn đề về kĩ thuật sản phẩm mới và tiềm năng quy hoạch phát triển, nhiều vấn đề về quản lý nguồn lực tài chính về hiệu quả kinh doanh tại công ty đến nay vẫn chưa có đề tài nào đi sâu nghiên cứu một cách độc lập, toàn diện và còn nhiều câu hỏi còn bỏ ngỏ:
- Hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh của Công ty như thế nào?
- Những nhân tố nào ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng vốn cố định, vốn lưu động, vốn chủ sở hữu của Công ty?
- Giải pháp nào để nâng cao hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh nói chung, hiệu quả sử dụng vốn cố định, vốn lưu động, vốn chủ sở hữu của Công ty nói riêng?
Và nhiều vấn đề khác chưa có câu trả lời thoả đáng.
Xuất phát từ những vấn đề này, tôi đã chọn đề tài: “ Phân tích hiệu quả sử dụng vốn tại Công ty cổ phần thực phẩm quốc tế Alpha” làm luận văn tốt nghiệp.
Mục tiêu nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu “ Phân tích hiệu quả sử dụng vốn tại Công ty cổ phần thực phẩm quốc tế Alpha” nhằm giải quyết các mục tiêu sau:
- Hệ thống hoá một số vấn đề lý luận cơ bản về hiệu quả sử dụng vốn trong doanh nghiệp;
- Đánh giá, phân tích tình hiệu quả sử dụng vốn tại Công ty cổ phần thực phẩm quốc tế Alpha thời kì từ năm 2014- năm 2016;
- Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng vốn tại Công ty;
- Đề xuất phương án và giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn của Công ty cổ phần thực phẩm quốc tế Alpha trong thời gian tới.
Câu hỏi nghiên cứu
- Hệ thống chỉ tiêu đô lường hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp là gì?
- Kết quả phân tích hiệu quả sử dụng vốn tại Công ty cổ phần thực phẩm quốc tế Alpha như thế nào?
- Công ty đã đạt được những thành tựu gì và những mặt nào còn tồn tại trong quá trình quản lý hiệu quả sử dụng vốn? Nguyên nhân của những tồn tại đó là gì?
- Có thể áp dụng những giải pháp nào để nâng cao hiệu quả sử dụng vốn củaCông ty?
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Đối tượng và nội dung nghiên cứu của luận văn là hiệu quả sử dụng vốn trong doanh nghiệp và các vấn đề khác có liên quan.
+ Về không gian nghiên cứu: Công ty cổ phần thực phẩm quốc tế Alpha.+ Về thời gian nghiên cứu: Từ năm 2014 đến năm 2016.
Phương pháp nghiên cứu
Có ba phương pháp để phân tích tài chính cũng như phân tích hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp:
Số liệu nghiên cứu: Số liệu nghiên cứu thu thập trong các bản báo cáo của
Công ty Cổ phần thực phẩm quốc tế Alpha.
Mô hình nghiên cứu
Cơ sở lý luận về hiệu quả sử dụng vốn Đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn của công ty
Những vấn đề còn tồn tại
Tình hình sử dụng vốn của công ty cổ phần thực phẩm quốc tế Alpha
Hệ thống chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng vốn
VỐN KINH DOANH TRONG DOANH NGHIỆP
2.1.1 Tổng quan về vốn kinh doanh của doanh nghiệp
Trong nền kinh tế thị trường, để tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh, các doanh nghiệp cần phải có các yếu tố cơ bản: Sức lao động, đối tượng lao động và tư liệu lao động Để có được các yếu tố này đòi hỏi doanh nghiệp phải ứng ra một số vốn nhất định phù hợp với quy mô và điều kiện kinh doanh.
Vốn kinh doanh của doanh nghiệp thường xuyên vận động và chuyển hoá từ hình thái ban đầu là tiền chuyển sang hình thái hiện vật và cuối cùng lại trở về hình thái ban đầu là tiền Sự vận động của vốn kinh doanh như vậy được gọi là sự tuần hoàn của vốn Quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp diễn ra liên tục, không ngừng Do đó, sự tuần hoàn của vốn kinh doanh cũng diễn ra liên tục, lặp đi lặp lại có tính chất chu kỳ tạo thành sự chu chuyển của vốn kinh doanh.
Sự chu chuyển của vốn kinh doanh chịu sự chi phối rất lớn bởi đặc điểm kinh tế- kỹ thuật của ngành kinh doanh.
Từ những phân tích trên có thể rút ra: Vốn kinh doanh của doanh nghiệp là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ giá trị tài sản được huy động, sử dụng vào hoạt động sản xuất kinh doanh nhằm mục đích sinh lời.
Vốn kinh doanh không chỉ là điều kiện tiên quyết đối với sự ra đời của doanh nghiệp mà nó còn là một trong những yếu tố giữ vai trò quyết định trong quá trình hoạt động và phát triển của doanh nghiệp 01.
Theo Mác: Vốn là giá trị đem lại lợi nhuận 02 Biểu hiện cụ thể của vốn trong các doanh nghiệp là tài sản mà doanh nghiệp sở hữu hoặc kiểm soát. Ở nước ta hiện nay, khái niệm về vốn cũng được hiểu khác nhau Một số cho rằng vốn là số tiền đầu tư ứng trước vào tài sản dài hạn và tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp Một số khác có quan điểm cho rằng vốn gồm hai bộ phận là vốn chủ sở hữu và nợ phải trả Quan điểm này có sự đồng nhất giữa vốn và nguồn vốn Họ cho rằng vốn và nguồn vốn chỉ là những cách gọi khác nhau để chỉ ra nguồn của tài sản trong doanh nghiệp Theo tác giả, vốn và nguồn vốn là hai mặt của cùng một lượng tài sản do doanh nghiệp quản lý, sử dụng; trong đó vốn là biểu hiện bằng tiền ( giá trị) của các tài sản của doanh nghiệp, còn nguồn vốn chỉ ra nguồn gốc hình thành các tài sản này Khi nói đến vốn tức là muốn nói đến giá trị những tài sản mà doanh nghiệp đang nắm giữ, sử dụng để phục vụ sản xuất kinh doanh.
Vốn trong doanh nghiệp có các đặc trưng sau:
- Vốn được biểu hiện bằng giá trị của những tài sản, điều này có nghĩa là vốn phải đại diện cho một lượng giá trị thực của tài sản hữu hình và vô hình như: Nhà xưởng, đất đai, thiết bị, nguyên liệu, chất xám, thông tin, vị trí địa lý kinh doanh, nhãn hiệu thuơng mại, bản quyền phát minh, sáng chế,…
- Vốn có giá trị về mặt thời gian, một đồng vốn ngày hôm nay có giá trị cao hơn một đồng vốn trong tương lai, bởi vì có thể đầu tư tiền của ngày hôm nay để thu được những khoản thu nhập trong tương lai Tỉ lệ lãi suất là sự đo lường thời giá của tiền tệ, nó phản ánh chi phí cơ hội mà người sử dụng vốn phải bỏ ra để thu lợi nhuận Điều này có ý nghĩa quan trọng trong việc đánh giá chính xác hiệu quả của đầu tư.
- Vốn luôn vận đồng vì mục tiêu sinh lời Nếu coi hình thái khởi đầu của vốn là tiền thì sau một quá trình vận động vốn có thể biến đổi qua các hình thái vật chất khác nhau, nhưng kết thúc chu kỳ vận động vốn lại trở lại trạng thái ban đầu là tiền Theo quy luật, để doanh nghiệp tồn tại và phát triển thì lượng tiền này phải lớn hơn lượng tiền mà doanh nghiệp bỏ ra ban đầu, có nghĩa là doanh nghiệp phải có lợi nhuận.
- Vốn luôn gắn liền với một chủ sở hữu nhất định, không có vốn vô chủ, vì nó sẽ dẫn đến chi tiêu lãng phí và kém hiệu quả
- Vốn được xem là một hàng hoá đặc biệt Khác với hàng hoá thông thường, hàng hoá vốn được bán sẽ không bị mất quyền sở hữu mà chỉ bán quyền sử dụng, người mua được quyền sử dụng vốn trong thời gian nhất định và phải trả cho người sở hữu một khoản tiền được gọi là lãi Như vậy, lãi suất là giá phải trả cho việc được quyền sử dụng vốn trong một thời kỳ nhất định Việc mua bán diễn ra trên thị trường tài chính, giá mua bán vốn cũng tuân theo quan hệ cung- cầu trên thị trường.
Các đặc trưng của vốn cho thấy, vốn là nguồn lực có hạn cần phải sử dụng tiết kiệm và có hiệu quả Đây là vấn đề có tính chất nguyên lý, là cơ sở cho việc hoạch định chính sách quản lý, nâng cao hiệu quả sử dụng vốn doanh nghiệp.
2.1.2 Phân loại vốn trong sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
Phân loại vốn là yêu cầu cơ bản của công tác quản lý, sử dụng vốn Tuỳ theo mục đích của người quản lý mà có nhiều cách phân loại vốn khác nhau Đặc điểm luân chuyển, quy mô sản xuất kinh doanh, cơ cấu thành phần của vốn là những căn cứ khoa học để xác định phương thức quản lý chung Có thể phân loại vốn theo các tiêu thức cụ thể sau:
Theo hình thái biểu hiện
Căn cứ theo hình thái biểu hiện vốn chia làm hai loại:
Vốn bằng tiền : bao gồm các khoản vốn tiền tệ như: tiền mặt tồn quỹ tiền gửi ngân hàng, vốn trong thanh toán và các khoản đầu tư ngắn hạn khác bao gồm cả giấy tờ có giá trị được dùng để thanh toán
Vốn hiện vật : là các khoản vốn có hình thái biểu hiện cụ thể bằng hiện vật như: tài sản cố định, nguyên vật liệu, sản phẩm dở dang, thành phẩm
Theo hình thức chu chuyển của vốn Đây là tiêu thức phân loại vốn chủ yếu nhất, có hiệu quả nhất trong việc quản lý vốn Căn cứ theo tiêu thức này, vốn được chia thành hai loại: vốn cố định và vốn lưu động.
Bất kỳ một doanh nghiệp nào khi tiến hành sản xuất kinh doanh đều phải có tư liệu lao động, đó chính là đất đai, nhà xưởng, máy móc, thiết bị… chúng giữ vai trò là môi giới trong quá trình lao động.
HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN TRONG DOANH NGHIỆP
2.2.1 Khái niệm về hiệu quả sử dụng vốn trong doanh nghiệp
Hiệu quả sử dụng vốn là sự đảm bảo duy trì và nâng cao được giá trị của doanh nghiệp tại các thời điểm khác nhau trong quá trình hoạt động, bất kể có sự biến động của giá cả trên thị trường.
Hiệu quả sử dụng vốn phản ánh những mặt lợi ích mà DN đạt được trong quá trình sử dụng vốn Tuy nhiên, khi xã hội ngày càng phát triển thì hiệu quả sử dụng vốn không chỉ đơn thuần là lợi ích kinh tế mà được hiểu rộng hơn, thể hiện trên hai mặt là: hiệu quả kinh tế và hiệu quả xã hội.
Hiệu quả kinh tế: phản ánh chất lượng của hoạt động sản xuất kinh doanh, nói lên sức sản xuất, sức sinh lợi của các yếu tố DN Nó phản ánh mối quan hệ giữa chi phí bỏ ra và lợi nhuận thu được Hiệu quả cao khi thu nhập thu đươc lớn hơn chi phí và tỷ suất lợi nhuận lớn hơn chi phí huy động trên thị trường.
Nếu tỷ lệ sinh lợi vốn đầu tư cao hơn lãi suất huy động thì hoạt động sử dụng vốn được coi là có hiệu quả, số chênh lệch này càng lớn thì hiệu quả càng cao.
Hiệu quả xã hội: phản ánh bằng sự đóng góp trong việc thực hiện các mục tiêu kinh tế xã hội Cụ thể là doanh nghiệp đã đáp ứng nhu cầu tiêu dùng các loại hàng hoá, dịch vụ trong toàn xã hội, nâng cao văn minh, văn hoá trong tiêu dùng của nhân dân, góp phần giải quyết công ăn việc làm cho người lao động, tạo nguồn thu nhập cho ngân sách Nhà nước.
Sự phân chia hiệu quả kinh tế và hiệu quả xã hội chỉ là tương đối vì chúng có mối quan hệ chặt chẽ, phụ thuộc lẫn nhau Để thực hiện nâng cao hiệu quả sử dụng vốn, DN cần chú ý những điều cơ bản sau:
+ Tránh làm thất thoát vốn trong quá trình hoạt động, như: mất mát TSCĐ, vật tư, hàng hoá, TSCĐ hư hỏng trước thời hạn sử dụng, vốn bị khách hàng chiếm dụng quá thời hạn trong khâu thanh toán
+ Trong quá trình hoạt động, nguyên tắc để nâng cao hiệu qủa sử dụng vốn là số vốn cuối kỳ thu được luôn phải lớn hơn hoặc bằng số vốn đã đầu tư ở đâu kỳ Có như vậy DN mới đảm bảo vốn để tiến hành tái sản xuất giản đơn hay tái sản xuất mở rộng Trong điều kiện nền kinh tế có lạm phát, giá cả hàng hoá biến động lớn thì
DN phải có biện pháp điều chỉnh tăng nguồn vốn để duy trì khả năng sản xuất hiện tại
2.2.2 Sự cần thiết nâng cao hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp
Yêu cầu nâng cao hiệu quả sử dụng vốn là một tất yếu khách quan trong quá trình hoạt động của doanh nghiệp Trong nền kinh tế thị trường, khi chế độ bao cấp không còn tồn tại, các doanh nghiệp là những đơn vị kinh tế độc lập, tự chủ về vốn thì vấn đề sử dụng vốn hiệu quả càng trở nên cấp thiết, vì một số lý do sau đây:
Thứ nhất: Sử dụng vốn hiệu quả giúp DN đạt được mục tiêu hàng đầu & quan trọng nhất của DN - đó là tối đa hóa LN Khi tối đa hóa LN làm cho doanh lợi vốn là cao nhất, giúp DN dễ dàng huy động vốn để phục vụ SXKD.
Thứ hai: Sử dụng vốn hiệu quả đảm bảo khả năng an toàn về tài chính, đảm bảo khả năng thanh toán và khắc phục rủi ro trong kinh doanh cho doanh nghiệp. Điều này ảnh hưởng đến sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp
Thứ ba: Sử dụng vốn hiệu quả giúp nâng cao khả năng tài chính của doanh nghiệp, tạo điều kiện hiện đại hoá công nghệ, nâng cao trình độ của người lao động, tăng cao năng lực sản xuất, từ đó doanh nghiệp mở rộng quy mô cả về chiều rộng lẫn chiều sâu
Thứ tư:: Sử dụng vốn hiệu quả góp phần nâng cao vị thế, uy tín của doanh nghiệp trên thị trường, tạo điều kiện thuận lợi trong quá trình hợp tác phát triển của
DN, để DN thực hiện mở rộng thị trường trong và ngoài nước.
Thứ năm: Sử dụng vốn hiệu quả cũng có nghĩa là doanh nghiệp tạo ra những sản phẩm có chất lượng cao, giá thành hạ, tạo được lợi thế trong cạnh tranh, đó là điều kiện quan trọng để tồn tại và phát triển trong nền kinh tế thị trường.
Thứ sáu: Sử dụng vốn hiệu quả sẽ làm tăng lợi nhuận của doanh nghiệp. Đây là cơ sở để tăng thu nhập, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của người lao động.
PHƯƠNG PHÁP PHÂN TÍCH HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN TRONG
So sánh kết quả hiệu quả sử dụng vốn qua các năm.
So sánh giữa số liệu của doanh nghiệp với số liệu của đối thủ cạnh tranh và trung bình của ngành.
So sánh theo chiều dọc.
So sánh theo chiều ngang của nhiều kỳ.
2.3.2 Phương pháp phân tích tỷ lệ
Sử dụng các nhóm chỉ tiêu tỷ lệ có lựa chọn sau:
Nhóm chỉ tiêu về tỉ suất lợi nhuận
Nhóm chỉ tiêu về khả năng thanh toán
Nhóm chỉ tiêu về mức độ sử dụng chi phí
Nhóm chỉ tiêu về khả năng hoạt động
2.3.3 Phương pháp tách đoạn Dupont
Mô hình phân tích Dupont với tỷ suất sinh lời vốn chủ sở hữu được biểu hiện bằng sơ đồ sau:
GIỚI THIỆU KHÁI QUÁT VỀ CÔNG TY
3.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển của Công ty cổ phần thực phẩm quốc tế Alpha
Công ty Cổ phần cổ phần thực phẩm quốc tế Alpha được thành lập vào ngày 06/05/2010 theo giấy phép đăng kí kinh doanh số: 2300614653 do sở kế hoạch và đầu tư tỉnh Bắc Ninh cấp Công ty do ông Tạ Nguyên Hải làm Tổng Giám Đốc.
Công ty có trụ sở tại : Lô E13 và E14, Cụm CN đa nghề Đông Thọ, xã Đông Thọ, huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh
Lĩnh vực hoạt động chính của công ty tập trung vào sản xuất mặt hàng bánh kẹo, thực phẩm, các sản phẩm làm từ bột mỳ, bơ sữa và đường Mặt hàng bánh trứng nướng là một mặt hàng bánh khá mới mẻ và mới phát triển mạnh mẽ trên thị trường nội địa Việt Nam từ những năm 2008 trở lại đây Lấy cảm hứng từ những chiếc bánh trứng thơm ngon đó, các kĩ sư nghiên cứu sản phẩm của Alphafood đã không ngừng sáng tạo và phát triển ra được sản phẩm bánh trứng Lipo có hương vị hấp dẫn, độc đáo riêng, có hình ảnh nhận diện riêng so với các đối thủ cạnh tranh trên thị trường Và Alphafood cũng đã lựa chọn con đường đi riêng cho mình để phát triển sản phẩm bánh trứng này trên thị trường thế giới đó là con đường xuất khẩu Với hi vọng sẽ mang lại những cảm nhận tuyệt vời về sản phẩm bánh kẹo độc đáo của Việt Nam trong lòng các bạn nước ngoài.
Tuy là một doanh nghiệp còn non trẻ, song những thành tựu mà Alphafood đã đạt được sau chặng đường hơn 6 năm hình thành và phát triển cũng rất đáng khích lệ Cụ thể như sau:
+ Năm 2010: Vốn điều lệ: 1.5 tỉ đồng; Diện tích nhà xưởng: 600m2; Tổng số cán bộ công nhân viên: 35 người
+ Năm 2012: Vốn điều lệ: 18 tỉ đồng; diện tích nhà xưởng : hơn 6000m2; Tổng số cán bộ công nhân viên: 150 người
+ Năm 2013: Vốn điều lệ: 18 tỉ đồng; Diện tích nhà xưởng: gần 10.000m2; Tổng số cán bộ công nhân viên: 250 người
+ Năm 2016: Vốn điều lệ: 18 tỉ đồng; Diện tích nhà xưởng: hơn 16.000m2; Tổng số cán bộ công nhân viên: 400 người.
Với nỗ lực không ngừng trong việc mở rộng thị trường xuất khẩu, Alphafood đã liên tục phải tăng đầu tư cho dây chuyền thiết bị sản xuất, mở rộng hoạt động sản xuất kinh doanh Cụ thể:
+ Giai đoạn: Năm 2010-2011: Alphafood mới chỉ có 1 dây chuyền bán tự động, sản lượng tiêu thụ chỉ đạt ngưỡng trung bình 300 tấn-400 tấn/năm Thị trường chính là thị trường Trung Quốc.
+ Giai đoạn: Năm 2012-2013: Dây chuyền sản xuất tăng thêm 1 dây chuyền mới, đáp ứng sản lượng tiêu thụ trung bình từ 600 -950 tấn/năm Ngoài thị trường Trung Quốc thì Alphafood đã mở rộng xuất khẩu được sang thị trường Myanmar, Maylaysia, Hàn Quốc, Nhật Bản, Ghana.
+ Giai đoạn: Năm 2014-2016: Thị trường phát triển vượt bậc, các thị trường truyền thống tăng trưởng mạnh mẽ, điển hình là thị trường Trung Quốc và Myanmar Các thị trường mới nổi khác như: Đài Loan, Thái Lan, Philippins, Campuchia, Lào, Nga, Canada Sản lượng tăng mạnh từ 1420 tấn của năm 2014 tăng lên 2540 tấn của năm 2015 và năm 2016 đạt ngưỡng 2920 tấn. Điều đó khẳng định Alphafood đã tạo dựng được sự tin cậy ở khách hàng về chất lượng sản phẩm tốt, giá cả cạnh tranh, uy tín thương hiệu ngày một lớn mạnh của mình trong từng bước đường hình thành và phát triển.
3.1.2 Cơ cấu tổ chức của Công ty cổ phần thực phẩm quốc tế Alpha
Ban quản lý cấp cao:
Hội đồng quản trị: là cơ quan quản lý Công ty, có toàn quyền nhân danh
Công ty để quyết định mọi vấn đề liên quan đến quyền lợi và mục đích của công ty.
Có nhiệm vụ hoạch định chiến lược, phương án, bổ nhiệm các vị trí trong bộ máy quản lý.
Ban kiểm soát: gồm 3 thành viên do Hội đồng quản trị cử ra, có nhiệm vụ giám sát, kiểm tra việc thực hiện các chính sách và phương hướng của công ty.
Tổng Giám đốc: chịu trách nhiệm điều hành mọi hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty, chịu trách nhiệm về hành vi pháp nhân và kết quả sản xuất kinh doanh của công ty Quyết định tất cả các vấn đề liên quan đến hoạt động hàng ngày của Công ty, tổ chức thực hiện kế hoạch kinh doanh và kế hoạch đầu tư của Công ty, ban hành quy chế quản lý nội bộ Bổ nhiệm, miễn nhiệm cách chức các chức xưởngPhân xuất sản
Phòng kế hoạch vật tư
Ban kiểm Hội đồng quản soát trị danh quản lý trong Công ty, ký kết hợp đồng nhân danh Công ty, bố trí cơ cấu tổ chức của Công ty, kiến nghị phương án sử dụng lợi nhuận hoặc sử lý các khoản lỗ trong kinh doanh, tuyển dụng lao động.
Giám đốc các bộ phận: là người giúp việc cho Tổng giám đốc và thay quyền
Tổng giám đốc khi giám đốc vắng mặt, có trách nhiệm giúp Giám đốc chỉ đạo và giải quyết các công việc của Công ty Giám đốc các phòng ban có quyền điều hành các hoạt động thuộc trách nhiệm của mình hoặc những hoạt động được Tổng Giám đốc uỷ quyền.
Các đơn vị phòng ban:
Phòng tài chính kế toán: có chức năng tham mưu giúp Giám đốc tài chính trong công tác tổ chức kế toán Tổ chức và chỉ đạo thực hiện toàn bộ công tác tài chính kế toán, thông tin kinh tế, hạch toán kế toán theo đúng điều lệ tổ chức kế toán, pháp lệnh kế toán thống kê của nhà nước và những qui định cụ thể của công ty về công tác tài chính.
Phòng kế hoạch vật tư: có chức năng tham mưu giúp giám đốc tài chính trong việc tìm kiếm và đàm phán với các nhà cung cấp nguyên vật liệu đầu vào phục vụ hoạt động sản xuất cho công ty.
Phòng thị trường tiếng trung: có chức năng tiếp tìm kiếm thị trường và chăm sóc khách hàng ( sử dụng tiếng trung là ngôn ngữ chính), tham mưu cho giám đốc kinh doanh các kế hoạch và biện pháp phát triển và ổn định thị trường, tăng sản lượng và doanh thu cho công ty.
Phòng thị trường tiếng anh: có chức năng tiếp tìm kiếm thị trường và chăm sóc khách hàng ( sử dụng tiếng anh là ngôn ngữ chính), tham mưu cho giám đốc kinh doanh các kế hoạch và biện pháp phát triển và ổn định thị trường, tăng sản lượng và doanh thu cho công ty.
ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN THỰC PHẨM QUỐC TẾ ALPHA THỜI KỲ TỪ NĂM 2014- NĂM 2016
3.2.1 Tình hình vốn và nguồn vốn của công ty
3.2.1.1 Quy mô và cơ cấu tài sản của công ty Để xét quy mô, cơ cấu tài sản của Công ty giai đoạn 2014-2016 chúng ta căn cứ vào số liệu ở bảng 3.1 Từ bảng số liệu cho thấy, tổng tài sản của công ty năm
2014 là 60,775.5 triệu đồng, năm 2015 tăng 8,708.9 triệu đồng ( tương ứng với tăng 14.3%) Đến năm 2016, tổng tài sản của công ty đạt 91,731.1 triệu đồng , so với năm 2015 tăng 22,246.6 triệu đồng ( tương ứng với tăng 32.0%).
Quy mô tài sản công ty qua các năm liên tục được mở rộng nhằm đáp ứng nhu cầu kinh doanh Nguyên nhân là do trong năm 2015 hai thị trường xuất khẩu chính của công tăng trưởng mạnh về doanh số Thị trường Trung Quốc doanh số bán hàng tăng trưởng 151.8% và thị trường Myanmar tăng trưởng trên 200% về lượng Các thị trường tiềm năng mới cũng được khai phá như thị trường Nhật Bản,Hàn Quốc, Thái Lan, Indonesia… Đây là một tín hiệu đáng mừng về thị phần của công ty không ngừng được tăng lên về số lượng khách hàng và sản lượng tiêu thụ
Các khoản phải thu có xu hướng tăng qua các năm; năm 2015 các khoản phải thu là 13.163.9 triệu đồng ( chiếm 34.8% TS ngắn hạn) tăng 3,394.9 triệu đồng so với năm 2014 ( tương ứng với tăng 34.8%); năm 2016 các khoản phải thu là 21,266.8 triệu đồng ( chiếm 42.3% TS ngắn hạn), tăng 8,102.8 triệu đồng so với năm 2015 ( tương ứng với tăng 61.6%) Điều này chứng tỏ tỉ trọng các khoản phải thu trong TS ngắn hạn chiếm tỉ trọng khá lớn Nguyên nhân do công ty tạo điều kiện về thanh toán công nợ trả chậm cho 1 khách hàng trọng điểm có doanh số lớn nhất ở thị trường Trung Quốc để tạo điều kiện cho khách hàng có thể quay vòng vốn nhanh phát triển sản lượng đạt doanh số tăng trưởng cao hơn nữa Về cơ cấu tỉ trọng nhóm tài sản này là có xu hướng tăng lên Qua phân tích trên cho thấy một phần vốn của công ty đang bị khách hàng chiếm dụng, vấn đề thu hồi công nợ của công ty chưa được tốt, chứa đựng rất nhiều yếu tố rủi ro.
Hàng tồn kho cũng có xu hướng tăng qua các năm Năm 2015 hàng tồn kho là 14,755.7 triệu đồng, tăng lên 3,157.9 triệu đồng so với năm 2014 ( tương ứng tăng 27.2% ) Năm 2016 hàng tồn kho là 21,073.6 triệu đồng, tăng lên 6,317.8 triệu đồng so với năm 2015 ( tương ứng tăng 42.8%) Cơ cấu tỉ trọng của hàng tồn kho trong TS ngắn hạn có xu hướng giảm vào năm 2015 ( giảm từ 40.2% của năm 2014 xuống còn 39.0% của năm 2015) nhưng lại có xu hướng tăng vào năm 2016 ( tăng từ 39.0% của năm 2015 lên 41.9% của năm 2016)
Trong khi đó, tài sản cố định và dài hạn chiếm tỉ trọng từ 52.6% tổng tài sản của năm 2014 thì đến năm 2015 lại giảm đi còn 45.6% tổng tài sản của năm 2015 và giảm tiếp còn 45.2% tổng tài sản của năm 2016 Điều này cho thấy trong thời gian qua công ty chưa cần đầu tư thêm mới vào tài sản cố định mà vẫn đáp ứng được đủ sản lượng cho thị trường
Bảng 3.1 Biến động quy mô, cơ cấu tài sản của Công ty giai đoạn 2014-2016
Chỉ tiêu Năm 2014 Năm 2015 Năm 2016 So sánh
( Nguồn: Báo cáo tài chính của công ty)
3.2.1.2 Quy mô cơ cấu nguồn vốn của Công ty
Xác định cơ cấu nguồn vốn phù hợp với lĩnh vực kinh doanh và đặc điểm tình hình hoạt động của Công ty trong từng thời kỳ là một vấn đề quan trọng, giúp định hướng cho quá trình huy động vốn của doanh nghiệp nhằm đảm bảo đáp ứng được nhu cầu vốn với chi phí và rủi ro là nhỏ nhất Vốn của Công ty được huy động từ nhiều nguồn, trong đó chủ yếu từ vay ngân hàng, vốn chủ sở hữu ( nguồn vốn dài hạn), vốn chiếm dụng của khách hàng ( nguồn vốn ngắn hạn) Có thể xem xét, nghiên cứu quy mô và cơ cấu nguồn vốn qua số liệu ở bảng 3.2 dưới đây:
* Cơ cấu nguồn vốn và tình hình biến động
Từ bảng số liệu 3.2 cho thấy, tổng số nguồn vốn của Công ty qua các năm từ
2014 đến 2016 có sự biến động rõ rệt.
Năm 2015 tăng so với năm 2014 là 8,708.9 triệu đồng ( tương ứng với tăng14.3%); Năm 2016 tăng so với năm 2015 là 22,246 triệu đồng ( tương ứng với tang132.0%) Quy mô nguồn vốn tăng là do Công ty đã tăng nhiều vào nguồn vốn nợ phải trả do tăng vay nợ ngắn hạn và nợ dài hạn Điều này cho thấy Công ty đang có bước chuyển tương đối mạo hiểm trong hoạt động sử dụng vốn kinh doanh thời kỳ 2014- 2016, sự tự chủ về tài chính của Công ty ngày càng giảm đi Công ty sẽ phải đối mặt với những rủi ro khi mà áp lực trả nợ phải trả ngày một tăng lên.
Xét tổng thể thì nợ phải trả chiếm tỷ trọng bình quân 71.3% trong tổng nguồn vốn của Công ty và có xu hướng tăng Năm 2015 nợ phải trả tăng 7,914.7 triệu đồng so với năm 2014 ( tương ứng với tăng 19.4%) Năm 2016 tăng 21,405.1 triệu đồng so với năm 2015 ( tương ứng với tăng 43.9%) Như vậy việc tăng huy động nguồn vay nợ đã chứng tỏ tình hình tài chính của Công ty đang rơi vào trạng thái mất cân bằng Nhu cầu vốn cho hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty ngày càng gia tăng qua các năm, đến cuối năm 2016 có 76.5% là vay nợ, trong đó chủ yếu là vay nợ ngắn hạn ngân hàng và nguồn vốn chiếm dụng nợ phải trả nhà cung cấp.
Bảng 3.2 Biến động quy mô, cơ cấu nguồn vốn của Công ty giai đoạn 2014-2016
Chỉ tiêu Năm 2014 Năm 2015 Năm 2016 So sánh
( Nguồn: Báo cáo tài chính của công ty)
Trong cơ cấu nợ phải trả, nợ ngắn hạn chiếm tỷ trọng lớn và tăng qua các năm Cụ thể: Nợ ngắn hạn năm 2015 tăng 5,393.7 triệu đồng so với năm 2014 ( tương ứng với tăng 17.0%) Năm 2016 nợ ngắn hạn tăng 21,405.1 triệu đồng ( tương ứng với tăng 57.5%) Trong khi đó nợ dài hạn chiếm tỉ trọng nhỏ hơn và cũng có xu hướng tăng vào năm 2015 Năm 2014 nợ dài hạn của Công ty là 9,074.8 triệu đồng chiếm tỷ trọng 23.8% trong tổng nợ, đến năm 2015 tăng lên 2,521.0 triệu đồng so với năm 2014 ( tương ứng với tăng 27.8%), chiếm 23.8% trong tổng nợ. Năm 2016 Công ty không tăng thêm vay dài hạn nên nợ dài hạn không tăng so với năm 2015, cơ cấu trong tổng nợ chỉ còn chiếm 16.5% Qua đó cho thấy trong thời kỳ từ 2014-2016 Công ty tăng nguồn vốn bằng cách tăng tập trung vào vay nợ ngắn hạn để phục vụ sản xuất kinh doanh Điều này cho thấy mức rủi ro về mặt tài chính của Công ty sẽ tăng lên khi các khoản nợ đến hạn và chi phí lãi vay ngày một tăng cao làm mất cân bằng về khả năng thanh toán trong ngắn hạn, chi phí lãi vay tăng đáng kể làm giảm hiệu quả sản xuất kinh doanh Công ty phải đặc biệt lưu ý đến vấn đề này.
Nguyên nhân là do việc huy động vốn chủ sở hữu không khả quan, không đáp ứng kịp thời được nhu cầu vốn kinh doanh ngày càng gia tăng của Công ty, mặc dù Công ty đã huy động vốn bằng cả biện pháp lợi nhuận giữ lại Số liệu trong bảng cho thấy tỉ lệ nghịch với việc tổng nguồn vốn và tỉ trọng nợ phải trả gia tang thì tỉ trọng nguồn vốn chủ sở hữu giảm dần qua các năm theo quy mô Năm 2014 vốn chủ sở hữu đạt 19,898.9 triệu đồng, chiếm 32.7% trong tổng nguồn vốn Năm
2015 vốn chủ sở hữu đạt 20,693.2 triệu đồng, tăng 794.3 triệu đồng so với năm
2014 ( tương ứng với tăng 4.0%), nhưng tỉ trọng trong tổng nguồn vốn chỉ chiếm 29.8% Năm 2016 vốn chủ sở hữu đạt 21,534.8 triệu đồng, tăng 814.6 triệu đồng so với năm 2015 ( tương ứng với tang 4.1%), nhưng tỉ trọng trong tổng nguồn vốn chỉ còn 23.5% Như vậy có thể thấy rằng tốc độ gia tăng của vốn chủ sở hữu chưa đáp ứng được nhu cầu cho nguồn vốn sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Mà doanh nghiệp phải tự huy động bằng các việc sử dụng hình thức vay tín dụng ngân hàng và tín dụng thương mại là chủ yếu Tỉ trọng vốn chủ sở hữu trong tổng nguồn vốn thể hiện sức mạnh tài chính và ảnh hưởng đến sự phát triển ổn định, lâu dài của doanh nghiệp Kết quả phân tích cho thấy tổng nguồn vốn chủ sở hữu qua các năm có tăng nhưng tỉ trọng trong tổng nguồn vốn lại giảm cho thấy khả năng tự tài trợ và chủ động trong kinh doanh của Công ty là còn thấp
Tuy nhiên để thấy rõ ý nghĩa đó, chúng ta cần phân tích tỉ suất tự tài trợ, đây là chỉ tiêu cho phép các nhà đầu tư và các đối tượng quan tâm thấy được mức độ tự chủ về vốn của doanh nghiệp Tỷ suất tự tài trợ là tỷ lệ giữa nguồn vốn chủ sở hữu so với tổng nguồn vốn.
3.2.1.3 Tỷ suất tự tài trợ vốn của Công ty
Số liệu ở bảng 3.3 cho thấy năm 2014 doanh nghiệp có thể tự bảo đảm trang trải tài sản bằng vốn của mình là 32.7%, nhưng đến năm 2015 giảm đi còn 29.7% và đến năm 2016 tiếp tục giảm còn 23.5% So với năm 2014 thì tỉ suất tự tài trợ năm 2015 giảm đi 2.9%; năm 2016 tỉ suất tự tài trợ giảm đi 6.3% so với năm 2015.
Tỷ suất tự tài trợ ở mức thấp như vậy cho thấy tình hình tài chính của công ty chưa vững chắc, khả năng trang trải các khoản nợ và chủ động trong hoạt động sản xuất kinh doanh là chưa cao.
Bảng 3.3 Tỷ suất tự tài trợ của Công ty giai đoạn 2014-2016 ĐVT: Triệu đồng
Nguồn vốn chủ sở hữu
Tỷ suất tự tài trợ
Đánh giá chung về thực trạng sử dụng vốn tại công ty
Quá trình phân tích tình hình và hiệu quả sử dụng vốn tại Công ty cổ phần thực phẩm quốc tế Alpha chúng ta đã nắm bắt được tình hình quản lý, cách thức huy động và sử dụng vốn, những thành công cũng như những tồn tại trong quá trình sử dụng vốn. ƯU ĐIỂM:
3.4.1 Những kết quả đạt được
Hoạt động trên một thị trường có tính cạnh tranh ngày càng quyết liệt, ban lãnh đạo Công ty cổ phẩn thực phẩm quốc tế Alpha đã tỏ rõ bản lĩnh kinh doanh của mình trong việc dẫn dắt công ty tồn tại và phát triển, lãnh đạo và tập thể cán bộ công nhân viên công ty đã thực hiện hoạt động sản xuất kinh doanh với tinh thần cao, tận dụng tối đa mọi nguồn lực sẵn có, liên tục huy động về trang thiết bị, máy móc, vốn và đặc biệt là con người để không ngừng phát triển năng lực sản xuất, mở rộng quy mô, đầu tư thiết bị hiện đại nhằm khẳng định vị trí của công ty trên thị sản xuất khẩu thực phẩm
- Doanh thu và quy mô đứng dẫn đầu tỉnh Bắc Ninh trong ngành thực phẩm bánh kẹo xuất khẩu
- Thị phần sản phẩm của công ty không ngừng được mở rộng, đến hết 31/12/2016 sản phẩm của công ty đã có mặt trên 15 nước và vùng lãnh thổ trên thế giới Sản phẩm của công ty được người tiêu dùng các nước Trung Quốc, Myanmar bình chọn là sản phẩm hot liên tục trong 3 năm liền
Mặc dù kết quả tỉ suất lợi nhuận của năm 2016 có bị thấp hơn so với các năm trước nhưng khả năng thanh toán các nguồn vay ngắn hạn của công ty khá tốt, thể hiện ở hệ số khả năng thanh toán tổng quát > 1; hệ số khả năng thanh toán nhanh > 0,5 Thực tế, công ty có tín nhiệm trong quan hệ tín dụng với ngân hàng và nhà cung cấp.
- Bổ sung và điều chỉnh kịp thời nhu cầu vốn cho kinh doanh, phù hợp với yêu cầu và quy mô hoạt động của công ty trong từng giai đoạn.
- Nguồn vốn chủ yếu của công ty là vốn vay, vốn chủ sở hữu chiếm tỷ trọng không quá lớn Công ty đã cải thiện đòn cân nợ bằng việc bổ sung thêm vốn chủ sở hữu bằng nguồn lợi nhuận không chia, nâng cao dần tính tự chủ của công ty trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh.
Chấp hành đúng chế độ chính sách của Nhà nước và xã hội Thực hiện đầy đủ nghĩa vụ với ngân sách Nhà nước; đảm bảo cuộc sống cho cán bộ công nhân viên ngày càng được nâng cao.
Bên cạnh đó việc quản lý tốt các khoản phải thu đã chứng tỏ Công ty đã có những biện pháp xử lý tốt phần vốn bị chiếm dụng làm tăng tốc độ quay vòng vốn. Ngoài ra ta cũng thấy sự linh hoạt và hợp lý trong việc điều hành sử dụng các nguồn vốn hiện có của Công ty, do vậy mà Công ty vẫn đảm bảo được nhu cầu về vốn cho hoạt động sản xuất kinh doanh.
Việc sử dụng vốn của công ty đã đạt được những kết quả đáng khích lệ,doanh thu thuần không ngừng tăng trong các năm qua đã đem lại cho công ty nhiều lợi nhuận, công ty đã thành công trong việc đảm bảo đủ vốn cho sản xuất kinh doanh Việc sử dụng, điều hoà vốn khá linh hoạt càng làm tăng thêm hiệu quả sử dụng vốn điều này thể hiện ở chỗ thời gian qua mặc dù được tài trợ chủ yếu bởi nợ dài hạn song công ty không bị mất khả năng thanh toán Số nợ dài hạn được sử dụng để tài trợ cho nhu cầu vốn cố định và TSCĐ ngày càng tăng
Công ty đã duy trì được lượng vốn lưu động chiếm tỷ trọng lớn trong tổng số vốn của công ty do đó tạo thuận lợi cho công ty trong sản xuất kinh doanh, chi phí khấu hao thấp làm giảm giá thành tăng lợi nhuận Công ty đã tận dụng tốt những khoản nợ ngắn hạn mà chủ yếu là vay ngắn hạn và các khoản phải trả phải nộp khác để tài trợ cho TSLĐ và một phần khá quan trọng là TSCĐ, điều này không phải là dễ dàng bởi muốn dùng nợ ngắn hạn để tài trợ cho tài sản dài hạn công ty phải có đủ uy tín cũng như khả năng phát triển Việc duy trì các khoản phải thu lớn cũng chưa hẳn là xấu nên công ty biết rõ khả năng có thể thu hồi lại được số công nợ này đồng thời công ty có thể ký kết được các hợp đồng mới hoặc có quan hệ kinh doanh với khách hàng chưa trả nợ này Nếu biết tiếp thị tốt cũng như duy trì mối quan hệ làm ăn lâu dài này trong thời gian sắp tới chắc chắn công ty sẽ thu được nhiều lợi nhuận hơn do chính sách tín dụng thương mại thu hút khách hàng Vì vậy vốn lưu động cũng như vốn cố định sẽ được sử dụng hiệu quả hơn.
3.4.2 Những hạn chế chủ yếu:
Mặc dù hoạt động kinh doanh sau cổ phần hoá đang dần ổn định và đạt được một số kết quả trên nhưng những hạn chế về quản lý và sử dụng vốn trong công ty chưa được khắc phục nên hiệu quả sử dụng vốn trong thời gian qua còn nhiều hạn chế:
Hình thức huy động vốn của công ty chưa đa dạng, cơ cấu nguồn vốn chỉ tập trung vào 2 nhóm: vốn chủ sở hữu và vốn vay ngân hàng (bên cạnh đó còn nguồn vốn chiếm dụng nhưng công ty cũng bị chiếm dụng vốn nhiều), công tác huy động vốn từ các nguồn khác còn yếu, đặc biệt là việc huy động từ nguồn phát hành cổ phiếu Với cơ cấu vốn như hiện tại, vốn vay chiếm tỷ trọng quá cao cho thấy mức độ tự chủ của công ty còn thấp.
Vốn vay nhiều làm cho công ty phải gánh một tỷ lệ nợ cao, chi phí nhiều để thanh toán lãi vay hằng năm, khả năng thanh toán dài hạn của công ty thấp.
Mặc dù công ty đã chú ý xây dựng chiến lược kinh doanh cho năm kế hoạch nhưng chưa sát với thực tế thực hiện (đặc biệt là công tác dự kiến mua vào hàng hoá trong năm 2016), công tác nghiên cứu, dự báo thị trường chưa thật sự được quan tâm, chú trọng, vì vậy không linh hoạt và bị động khi thị trường có biến động lớn theo hướng bất lợi cho hoạt động kinh doanh.
- Tỉ suất lợi nhuận và lợi nhuận sau thuế bị giảm trong năm 2016 Mặc dù doanh thu có tăng nhưng chi phí tăng với tốc độ lớn hơn làm cho các chỉ tiêu sinh lời và chỉ tiêu phản ánh hiệu quả sử dụng vốn chưa cao.
4.1 Phương hướng phát triển Công ty trong thời gian tới
4.1.1 Mục tiêu và nhiệm vụ kế hoạch của Công ty năm
Chiến lược hiện nay của Công ty được xây dựng chưa có tính hệ thống, còn rời rạc, chỉ mới dừng ở việc xây dựng kế hoạch SXKD, tập trung vào các chỉ tiêu kinh tế chủ yếu cho từng năm, trong đó chiến lược đến 2017 vẫn là tập trung cho xuất khẩu Hàng năm, công ty có xây dựng “chương trình hành động” để thực hiện mục tiêu cho từng năm nhưng đó chưa phải là chiến lược phát triển công ty Chính vì vậy Công ty đã xây dựng chiến lược phát triển công ty một cách tổng thể từ nay đến năm 2020.
- Từng bước đưa công ty thoát khỏi tình trạng khó khăn về tài chính, đáp ứng đủ vốn cho sản xuất và đầu tư phát triển của công ty.
- Duy trì và tiếp tục phát triển công ty với nhiều ngành nghề , sản phẩm có năng lực cạnh tranh cao, chất lượng sản phẩm tốt, giá thành sản xuất hạ
- Phấn đấu đạt mức độ tăng trưởng bình quân hàng năm > 10%
- Đảm bảo sản xuất kinh doanh có hiệu quả, cổ tức hàng năm sau khi trích các quỹ đạt bình quân > 18%
- Đảm bảo đủ việc làm và thu nhập ổn định cho người lao động
- Không ngừng đào tạo bồi dưỡng nâng cao tay nghề đội ngũ công nhân viên của công ty, đáp ứng những yêu cầu ngày càng cao về trình độ tay nghề người lao động
- Tiếp tục đầu tư đổi mới trang thiết bị, nâng cao năng lực sản xuất kinh doanh của công ty.
- Tiết kiệm chi phí hạ giá thành sản phẩm, tạo điều kiện tăng lợi nhuận của công ty, nâng cao thu nhập cho người lao động cũng như giá trị doanh nghiệp và thương hiệu Alphafood.
Xây dựng và phát triển công ty trở thành công ty mạnh, lấy chỉ tiêu hiệu quả kinh tế làm thước đo cho mọi hoạt động, lấy sự đảm bảo về chất lượng, uy tín thương hiệu sản phẩm và dịch vụ là sự sống còn cho sự phát triển bền vững Thực hiện đa dạng hóa ngành nghề, đa dạng hóa sản phẩm, đi đôi với công tác kinh doanh Không ngừng xây dựng đội ngũ cán bộ công nhân viên có trình độ chuyên môn, kỹ thuật cao, phát triển toàn diện, tăng cường khả năng cạnh tranh, phát huy thế mạnh, tận dụng mọi nguồn lực để nâng cao uy tín thương hiệu Viethouse, giải quyết đủ việc làm và không ngừng nâng cao đời sống vật chất tinh thần cho người lao động, góp phần xây dựng Công ty TNHH Thương mại & Dịch vụ kỹ thuật Nhà Việt thành tập đoàn kinh tế vững mạnh Hàng năm, công ty có xây dựng “chương trình hành động” để thực hiện mục tiêu cho từng năm nhưng đó chưa phải là chiến lược phát triển công ty Chính vì vậy Công ty đã xây dựng chiến lược phát triển công ty một cách tổng thể cho giai đoạn 2014-2017, định hướng đến năm 2020 Để có thể tồn tại và phát triển, toàn bộ cán bộ công nhân viên Công ty không ngừng cố gắng hơn nữa, phấn đấu để đưa công ty trở thành sự lựa chọn hàng đầu của các công trình xây dựng Chính vì vậy, trong những năm tới, Công ty đã vạch ra cho mình một hướng đi với nhiều kế hoạch cần phải phấn đấu Xây dựng và phát triển Công ty TNHH Thương mại & Dịch vụ kỹ thuật Nhà Việt trở thành một Công ty sản xuất mạnh đủ khả năng tham gia vào các công trình lớn trong nước cũng như trong khu vực Tiếp tục nghiên cứu và triển khai các dự án mới, mục đích đa dạng hóa các ngành nghề, mang lại nhiều lợi nhuận cho Công ty Bên cạnh đó cần tăng cường liên doanh, liên kết với các đơn vị sản xuất trong nước, ứng dụng các thành quả về khoa học công nghệ vào sản xuất Phấn đấu đến năm 2015, thị phần về sản phẩm xây lắp có thể chiếm lĩnh được từ 12% - 15%, thị phần về sản xuất cửa nhựa, cửa cuốn đạt 5% - 7% Phát huy cao độ mọi nguồn lực để nâng cao sức mạnh cạnh tranh phấn đấu vì sự phát triển bền vững của Công ty Bên cạnh đó, một trong những mối quan tâm của Công ty là “ sự phát triển bền vững” Trong giai đoạn
2016 - 2020, kết quả và hiệu quả sử dụng vốn của Công ty sẽ là minh chứng cho điều này.
Bảng 2.11 : Định hướng sản xuất kinh doanh của công ty năm 2016 & 2017
1 Tổng giá trị sản lượng 408 tỷ 490 tỷ
2 Tổng giá trị doanh thu 840 tỷ 950 tỷ
3 Nộp ngân sách 8 tỷ 9 tỷ
5 Vốn điều lệ 145 tỷ 145 tỷ
7 TNBQ người / Tháng 6 triệu 8 triệu
8 Tổng số CBCNV 250 người 350 người
9 Tổng quỹ lương 49,92 tỷ 58,85 tỷ
10 Cổ tức chia cho cổ đông 15% 18,00%
Chiến lược dài hạn : Để có được sự phát triển bền vững ngay từ bây giờ lãnh đạo công ty đã đề ra chiến lược dài hạn cho sự phát triển của công ty trong tương lai.
Chiến lược đào tạo và phát triển nguồn nhân lực : tuyển chọn đội ngũ lao động có chất lượng cao, kết hợp và đào tạo bồi dưỡng nâng cao tay nghề cho đội ngũ công nhân viên nhất là đội ngũ lao động trẻ Bên cạnh những chế độ chính sách theo quy định của Nhà Nước đối với người lao động, công ty cũng có chế độ hỗ trợ thêm cho người lao động tùy theo điều kiện của công ty Hiện nay hàng năm công ty vẫn tổ chức những lớp đào tạo nâng cao tay nghề và thi lên bậc cho công nhân viên trong công ty
Chiến lược phát triển thị trường : mở rộng hoạt động của công ty không chỉ trong các lĩnh vực sản xuất vật liệu điện công nghiệp mà phát triển sang cả cơ khí chế tạo máy, mở rộng thị trường hoạt động của công ty không chỉ gắn với những công trình trong nước mà tương lai sẽ hướng đến thị trường bên ngoài.
Chiến lược phát triển đầu tư :
Có kế hoạch đầu tư theo từng giai đoạn, kết hợp máy móc hiện đại và trình độ của người lao động để nâng cao năng lực sản xuất kinh doanh của công ty.
Những bước phát triển của công ty :
Tình hình tài chính của công ty khá lành mạnh, các chỉ tiêu kinh tế- tài chính đều ở mức có thể chấp nhận được.
Doanh thu và lợi nhuận tăng lên, tăng tích luỹ nội bộ, góp phần cải thiện đời sống cán bộ công nhân viên trong công ty, đưa mức lương trung bình của người lao động lên 5 triệu đồng / năm.
Công tác kế toán không ngừng được nâng cao, tuân thủ đúng các quy định về chế độ kế toán hiện hành.
Việc áp dụng hình thức trả lương theo sản phẩm đối với người lao động trực tiếp và lương cố định đối với người lao động gián tiếp đã kích thích người lao động góp phần nâng cao tinh thần trách nhiệm, khuyến khích người lao động và ý thức tiết kiệm trong sản xuất của công nhân.
Việc chuyển sang hoạt động theo hình thức công ty cổ phần và gắn lợi ích của người lao động với lợi ích chung của công ty đã phát huy tác dụng tích cực.
4.2 Giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn tại Công ty CP thực phẩm quốc tế Alpha
4.2.1.1 Hoàn thiện công tác kế hoạch hoá trong việc quản lý thực hiện đầu tư kinh doanh
Công tác kế hoạch trong kinh doanh đóng vai trò rất quan trọng trong việc điều hành quá trình đầu tư kinh doanh của Công ty được liên tục, có hiệu quả và đạt được mục tiêu đề ra.
Việc xây dựng kế hoạch chủ yếu thuộc trách nhiệm của ban giam đốc, phòng tài chính kế toán, phòng kinh doanh nhưng để đạt hiệu quả cao hơn Công ty nên phân công cán bộ chuyên trách theo dõi công tác sử dụng vốn thường xuyên theo định kỳ Sau đó tổng hợp, đánh giá các số liệu về quá trình sử dụng vốn, phân tích nguyên nhân ảnh hưởng và các tác động đến quá trình hoạt động kinh doanh, từ đó có giải pháp và kiến nghị kịp thời để nâng cao hiệu quả sử dụng vốn Các kế hoạch bao gồm
Kế hoạch, phương án sản xuất kinh doanh:
Hiệu quả sử dụng vốn trước hết được quyết định bởi việc doanh nghiệp có khả năng kinh doanh tạo ra doanh lợi hay không Do vậy, bất kỳ một doanh nghiệp nào cũng phải quan tâm đến việc đầu tư vào cái gì,bao nhiêu, tiêu thụ ở đâu, với mức giá thế nào nhằm huy động mọi nguồn lực vào hoạt động để có được nhiều thu nhập, lợi nhuận nhất cho chủ sở hữu Trong điều kiện nền kinh tế thị trường, quy mô và tính chất sản xuât kinh doanh không phải do chủ quan doanh nghiệp quyết định mà do thị trường quyết định Khả năng nhận biết, dự đoán thị trường và nắm bắt thời cơ là những yếu tố quyết định thành công hay thất bại trong kinh doanh. Muốn thành công trong kinh doanh, doanh nghiệp cần phải có phương án, kế hoạch về kinh doanh, về sản phẩm Các phương án này phải được xây dựng trên cơ sở tiếp cận thị trường, phải xuất phát từ nhu cầu thị trường Với đặc thù sản xuất các loại sản phẩm ống nhựa phục vụ cho các công trình xây dựng đô thị, Công ty cần nghiên cứu thăm dò thị trường để xem chỗ đứng của Công ty mình như thế nào? Các đối thủ cạnh tranh có các thế mạnh gì nổi trội hơn? Để từ đó có các biện pháp nhằm nâng cao chất lượng cũng như mẫu mã sản phẩm, đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của thị trường.