A MỞ ĐẦU Việc quy định tội phạm nói chung và các tội xâm phạm tình dục nói riêng trong Bộ luật hình sự Việt Nam đóng vai trò rất quan trọng vì các quy định đó đã góp phần bảo vệ trật tự, an toàn xã hộ[.]
Trang 1A MỞ ĐẦU
Việc quy định tội phạm nói chung và các tội xâm phạm tình dục nói riêng trong
Bộ luật hình sự Việt Nam đóng vai trò rất quan trọng vì các quy định đó đã góp phần bảo vệ trật tự, an toàn xã hội, các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, cũng như góp phần vào công tác đấu tranh phòng chống tội phạm Tuy nhiên trong những năm gần đây số lượng các vụ án xâm phạm tình dục lại có xu hướng tăng về số lượng cũng như tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi
Để khắc phục những tồn tại, vướng mắc trong quy định và áp dụng pháp luật về các tội xâm phạm tình dục trong thời gian vừa qua, góp phần hoàn thiện pháp luật hình sự trong thời gian tới, nhằm đáp ứng được nhu cầu, đấu tranh phòng chống nhóm tội phạm này thì việc nghiên cứu, tìm hiểu những vấn đề lý luận, quy định về các tội xâm phạm tình dục, làm rõ những ưu điểm cũng như hạn chế, bất cập trong những quy định và thực tiễn áp dụngnhóm tội phạm này, từ
đó có cơ sở để đưa ra những kiến nghị hoàn thiện các quy định về các tội xâm phạm tình dục trong pháp luật hình sự Việt Nam là điều cần thiết
Trang 2B NỘI DUNG
I Tình huống số 1
Trần B (22 tuổi) quen H (21 tuổi) trong một lần chơi B nảy sinh ý định giao cấu với H nên đã rủ Nguyễn T (25 tuổi), Phạm V (22 tuổi) giúp mình B mời H đi
ăn sinh nhật bạn ở xã bên và được H đồng ý Trên đường đi đón H, B đã chuẩn
bị sẵn một cuộn băng dính màu đen, bản rộng 5cm dùng để bịt miệng và trói nạn nhân, đồng thời tạt qua hiệu thuốc mua bao cao su Sau khi đón được H, B đưa H đến đoạn đường tối, vắng vẻ mà V và T đã đợi sẵn H thấy B đưa mình đi sai đường thì yêu cầu B dừng xe để quay về Khi H vừa bước xuống xe, B liền đẩy H ngã, V giữ tay chân để B thực hiện hành vi giao cấu với H còn T đứng ngoài dùng điện thoại quay lại Hành vi của B được xác định là Tội hiếp dâm theo quy định tại Điều 141 BLHS 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017)
II Giải quyết tình huống
a) Phân tích mặt khách quan của tội phạm
Mặt khách quan của tội phạm là những biểu hiện ra bên ngoài của tội phạm bao gồm: hành vi nguy hiểm cho xã hội, hậu quả nguy hiểm cho xã hội, mối quan hệ nhân quả giữa hành vi nguy hiểm và hậu quả, phương pháp, thủ đoạn, công cụ, phương tiện phạm tội, địa điểm, thời gian,…
Xét các dấu hiệu thuộc mặt khách quan trong tình huống trên:
Thứ nhất, về hành vi nguy hiểm cho xã hội:
Điều 141 Bộ luật Hình sự năm 2015 quy định 3 dạng hành vi khách quan mà khi cá nhân thực hiện có thể cấu thành tội hiếp dâm, bao gồm:
Dùng vũ lực
Đe dọa dùng vũ lực
Trang 3 Lợi dụng tình trạng không thể tự vệ được của nạn nhân hoặc bằng thủ đoạn khác giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác trái với ý muốn của nạn nhân
Xét hành vi của các chủ thể trong tình huống trên:
- Hành vi của B: đẩy ngã H, giao cấu với H → có sự dùng vũ lực, có hành vi giao cấu
- Hành vi của V: giữ tay chân H để B thực hiện hành vi giao cấu với H → dùng
vũ lực
- Hành vi của T: đứng ngoài dùng điện thoại quay lại
Căn cứ vào các hành vi khách quan được quy định trong Điều 141 và sự phân tích như đã nêu ở trên, trong tình huống này hành vi của các chủ thể là hoàn toàn thỏa mãn với các dạng hành vi khách quan được quy định trong Bộ luật Hình sự về tội hiếp dâm
Thứ hai, về hậu quả và mối quan hệ nhân quả giữa hành vi và hậu quả: với các
hành vi do B, V, T gây ra, trên thực tế nạn nhân H không chỉ bị xâm hại về sức khỏe mà còn là danh dự, nhân phẩm, nhất là khi H là một người phụ nữ và hiếp dâm là một hành vi đáng lên án Không những vậy, với những hành vi dùng vũ lực, thậm chí còn quay lại video đã gây không ít tổn thương về tâm lý cho H, có thể sẽ khiến H gặp những ám ảnh về sau này
Thứ ba, về thủ đoạn: từ một lần đi chơi B nảy sinh ý định giao cấu với H, do
vậy B đã nhờ V và T rủ H đi ăn sinh nhật bạn ở xã bên và được H đồng ý Lợi dụng sự tin tưởng và không nghi ngờ của H, B đã lên ý định để ngày hôm đó thực hiện hành vi đồi bại của mình Đây được xác định thủ đoạn phạm tội trong tình huống này
Thứ tư, về công cụ, địa điểm, thời gian phạm tội:
Trang 4- Công cụ: theo như tình huống, các công cụ mà B đã chuẩn bị để thực hiện hành vi này bao gồm: một cuộn băng dính màu đen bản rộng 5cm dùng để bịt miệng H, bao cao su
- Địa điểm, thời gian: trên một đoạn đường, trời tối, vắng
Trong mặt khách quan của tội phạm, hành vi nguy hiểm cho xã hội là đặc trưng
cơ bản nhất, bởi đây là dấu hiệu được thể hiện trong tất cả tội phạm, các dấu hiệu khác như hoàn cảnh, địa điểm, thời gian, công cụ, phương tiện, chỉ thể hiện
ở một số các tội phạm nhất định Chính vì vậy, với tình huống trên, dấu hiệu hành vi đã đủ thỏa mãn để cấu thành mặt khách quan của tội phạm
b) Xác định và phân tích hình thức lỗi của B trong trường hợp nêu trên?
* Cơ sở lý luận:
Lỗi là thái độ tâm lý của một người đối với hành vi nguy hiểm cho xã hội do người đó thực hiện và đối với hậu quả nguy hiểm cho xã hội của hành vi đó, được biểu hiện dưới hình thức cố ý hoặc vô ý
Trong luật hình sự Việt Nam, lỗi là một trong ba dấu hiệu bắt buộc trong mặt chủ quan của tội phạm, có ở tất cả các tội phạm do đó trong mọi vụ án hình sự
ta đều cần phải xác định lỗi để từ đó có thể xác định được trách nhiệm hình sự
mà người phạm tội phải chịu Lỗi hình sự bao gồm những dấu hiệu sau:
1 Về mặt chủ thể, phải đảm bảo hai yếu tố:
• Yếu tố y học, phản ánh chủ thể phải có năng lực TNHS, tức là không thuộc một trong các trường hợp không có năng lực TNHS Dấu hiệu lỗi của tội phạm được thể hiện trên các mặt là lý trí và ý chí Lý trí thể hiện khả năng nhận thức của một người đối với những yêu cầu, đòi hỏi của xã hội khi thực hiện hành vi nhất định Ý chí thể hiện khả năng lựa chọn, điều khiển hành vi của một người khi thực hiện hành vi nào đó trên cơ sở khả năng nhận thức được ý nghĩa xã hội của hành vi của mình
Trang 5• Yếu tố tâm lý, thể hiện chủ thể phải đạt đến một độ tuổi nhất định, cụ thể là tuổi chịu TNHS được quy định trong BLHS
2 Về mặt khách quan, phải tồn tại khách quan một hoặc nhiều khả năng xử sự khác không gây thiệt hại cho xã hội, có đủ điều kiện khách quan cho phép chủ thể thực hiện khả năng lựa chọn xử sự hợp pháp Ngoài ra, còn có một dấu hiệu quan trọng khác giúp chúng ta phân biệt được lỗi hình sự với lỗi nói chung, đó
là dầu hiệu trái PLHS Dấu hiệu này được hiểu như sau: chủ thể thực hiện hành
vi nguy hiểm cho xã hội trong khi có đủ điều kiện để lựa chọn hành vị hợp pháp Hành vi nguy hiểm cho xã hội mà chủ thể đã lựa chọn thực hiện đó được quy định cụ thể trong BLHS- bị BLHS coi là tội phạm
Bên cạnh đó, sự kết hợp khác nhau của hai mặt lý trí và ý chí tạo nên các hình thức lỗi khác nhau Bộ luật hình sự năm 2015 quy định cụ thể các trường hợp cố
ý phạm tội (Điều 10 Bộ luật hình sự năm 2015) và vô ý phạm tội (Điều 11 Bộ luật hình sự năm 2015) Dựa trên sự biểu hiện khác nhau về lý trí và ý chí của từng loại lỗi, khoa học luật hình sự chia lỗi cố ý ra thành lỗi cố ý trực tiếp và lỗi
cố ý gián tiếp; chia lỗi vô ý ra thành lỗi vô ý do quá tự tin và lỗi vô ý do cẩu thả
* Trả lời câu hỏi:
- Thứ nhất, về mặt chủ thể: trong tình huống có nêu anh B đã 22 tuổi và không nêu thêm bất cứ thông tin gì của anh B do đó ta có thể mặc định rằng anh B có đầy đủ năng lực TNHS và đủ tuổi để chịu TNHS theo quy định của BLHS + Xét về lí trí: anh B nhận thức rõ hành vi nguy hiểm cho xã hội của mình, nghĩa là anh B nhận thức được đầy đủ tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành
vi của mình, cụ thể trong trường hợp này là gây nguy hiểm cho chị H
Đồng thời anh B cũng thấy trước hậu quả nguy hiểm cho chị H khi thực hiện hành vi hiếp dâm của mình, nghĩa là anh B biết trước hậu quả của hành vi của mình tất yếu sẽ xảy ra
Trang 6+ Xét về ý chí: Thông qua các chi tiết trong tình huống ta có thể thấy anh B cũng mong hậu quả xảy ra, tức là cũng mong muốn có thể thực hiện được hành
vi hiếp dâm đối với H
- Thứ hai, về mặt khách quan: mặc dù trong tình huống trên có đủ điều kiện khách quan cho phép B lựa chọn xử sự hợp pháp nhưng B vẫn lựa chọn những hành vi nguy hiểm cho xã hội và trái với quy định của pháp luật
Do đó, từ những phân tích trên, quan điểm của nhóm cho rằng lỗi của B là lỗi
cố ý trực tiếp, được quy định tại khoản 1- Điều 10 BLHS năm 2015
c, Có quan điểm cho rằng tội hiếp dâm là tội phạm có cấu thành vật chất? Anh chị hãy nêu ý kiến của mình về quan điểm nêu trên.
Dựa vào đặc điểm cấu trúc cả các dấu hiệu thuộc mặt khách quan có thể chia cấu thành tội phạm thành cấu thành tội phạm vật chất và cấu thành tội phạm hình thức
- Cấu thành tội phạm vật chất là cấu thành tội phạm có các dấu hiệu của mặt khách quan là hành vi, hậu quả, mối quan hệ nhân quả giữa hành vi và hậu quả
- Cấu thành tội phạm hình thức là cấu thành tội phạm có một dấu hiệu của mặt khách quan là hành vi nguy hiểm cho xã hội
Theo Điều 141 Bộ luật hình sự năm 2015 quy định về Tội hiếp dâm như sau: Tội hiếp dâm được quy định trong Điều 141 Bộ Luật Hình sự 2015 (có hiệu lực
từ ngày 01/01/2018) như sau:
1 Người nào dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực hoặc lợi dụng tình trạng không thể tự vệ được của nạn nhân hoặc bằng thủ đoạn khác giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác trái với ý muốn của nạn nhân, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm
2 Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:
a) Có tổ chức;
Trang 7b) Đối với người mà người phạm tội có trách nhiệm chăm sóc, giáo dục, chữa bệnh;
c) Nhiều người hiếp một người;
d) Phạm tội 02 lần trở lên;
đ) Đối với 02 người trở lên;
e) Có tính chất loạn luân;
g) Làm nạn nhân có thai;
h) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của nạn nhân mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60%;
i) Gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân từ 11% đến 45%;
k) Tái phạm nguy hiểm
3 Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân:
a) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của nạn nhân mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên;
b) Biết mình bị nhiễm HIV mà vẫn phạm tội;
c) Gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân 46% trở lên;
d) Làm nạn nhân chết hoặc tự sát
4 Phạm tội đối với người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 10 năm
Phạm tội thuộc một trong các trường hợp quy định tại khoản 2 hoặc khoản 3 Điều này, thì bị xử phạt theo mức hình phạt quy định tại các khoản đó
5 Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm
Có thể thấy cấu thành tội phạm chỉ nêu ra dấu hiệu của mặt khách quan là hành vi gây nguy hiểm cho xã hội mà không nói đến hậu quả và mối quan hệ nhân quả giữa hành vi và hậu quả ở đây có thể hiểu, do tính chất nghiêm trọng của hành vi hiếp dâm, xâm phạm vào khách thể có tầm quan trọng đặt biệt, chỉ cần người nào thực hiện một hành vi trong mặt khách quan nghĩa là người đó có
Trang 8ý định hiếp dâm người khác và có hành động dùng vũ lực hoặc đe dọa dùng vũ lực nhằm mục đích giao cấu với nạn nhân trái ý muốn của họ là đã đủ điều kiện
để cấu thành tội phạm, bất kể hành vi đó có được hoàn thành và gây hậu quả hay không Như vậy, căn cứ vào Khoản 1 điều 141 Bộ luật hình sự năm 2015 việc cấu thành tội phạm của tội hiếp dâm chỉ cần đề cập đến hành vi gây nguy hiểm mà không cần hậu quả và mối quan hệ nhân quả giữa hành vi và hậu quả
là đủ
Với những ý nêu trên ta có thể rút ra kết luận: cấu thành tội phạm của tội hiếp dâm là cấu thành tội phạm hình thức.
d, B, T và V có đồng phạm trong vụ án trên không? Phân tích rõ vai trò của từng đối tượng?
Để xác định B, T và V có là đồng phạm trong vụ án trên chúng ta cần xem xét những dấu hiệu sau:
- Dấu hiệu thuộc mặt khách quan:
Có 2 chủ thể trở lên: có 3 chủ thể đó là Trần B 22 tuổi, Nguyễn T 25 tuổi
và Phạm V 22 tuổi và tình huống không đề cập gì thêm nên có thể xác định cả 3 người B, T và V đều đủ tuổi chịu TNHS theo quy định tại Điều 12 BLHS 2015:
“Người từ đủ 16 trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm, trừ những tội phạm mà Bộ luật này có quy định khác” và năng lực chịu TNHS căn
cứ theo Điều 21 BLHS 2015 quy định về tình trạng không có năng lực TNHS:
“Người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội trong khi đang mặc bệnh tâm thần, một bệnh khác làm mất khả năng nhận thực hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình, thì không phải chịu TNHS” Vì vậy mà B, T và V thỏa mãn dấu hiệu có 2 chủ thể trở lên
Cùng thực hiện một tội phạm: “Cùng thực hiện một tội phạm” có nghĩa là những người đồng phạm phải hành động phối hợp thống nhất với nhau, có thể là cùng thực hiện một hành vi được quy định trong cấu thành tội phạm, hoặc các phần trong chuỗi hành vi hoặc các hành vi khác nhau để tạo thành một hành vi
Trang 9phạm tội thỏa mãn các dấu hiệu của một cấu thành tội phạm, cùng dẫn đến một hậu quả chung Trong tình huống này có thể thấy các hành vi của B, T và V là một chuỗi hành vi để tạo thành hành vi phạm tội của B được xác định là tội hiếp dâm Nên B, T và V thỏa mãn dấu hiệu cùng thực hiện một tội phạm
- Dấu hiệu thuộc mặt chủ quan:
Về lý trí: Mỗi người đồng phạm đều nhận thức rõ được hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội và có người khác cùng mình thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội đó Mặt khác, dấu hiệu về lí trí còn có mỗi người đồng phạm đều thấy trước hậu quả nguy hiểm cho xã hội của hành vi của mình và đều thấy trước hậu quả chung của tội phạm mà họ tham gia thực hiện Ở đây, cả
B, T và V đều đủ tuổi chịu TNHS và năng lực TNHS nên chắc chắn cả ba đủ biết rõ hành vi giao cấu của B là hành vi nguy hiểm cho xã hội, đồng thời chính
B đax rủ T và V giúp mình, cũng như T và V đều đợi sẵn B đến nên ba người đều nhận thức được có người khác cùng mình thực hiện hành vi đó Vì vậy, trong tình huống này thỏa mãn dấu hiệu thuộc mặt chủ quan về lý trí
Về ý chí: Những người đồng phạm đều mong muốn hoạt động chung với nhau, đều mong muốn hoặc có ý thức để mặc hậu quả xảy ra Do đó, ở tình huống này, B là người rủ T và V giúp đỡ mình và T, V đã đồng ý thông qua việc đợi sẵn B chở H đi qua nên có thể thấy rằng những người đồng phạm đều mong muốn hoạt động chung với nhau Và B đã nảy ý định giao cấu với H và
đã rủ T, V đồng ý giúp nên cả 3 người đều mong muốn hậu quả xảy ra Vì vậy,
B, T và V thỏa mãn dấu hiệu thuộc mặt chủ quan về lý trí
Đồng thời tội hiếp dâm cũng không quy định về chủ thể đặc biệt Do vậy, qua phân tích trên có thể thấy B, T và V thỏa mãn tất cả các dấu hiệu của đồng phạm
→ Vì vậy, B, T và V trong tình huống này là đồng phạm.
Theo Khoản 3 Điều 17 BLHS 2015 quy định về đồng phạm như sau:
Trang 10“Người đồng phạm bao gồm người tổ chức, người thực hành, người xúi giục, người giúp sức
Người thực hành là người trực tiếp thực hiện tội phạm
Người tổ chức là người chủ mưu, cầm đầu, chỉ huy việc thực hiện tội phạm Người xúi giục là người kích động, dụ dỗ, thúc đẩy người khác thực hiện tội phạm
Người giúp sức là người tạo điều kiện tinh thần hoặc vật chất cho việc thực hiện tội phạm”
Do đó, đặt vào trong tình huống, B là người đẩy H ngã và trực tiếp thực hiện hành vi giao cấu với H, V có hành vi giữ tay chân H nên được xem như là dùng
vũ lực, do vậy B và V là người thực hành tội phạm Còn T đợi sẵn và đứng ngoài dùng điện thoại quay lại Nên có thể thấy, T là người tạo điều kiện về tinh thần cho B, do vậy T là người giúp sức trong tình huống này
→ Qua phân tích tình huống có thể thấy, B, T và V là đồng phạm, trong đó Bvà
V với vai trò là người thực hành, T là người giúp sức.
e, Giả sử B mới chỉ đè H xuống đường, xé quần của H mà chưa thực hiện được hành vi giao cấu thì tội phạm mà B thực hiện ở giai đoạn phạm tội nào? Vì sao?
Nếu trong tình huống B mới chỉ đè H xuống đường, xé quần của H mà chưa thực hiện hành vi giao cấu thì tội phạm mà B thực hiện ở giai đoạn phạm tội chưa đạt chưa hoàn thành Vì:
Thứ nhất, B đã bắt đầu thực hiện tội phạm:
- Đã bắt tay thực hiện những hành vi khách quan trong cấu thành tội phạm hiếp dâm theo Điều 141 BLHS năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017 đó là:
+ Đè H xuống đường, xé quần của H: B đã có hành vi dùng vũ lực đè bẹp sự kháng cự của nạn nhân chống lại việc giao cấu rồi sau đó đã xé quần nạn nhân Thứ hai, B không thực hiện được tội phạm đến cùng: