1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Bài Tập Nhóm Tội Cướp Tài Sản.docx

13 5 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tội Cướp Tài Sản
Trường học Trường Đại học Luật Hà Nội
Chuyên ngành Luật Hình sự
Thể loại Báo cáo nhóm
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 13
Dung lượng 29,88 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

MỤC LỤC A MỞ ĐẦU 1 B NỘI DUNG 2 1 Hành vi của Nguyễn Văn A phạm tội gì? Theo quy định tại điều, khoản nào của BLHS? Vì sao? 2 2 Giả sử sau khi lấy được tài sản, A phát hiện trong cốp xe máy còn có một[.]

Trang 2

A MỞ ĐẦU 1

B NỘI DUNG 2

1 Hành vi của Nguyễn Văn A phạm tội gì? Theo quy định tại điều, khoản nào của BLHS? Vì sao? 2

2 Giả sử sau khi lấy được tài sản, A phát hiện trong cốp xe máy còn có một chiếc điện thoại di đồng cùng tiền, tổng trị giá là 25.000.000 đồng thì tội danh và khung hình phạt áp dụng đối với A có thay đổi không? Vì sao? 6

3 Giả sử A đang có tiền án về tội cướp giật tài sản thì trường hợp phạm tội của A có bị coi là tái phạm hay tái phạm nguy hiểm không? Tại sao? 8

C KẾT LUẬN 10 TÀI LIỆU THAM KHẢO 11

Trang 3

A MỞ ĐẦU

Ngày nay, cùng với sự phát triển của kinh tế là sự thay đổi chóng mặt của

xã hội Bên cạnh những tác động tích cực mà nền kinh tế thị trường mang lại thì

nó cũng kéo theo những hệ lụy đối với cuộc sống con người, trong đó nổi bật và gay gắt nhất phải kể đến sự gia tăng chóng mặt của các loại tội phạm Không chỉ các loại tội phạm mới xuất hiện mà các loại tội phạm cũ cũng trở nên tinh vi và khó đoán hơn Đặc biệt là đối với các tội liên quan đến tài sản, xâm phạm quyền

sở hữu thì các thủ đoạn cũng như cách thức thực hiện ngày càng phức tạp hơn, dẫn đến việc khó khăn trong quá trình điều tra cũng như định tội của cơ quan điều tra Các hành vi phạm tội có tính chất, thủ đoạn tương tự nhau là một trong những điểm khó khăn cho cơ quan điều tra khi xác định tội danh cho người phạm tội Chính vì vậy để hiểu rõ hơn về loại tội phạm này, nhóm 4 lớp K7D lựa chọn giải quyết tình huống số 7, là tình huống có liên quan đến tội cướp giật tài sản, một tội danh trong nhóm các loại tội xâm phạm đến quyền sở hữu

Trang 4

B NỘI DUNG

1 Hành vi của Nguyễn Văn A phạm tội gì? Theo quy định tại điều, khoản nào của BLHS? Vì sao?

Hành vi của anh A đã cấu thành tội Cướp giật tài sản được quy định tại Điều 171 Bộ luật hình sự 2015, các dấu hiệu pháp lý của tội phạm cụ thể như sau:

Thứ nhất, về khách thể của tội phạm:

Tội cướp giật tài sản xâm phạm quyền sở hữu tài sản của Nhà nước, tổ chức, doanh nghiệp, cá nhân; xâm phạm quyền được bảo vệ về sức khỏe, tính mạng của con người

Đối tượng tác động: tài sản, con người

Trong tình huống trên, A đã chiếm đoạt chiếc xe máy của chị H Vì vậy, hành vi của A đã xâm phạm quyền sở hữu tài sản của chị H

Thứ hai, về mặt khách quan của tội phạm:

Hành vi khách quan: Hành vi công khai, nhanh chóng chiếm đoạt tài sản

mà không dùng vũ lực, không đe dọa dùng vũ lực hoặc thủ đoạn uy hiếp tinh thần người khác

Hành vi công khai nhanh chóng chiếm đoạt tài sản được hiểu là người phạm tội lợi dụng điều kiện, hoàn cảnh khách quan để công khai và nhanh chóng chuyển dịch tài sản từ người quản lý tài sản sang người phạm tội mà không dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực hoặc uy hiếp tinh thần người khác

Hành vi chiếm đoạt tài sản ở tội cướp giật tài sản có hai dấu hiệu để phân biệt với hành vi chiếm đoạt ở các tội phạm khác

Dấu hiệu công khai:

Thể hiện ở việc người phạm tội không có ý thức che giấu hành vi chiếm đoạt tài sản của mình đối với người quản lý tài sản

Dấu hiệu nhanh chóng:

Thể hiện ở hành vi ngay tức thì chiếm đoạt, giật lấy tài sản của người quản lý tài sản hoặc lợi dụng sơ hở của người quản lý tài sản (sơ hở này có thể

có sẵn hoặc do người phạm tội chủ động tạo ra) để tiếp cận tài sản rồi nhanh

Trang 5

chóng chiếm đoạt tài sản Hành vi chiếm đoạt tài sản một cách nhanh chóng đã tạo ra bất ngờ đối với người quản lý tài sản, làm cho những người này không có khả năng giữ được tài sản đang quản lý Ngoài ra, sau khi chiếm đoạt được tài sản, người phạm tội có ý thức đưa tài sản đi nơi khác ngay lập tức

Để thực hiện hành vi cướp giật tài sản, người phạm tội có thể sử dụng nhiều thủ đoạn khác nhau như:

- Lợi dụng chủ sở hữu hoặc người có trách nhiệm quản lý tài sản không chú ý, bất ngờ giật lấy tài sản;

- Lợi dụng chủ sở hữu hoặc người quản lý tài sản vướng mắc, không có khả năng đuổi bắt hoặc giằng giật lại tài sản để chiếm đoạt tài sản;

- Dùng thủ đoạn gian dối để tiếp cận tài sản;…

Trong tình huống, A thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản bằng thủ đoạn công khai (giả vờ xem xét các bộ phận của xe nhằm tiếp cận với tài sản), nhanh chóng (nổ máy chạy đi không quay lại) Ở đây A không dùng vũ lực hay uy hiếp tinh thần của chị H cũng như mọi người mà chỉ lợi dụng cơ hội tiếp cận tài sản thực hiện hành vi cướp giật và tẩu thoát khi chị H sơ hở trong việc quản lý tài sản

Hành vi chiếm đoạt tài sản chị H của A được thực hiện công khai, không

có ý thức che dấu hành vi chiếm đoạt tài sản của mình đối với người quản lý tài sản và những người khác Việc A quan sát và để tâm ít hay nhiều người không nhằm mục đích che giấu mà nhằm mục đích phục vụ cho hành vi tẩu thoát được nhanh chóng, trót lọt

Sau khi chiếm đoạt được tài sản thì A đã đưa tài sản đên nơi khác ngay lập tức nhằm trốn tránh cơ quan điều tra

Khi xét tình huống trên nhiều người dễ nhầm lẫn với tội danh lừa đảo nhằm chiếm đoạt tài sản hay công nhiên chiếm đoạt tài sản Tuy nhiên nó không phải là lừa đảo chiếm đoạt tài sản sản hay công nhiên chiếm đoạt tài sản vì:

- Khác với tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản, người thực hiện hành vi cướp giật tài sản là hành vi công khai nhanh chóng chiếm đoạt tài sản đang do người khác quản lý, không dùng vũ lực, không đe doạ dùng vũ lực hay thủ đoạn uy

Trang 6

hiếp tinh thần nào khác Còn tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là hành vi gian dối nhằm chiếm đoạt tài sản mà cụ thể hơn là không có cố ý đưa ra thông tin sai để người quản lý tài sản tưởng là thật mà tự nguyện giao tài sản cho người phạm tội, mà ở đây người phạm tội lợi dụng sơ hở của người quản lý tài sản hoặc có thể tự mình tạo ra những sơ hở để thực hiện hành vi công khai chiếm đoạt tài sản rồi nhanh chóng tẩu thoát Khi mới nhìn vào đề thì rất dễ nhầm lẫn tội này vì người phạm tội có hành vi gian dối, tuy nhiên ở tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản thì hành vi gian dối này dẫn đến người bị hại vì hành vi gian dối mà chuyển quyền

sở hữu sang cho người phạm tội còn ở cướp giật tài sản người phạm tội có thể

có hành vi gian dối nhưng dùng để tiếp cận tài sản và mặc dù có thể mang tài sản rời khỏi tay người bị hại, tuy nhiên chủ sở hữu về mặt pháp lý vẫn là người

bị hại Ở trong trường hợp này chị H vẫn còn đứng tên chủ sở hữu xe hoặc có giấy tờ khác chứng minh xe máy này thuộc quyền sở hữu của chị nên về mặc dù hành vi gian dối xuất hiện ở cả hai tội nhưng đây là tội cướp giật tài sản chứ không phải tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản

- Khác với tội công nhiên chiếm đạt tài sản dù có cùng hành vi ngang nhiên, không dùng vũ lực đe dọa nhưng khác nhau ở chỗ công nhiên chiếm đoạt tài sản người phạm tội lợi dụng hoàn cảnh không có khả năng ngăn chặn chủ sỡ hữu hoặc người quản lý Hoàn cảnh ở đây là vì lý do nào đó mà người bị hại không thể có hành vi ngăn chặn người phạm tội và người phạm tội không cần và không có ý định có bất cứ thủ đoạn nào khác để đối phó với chủ tài sản, người phạm tội không dùng vũ lực hay đe dọa dùng vũ lực hay uy hiếp hay nhanh chóng chiếm đoạt và lẫn tránh Còn tội cướp giật tài sản là việc lợi dụng sơ hở của chủ sỡ hữu, người trực tiếp quản lý tài sản nhanh chóng tiếp cận, nhanh chóng chiếm đoạt tài sản và nhanh chóng lẩn trốn Thủ đoạn nhanh chóng chiếm đoạt tài sản có thể diễn ra ở nhiều hình thức khác nhau, phụ thuộc vào hoàn cảnh, đặc điểm tài sản,…Ở tội này người phạm tội sẽ phát sinh ý định, hành vi, thủ đoạn để có thể đưa tài sản rời khỏi sự quản lý của chủ sở hữu và với thủ đoạn đó người phạm tội muốn chủ sở hữu, người trực tiếp quản lý tài sản không thể kịp thời ngăn chặn hành vi phạm tội của mình Nhưng ở đây người bị hại vì

Trang 7

ý định, hành vi, thủ đoạn của người phạm tội nên từ đó phát sinh hành vi không thể kịp thời ngăn chặn hành vi phạm tội của chủ sở hữu tài sản Chính vì việc xuất phát từ ý định, hành vi và thủ đoạn của người phạm tội nên người phạm tội

có thể lấy được tài sản từ tay người bị hại mà không bị ngăn chặn Ở đây có một

ví dụ cho việc công nhiên chiếm đoạt tài sản là: Người già bị liệt cả người và không có khả năng giao tiếp để kêu cứu, trong nhà không có ai và người phạm tội biết rõ điều đó

Thứ ba, về hậu quả của hành vi phạm tội:

Tội cướp tài sản là tội phạm có cấu thành vật chất, dấu hiệu hậu quả là dấu hiệu bắt buộc Do đó, chỉ khi nào người phạm tội giật được tài sản thì tội phạm mới hoàn thành

Hậu quả của tội cướp giật tài sản trước hết là những thiệt hại về tài sản, ngoài ra còn có những thiệt hại về tính mạng, sức khỏe của con người Tội cướp giật tài sản là tội phạm nghiêm trọng nên các nhà làm luật không quy định mức tài sản bị chiếm đoạt là dấu hiệu cấu thành tội phạm Do đó, người phạm tội cướp giật tài sản có trị giá lớn hay trị giá nhỏ vẫn là phạm tội cướp giật tài sản

Ở tình huống trên, hậu quả khách quan do hành vi chiếm đoạt của anh A

là thiệt hại về tài sản, cụ thể là chiếc xe máy của chị H Vì vậy, anh A thực hiện tội cướp giật tài sản ở giai đoạn tội phạm hoàn thành

Thứ tư, về chủ thể của tội phạm:

Nguyễn Văn A sinh năm 1994 Tại thời điểm thực hiện phạm tội vào năm

2018 và lúc đó A 24 tuổi, có đủ năng lực trách nhiệm hình sự

Thứ năm, về mặt chủ quan của tội phạm:

Tội phạm được thực hiện với lỗi cố ý Người phạm tội nhận thức rõ tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi của mình, thấy trước hậu quả của hành vi của mình, mong muốn chiếm đoạt được tài sản

Ở tình huống trên, anh A nhận thức rõ hành vi chiếm đoạt tài sản của mình gây ra hậu quả nguy hiểm cho xã hội, thấy trước hậu quả về tài sản đối với chị H do hành vi của mình Anh A mong muốn chiếm đoạt được tài sản bởi lẽ mục đích chiếm đoạt tài sản đã nảy sinh trước khi thực hiện hành vi chiếm đoạt

Trang 8

tài sản, anh A đã dùng thủ đoạn để thực hiện hành vi của mình một cách dễ dàng, nhanh chóng

Mục đích: chiếm đoạt chiếc xe máy của chị H

Động cơ: động cơ vụ lợi

Thứ sáu, về hình phạt:

Theo quan điểm của nhóm, anh A chịu hình phạt theo quy định tại khoản

1 Điều 171 BLHS năm 2015 vì:

Khi A bị phát hiện và bắt giữ cùng xe máy của chị H Cơ quan điều tra xác định chiếc xe máy A chiếm đoạt là loại xe HONDA SH MODE đã qua sử dụng, được Hội đồng định giá xác định có giá trị là 30.000.000 đồng Mặc dù A

đã bán chiếc xe đó với trị giá 15 triệu đồng, nhưng theo quy định tại tiểu mục 1 mục II Thông tư liên tịch số 02/2001/TTLT – TANDTC – VKSNDTC – BCA -BTP, giá trị của tài sản bị chiếm đoạt được xác định theo giá thị trường của tài sản đó tại địa phương vào thời điểm tài sản đó bị chiếm đoạt

Vì vậy anh A sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự với giá trị tài sản bị chiếm đoạt theo sự định giá tài sản của Hội đồng định giá là 30.000.000 đồng, phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 171 BLHS năm 2015

2 Giả sử sau khi lấy được tài sản, A phát hiện trong cốp xe máy còn có một chiếc điện thoại di đồng cùng tiền, tổng trị giá là 25.000.000 đồng thì tội danh và khung hình phạt áp dụng đối với A có thay đổi không? Vì sao?

Trong tình huống trên, thì tội danh của A vẫn là tội Cướp giật tài sản quy định tại Điều 171 BLHS 2015, do số tiền và điện thoại mà A phát hiện trong cốp

xe vẫn là tài sản do hành vi cướp giật tài sản mà có, do đó tội danh không thay đổi

Về khung hình phạt đối với tình huống trên, chúng ta có thể căn cứ theo quy định của Thông tư liên tịch số 02/2001/TTLT TANDTC VKSNDTC -BCA - BTP về vấn đề xác định giá trị tài sản bị chiếm đoạt:

“II VỀ VIỆC XÁC ĐỊNH GIÁ TRỊ TÀI SẢN BỊ CHIẾM ĐOẠT, BỊ

CHIẾM GIỮ TRÁI PHÉP, BỊ SỬ DỤNG TRÁI PHÉP, BỊ HUỶ HOẠI HOẶC BỊ LÀM HƯ HỎNG

Trang 9

Đối với các hành vi xâm phạm sở hữu nói chung việc xác định đúng giá trị tài sản bị chiếm đoạt, bị chiếm giữ trái phép, bị sử dụng trái phép, bị huỷ hoại hoặc

bị làm hư hỏng có ý nghĩa rất quan trọng trong việc xác định trường hợp nào bị truy cứu trách nhiệm hình sự, trường hợp nào chưa đến mức bị truy cứu trách nhiệm hình sự, cũng như việc áp dụng đúng khung hình phạt; do đó, cần chú ý một số điểm sau đây trong việc xác định giá trị tài sản đối với các tội xâm phạm

sở hữu:

1 Giá trị tài sản bị chiếm đoạt, bị chiếm giữ trái phép, bị sử dụng trái phép, bị huỷ hoại hoặc bị làm hư hỏng được xác định theo giá thị trường của tài sản đó tại địa phương vào thời điểm tài sản bị chiếm đoạt, bị chiếm giữ trái phép, bị sử dụng trái phép, bị huỷ hoại hoặc bị làm hư hỏng

2 Trong trường hợp có đầy đủ cằn cứ chứng minh rằng người có hành vi xâm phạm sở hữu có ý định xâm phạm đến tài sản có giá trị cụ thể theo ý thức chủ quan của họ, thì lấy giá trị tài sản đó để xem xét việc truy cứu trách nhiệm hình

sự đối với người có hành vi xâm phạm

Ví dụ 1: A thấy một người vừa nhận ở kho bạc 100 triệu đồng bỏ vào một chiếc túi xách để trước giỏ xe máy nên có ý định cướp giật 100 triệu đồng này A lấy

xe máy đi theo người vừa nhận tiễn và đã cướp giật được chiếc túi xách này, nhưng trong chiếc túi xách này chỉ còn có 200 nghìn đổng, bởi vì 100 triệu đồng người nhận tiền đã bỏ vào cốp xe máy Trong trường hợp này phải truy cứu trách nhiệm hình sự đối với A theo các điểm d và g khoản 2 Điều 136 BLHS

Ví dụ 2: B thấy C đeo một chiếc nhẫn mầu vàng Qua các nguồn tin B tưởng đây

là nhẫn bằng vàng 9,999, có trọng lượng 2 chỉ, nên đã dùng thủ đoạn gian dối và

đã chiếm đoạt được chiếc nhẫn này Trong trường hợp này phải lấy trị giá của một chiếc nhẫn bằng vàng 9,999 với trọng lượng 2 chỉ theo thời giá tại địa phương vào thời điểm chiếm đoạt để xem xét việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với B về tội "Lừa đảo chiếm đoạt tài sản"

3 Trong trường hợp có đầy đủ căn cứ chứng minh rằng người có hành vi xâm phạm sở hữu có ý định xâm phạm đến tài sản, nhưng không quan tâm đến giá trị tài sản bị xâm phạm (trị giá bao nhiêu cũng được), thì lấy giá thị trường của tài sản bị xâm phạm tại địa phương vào thời điểm tài sản bị xâm phạm để xem xét việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người có hành vi xâm phạm

Ví dụ: M thấy một chiếc xe máy dựng trước cửa của một gia đình nên đã vào lấy trộm không quan tâm đó là xe Trung Quốc hay xe Nhật Bản Trong trường hợp này nếu là xe Trung Quốc thì xác định giá trị tài sản bị chiếm đoạt theo giá trị xe Trung Quốc; nếu là xe Nhật Bản thì xác định giá trị tài sản bị chiếm đoạt theo giá trị xe Nhật Bản.”

Như vậy, để xác định số tiền và điện thoại của A có cộng chung với giá trị của chiếc xe SH để tăng khung hình phạt lên tại khoản 2 của điều 171 BLHS hay không thì cần phải căn cứ vào ý chí chủ quan của A Trong tình huống trên, ý chí chủ quan của A chỉ mong muốn chiếm đoạt chiếc xe SH của chị H mà khôgn

có ý thức về số tiền và điện thoại ở trong cốp xe của chị Do đó thì A không có

Trang 10

lỗi đối với số tiền và điện thoại này Đồng thời BLHS Việt Nam đề cao nguyên tắc nhân đạo nên trong tình huống này, hình phạt đối với A vẫn là hình phạt tại khoản 1 điều 171 BLHS 2021, còn số tiền và điện thoại trị giá 25.000.000 sẽ được giải quyết theo vụ việc dân sự là trả lại cho người bị mất tài sản

3 Giả sử A đang có tiền án về tội cướp giật tài sản thì trường hợp phạm tội của A có bị coi là tái phạm hay tái phạm nguy hiểm không? Tại sao?

Trước tiên có thể hiểu tiền án là việc một người bị xử phạt hình sự đã chấp hành hình phạt và chưa được xóa án tích

Hành vi của Nguyễn Văn A cướp giật chiếc xe máy của chị H cấu thành tội cướp giật tài sản theo quy định tại khoản 1 Điều 171 BLHS năm 2015:

“Người nào cướp giật tài sản của người khác, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm”.

Tội phạm được quy định tại khoản 1 Điều 171 BLHS là tội phạm nghiêm

trọng căn cứ theo điểm b khoản 1 Điều 9 BLHS năm 2015 “Tội phạm nghiêm trọng là tội phạm có tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội lớn mà mức cao nhất của khung hình phạt do Bộ luật hình sự quy định đối với tội phạm ấy là từ trên 03 năm tù đến 07 năm tù”.

Bên cạnh đó, tội cướp giật tài sản quy định tại Điều 171 BLHS năm 2015 được thực hiện với lỗi cố ý Vì vậy, căn cứ theo điểm b khoản 1 Điều 9 và khoản

1 Điều 171 BLHS năm 2015 thì hành vi phạm tội của A là tội phạm nghiêm trọng với lỗi cố ý

Căn cứ theo Điều 53 BLHS năm 2015:

“1 Tái phạm là trường hợp đã bị kết án, chưa được xóa án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội do cố ý hoặc thực hiện hành vi phạm tội về tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng do vô ý.

2 Những trường hợp sau đây được coi là tái phạm nguy hiểm:

Ngày đăng: 07/03/2023, 10:15

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w