1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Bài tập nhóm dân sự tranh chấp về những loại tài sản đặc biệt

27 2 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Bài tập nhóm dân sự tranh chấp về những loại tài sản đặc biệt
Trường học Trường Đại học Kiểm sát Hà Nội
Chuyên ngành Luật Dân sự
Thể loại Bài tập nhóm
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 27
Dung lượng 37,46 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

A) MỞ ĐẦU Trong cuộc sống có rất nhiều lĩnh vực đa dạng và phong phú Để điều chỉnh các quan hệ này, hệ thống pháp luật Việt Nam được chia thành rất nhiều ngành luật khác nhau Mỗi ngành luật lại điều c.

Trang 1

A) MỞ ĐẦU

Trong cuộc sống có rất nhiều lĩnh vực đa dạng và phong phú Để điều chỉnhcác quan hệ này, hệ thống pháp luật Việt Nam được chia thành rất nhiều ngành luậtkhác nhau Mỗi ngành luật lại điều chỉnh một quan hệ khác nhau Quan hệ về nhânthân và tài sản là quan hệ quen thuộc nhất với cuộc sống chúng ta Quan hệ nàyđược ngành luật dân sự điều chỉnh Đó là những vấn đề xảy ra xung quanh, gần gũi

và cực kì quen thuộc đối với mỗi người Những tình huống xảy ra trong cuộc sốngnhiều vô kể, chính do đó, ngành luật dân sự cũng phải thay đổi để phù hợp hơn với

sự thay đổi, vận động khách quan Khối lượng công việc mà pháp luật dân sự điềuchỉnh là rất lớn Trong đó có rất nhiều tình huống xảy ra trong thực tế khiến chúng

ta khó xử, đặc biệt là liên quan đến tài sản Ví dụ như vấn đề trong cuộc sống cónhiều sự vật mà trong một số trường hợp nhất định chúng ta không xác định được

nó có là tài sản hay không Trong cuộc sống, đôi khi không tránh khỏi những tranhchấp về tài sản, vấn đề tranh chấp này cũng được ngành luật dân sự điều chỉnh vàgiải quyết Do đó, để hiểu rõ hơn về tài sản cũng như tranh chấp về những loại tàisản đặc biệt trong cuộc sống và cách để giải quyết tranh chấp đó trong thực tế,nhóm 7 lớp K7D, xin lựa chọn nghiên cứu và giải quyết vấn đề số 7

Trang 2

B) NỘI DUNG

I Cơ sở lý luận

1 Tài sản

1.1 Khái niệm

Theo Điều 105 Bộ luật Dân sự 2015 quy định về tài sản :

“1 Tài sản là vật, tiền, giấy tờ có giá và quyền tài sản.

2.Tài sản bao gồm bất động sản và động sản Bất động sản và động sản có thể là tài sản hiện có và tài sản hình thành trong tương lai.”

Khái niệm về tài sản theo bộ luật dân sự năm 2015 đã mở rộng hơn nhiều so vớikhái niệm về tài sả trong bộ luật dân sự năm 2005, theo đó, tại điều 163 bộ luật dân

sự năm 2005 quy định tài sản chỉ là: “Tài sản bao gồm vật, tiền, giấy tờ có giá và các quyền tài sản.”

Bộ luật dân sự 2015 đã bổ sung thêm một điểm mới là tài sản bao gồm động sản vàbất động sản; có thể ở hiện tại và hình thành trong tương lai Như vậy khái niệmnày đã được mở rộng hơn rất nhiều

1.2 Vật

Vật là một bộ phận của thế giới vật chất, tồn tại một cách khách quan mà conngười có thể cảm giác được bằng các giác quan của mình1

Điều kiện để trở thành vật trong dân sự:

- Là bộ phận của thế giới vật chất Ví dụ: Đất đai được coi là vật trong giaolưu dân sự vì nó là một bộ phận của thế giới vật chất, nó tồn tại không phụthuộc vào ý thức chủ quan của con người.Quyền sử dụng mảnh đất lại không

Trang 3

tồn tại khách quan, không phải là một bộ phận của thế giới vật chất nênđương nhiên nó không phải là vật trong giao lưu dân sự mà nó là một loại tàisản khác mang tên “ quyền tài sản”

- Con người phải chiếm hữu được Ví dụ: oxi ở dạng không khí trong tự nhiênthì chưa thể được coi là vật, vì chưa thể đưa vào giao dịch dân sự Nhưng khiđược nén vào bình, con người có thể nắm giữ, quản lý được thì mới có thểđưa vào giao lưu dân sự và được coi là vật

- Mang lại lợi ích cho chủ thể và phải có đặc trưng giá trị Ví dụ: một cọng rác

rõ ràng nó cũng là một bộ phận của thế giới vật chất và ta hoàn toàn có thểchiếm hữu nó, nhưng nó lại không mang lợi ích gì cho con người và không

có đặc trưng giá trị nên không thể coi là vật trong giao lưu dân sự Khi người

ta có thể khai thác được công dụng của nó, để nó trở thành vật có giá trị thìlúc đó nó mới được coi là vật trong giao lưu dân sự

Tiền thực hiện ba chức năng chính:

- Công cụ thanh toán đa năng

- Công cụ tích lũy tài sản

- Công cụ định giá các loại tài sản khác

Điều kiện của tiền:

2 Trường Đại học Kiểm sát Hà Nội: Giáo trình Luật dân sự Việt Nam( tập 1), Nxb Chính trị Quốc gia Sự thật, Hà

Trang 4

- Tiền phải được phát hành hợp pháp.

- Là công cụ thanh toán đa năng

- Là đối tượng sở hữu

1.3 Giấy tờ có giá

Giấy tờ có giá là loại tài sản rất phổ biến trong giao lưu dân sự hiện nay, đặcbiệt là giao dịch trong các hệ thống ngân hàng và các tổ chức tín dụng khác3

Giấy tờ có giá bao gồm nhiều loại , mỗi loại có một chức năng khác nhau:

- Có loại là công cụ thanh toán nhưng không bao giờ là công cụ thanh toán đanăng

- Có loại là công cụ đầu tư nhưng không bao giờ là công cụ tích lũy theo nghĩarộng

Vì giá trị của nó không phải là vô thời hạn và nó cũng không phải là công cụ đểđịnh giá các loại tài sản khác như tiền

I.4 Quyền tài sản

Căn cứ Điều 115 Bộ luật Dân sự 2015

“Quyền tài sản là quyền trị giá được bằng tiền, bao gồm quyền tài sản đối với đối tượng quyền sở hữu trí tuệ, quyền sử dụng đất và các quyền tài sản khác.”

Pháp luật Việt Nam công nhận một số quyền tài sản là tài sản như:

- Quyền sở hữu

- Các quyền liên quan đến tài sản và được hưởng lợi từ tài sản( quyền hưởnglợi tức của cổ phiếu,lãi suất tiết kiệm của sổ tiết kiệm, quyền đòi nợ, )

Trang 5

- Quyền hưởng lợi từ thành quả sáng tạo ( quyền hưởng nhuận bút của tác giả,tác phẩm văn học, nghệ thuật, )

- Những quyền tài sản phát sinh từ hợp đồng,

- Ngoài ra còn có một quyền mang tính chất đặc thù trong pháp luật Việt Nam

đó là quyền sử dụng đất hợp pháp

2 Các phương thức bảo vệ quyền sở hữu, quyền khác đối với tài sản

2.1 Khái niệm và đặc điểm pháp lý của bảo vệ quyền sở hữu , quyền khác đối với tài sản

a Khái niệm bảo vệ quyền sở hữu, quyền khác đối với tài sản

Bảo vệ quyền sở hữu, quyền khác đối với tài sản là những cách thức thức, biệnpháp mà các chủ thể quyền sở hữu, quyền khác đối với tài sản áp dụng để phòngngừa những hành vi xâm phạm sở hữu sẽ xảy ra hoặc yêu cầu các cơ quan có thẩmquyền xử lý những hành vi xâm phạm đối với quyền sở hữu, quyền khác đối với tàisản xảy ra

b Đặc điểm pháp lý của bảo vệ quyền sở hữu, quyền khác đối với tài sản

- Các chủ thể được quyền yêu cầu áp dụng các biện pháp bảo vệ quyền sở hữu,quyền khác đối với tài sản bao gồm:

(i) Chủ sở hữu của tài sản là những người có đủ ba quyền năng chiếm hữu, sử dụng

và định đoạt đối với tài sản

(ii) Người có quyền khác đối với tài sản là chủ thể có quyền đối với bất động sảnliền kề, quyền hưởng dụng và quyền bề mặt

Trang 6

- Các biện pháp được áp dụng để bảo vệ quyền sở hữu, quyền khác đối với tàisản liên quan đến nhiều ngành luật khác nhau và cùng có thể đồng thời áp dụng để

xử lý một hành vi xâm phạm quyền sở hữu, quyền khác đối với tài sản

- Bảo vệ quyền sở hữu, quyền khác đối với tài sản bằng biện pháp dân sự tạocho người bị xâm sự chủ động trong việc bảo vệ quyền lợi cho mình khi các quyềnnăng của mình bị xâm phạm

- Bảo vệ quyền sở hữu, quyền khác đối với tài sản theo phương thức dân sựu tạokhả năng khôi phục các lợi ích vật chất cho người bị xâm phạm cao nhất so vớiviệc áp dụng biên pháp hành chính và hình sự

2.2 Nội dung các phương thức bảo vệ quyền sở hữu, quyền khác đối với tài sản

2.2.1 Phương thức tự bảo vệ quyền sở hữu, quyền khác đối với tài sản

Tự bảo vệ quyền sở hữu, quyền khác đối với tài sản có hai đặc điểm:

- Phương thức này được thực hiện do chính chủ thể( chủ sở hữu, người cóquyền khác đối với tài sản thực hiện)

- Thời điểm tự bảo vệ quyền sở hữu, quyền khác đối với tài sản là trước khi cóhành vi xâm phạm quyền sở hữu

2.2.2 Phương thức bảo vệ quyền sở hữu, quyền khác đối với tài sản thông qua Tòa án, cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo các phương thức kiện dân sự:

2.2.2.1 Phương thức kiện đòi lại tài sản

Trang 7

Kiện đòi lại tài sản là một biện pháp bảo vệ quyền sở hữu, quyền khác đối vớitài sản tồn tại từ rất lâu đời, được áp dụng khi chủ sở hữu, người có quyền khác đốivới tài sản bị mất quyền chiếm hữu thực tế tài sản của mình.Kiện đòi lại tài sản làcách thức giúp chủ sở hữu, người có quyền khác đối với tài sản đòi lại tài sản thuộc

sở hữu, quyền chiếm hữu hợp pháp của mình mà đang không được chiếm hữu tàisản đó

Kiện đòi lại tài sản có những đặc thù riêng thể hiện ở những phương diện sau:

- Kiện đòi lại tài sản là biện pháp bảo vệ quyền chiếm hữu của chủ sở hữu vàngười có quyền khác đối với tài sản

- Người bị kiện phải là người đang thực tế chiếm hữu không có căn cứ phápluật đối với tài sản

- Đối tượng kiện đòi lại tài sản phải là vật đang có thực, đang tồn tại trên thựctế

2.2.2.2 Chủ thể của phương thức kiện đòi tài sản

Trong quan hệ kiện đòi lại tài sản, chủ thể bao gồm chủ thể có quyền khởi kiện (nguyên đơn) và chủ thể bị khởi kiện ( bị đơn)

a Chủ thể có quyền khởi kiện ( nguyên đơn)

Theo quy định Khoản 1 Điều 166 Bộ luật Dân sự 2015:

“Chủ sở hữu, chủ thể có quyền khác đối với tài sản có quyền đòi lại tài sản từ người chiếm hữu, người sử dụng tài sản, người được lợi về tài sản không có căn cứ pháp luật".

Để được coi là chủ sở hữu tài sản, tài sản phải được xác lập trên căn cứ do phápluật quy định

Trang 8

Theo Điều 159 Bộ luật dân sự 2015 quy định:

“1 Quyền khác đối với tài sản là quyền của chủ thể trực tiếp nắm giữ, chi phối tài sản thuộc quyền sở hữu của chủ thể khác.

2 Quyền khác đối với tài sản bao gồm:

a) Quyền đối với bất động sản liền kề;

b) Quyền hưởng dụng;

c) Quyền bề mặt.”

Để khẳng định tư cách của người khởi kiện, khi tham gia tố tụng, chủ sở hữu,chủ thể có quyền khác đối với tài sản phải có nghĩa vụ chứng minh tư cách chủ sởhữu, chiếm hữu hợp pháp của mình

b Chủ thể bị khởi kiện ( bị đơn)

Người bị kiện trong vụ án kiện đòi lại tài sản phải là người đang chiếm hữukhông có căn cứ pháp luật đối với tài sản Người bị kiện là người đang chiếm hữukhông có căn cứ pháp luật đối với tài sản có thể là người đã có hành vi chiếm đoạttài sản một cách trái pháp luật

Theo khoản 2 điều 166 Bộ luật Dân sự 2015, người bị kiện có thể là một trongcác chủ thể sau: người chiếm hữu, sử dụng tài sản không có căn cứ pháp luật;người được lợi về tài sản không có căn cứ pháp luật

Người bị kiện ( bị đơn) đóng vai trò không thể thiếu trong quá trình giải quyết

vụ án dân sự Bị đơn luôn đi kèm với nguyên đơn, tư cách bị đơn được xác địnhcùng với tư cách nguyên đơn.Bị đơn là người tham gia tố tụng để trả lời về việckiện do bị nguyên đơn hoặc bị người khác khởi kiện theo quy định của pháp luật

Trang 9

2.2.2.3 Đối tượng của kiện đòi lại tài sản

Theo Khoản 1 Điều 105 Bộ luật dân sự 2015 quy định:

“Tài sản là vật, tiền, giấy tờ có giá và các quyền tài sản”

Xuất phát từ đặc thù của phương thức kiện đòi lại tài sản nên không phải tất

cả những tài sản những tài sản được liệt kê tại Điều 105 Bộ luật dân sự nêu trên đều

là đối tượng của kiện đòi lại tài sản Đối tượng của kiện đòi lại tài sản phải là vật cóthực, đang còn tồn tại trên thực tế

Vật được coi là tài sản, là đối tượng của kiện đòi lại tài sản, phải là vật hữuhình, cảm nhận được bởi các giác quan của con người và chiếm giữ một phần trongkhông gian Vật được xác định là tài sản khi vật đang tồn thực mà còn bao gồmnhững vật chắc chắn sẽ hình thành trong tương lai Tuy nhiên, vật trong kiện đòi lạitài sản chỉ bao gồm vật có thực và đang còn tồn tại trên thực tế

Tiền là một loại tài sản, xuất phát từ tính chất cũng như cơ chế pháp lý điềuchỉnh mà tiền được xem là một loại tài sản riêng biệt Khi tiền bị chiếm hữu không

có căn cứ pháp luật thì về mặt bản chất, chủ sở hữu không thể kiện đòi lại tài sảnthông thường mà thực chất là kiện yêu cầu bồi thương thiệt hại.Chủ sở hữu chỉ cóthể kiện đòi lại tiền trong trường hợp biết rõ số seri của những tờ tiền đó mà hiệnđang bị người khác chiếm hữu không có căn cứ pháp luật Còn với trường hợp tiềnđược bao gói niêm phong mà bị người khác chiếm giữ trái pháp luật và hiện số tiền

đó còn nguyên gói thì việc kiện đòi lại tài sản là vật chứ không phải là kiện đòi lạitiền

Giấy tờ có giá với tư cách là một loại tài sản trong giao lưu dân sự chính làgiấy tờ minh chứng cho quyền tài sản vô danh, giá trị của giấy tờ có giá là giá trịcủa quyền tài sản mà nó minh chứng Giấy tờ có giá là loại tài sản hữu hình, được

Trang 10

xếp vào loại tài sản là động sản trong cách phân loại tài sản thành động sản hay bấtđộng sản Giấy tờ có giá có thể là đối tượng của quyền đòi lại tài sản

Quyền tài sản là loại tài sản vô hình, không thể thực hiện được quyền chiếmhữu đối với loại tài sản này Căn cứ vào đặc điểm của phương thức kiện đòi lại tàisản thì quyền tài sản không phải là đối tượng của kiện đòi lại tài sản Khi quyền tàisản bị xâm phạm thì tùy thuộc vào tính chất, mức độ của hành vi xâm hại mà chủ

sở hữu, người chiếm hữu hợp pháp có thể áp dụng phương thức kiện yêu cầu chấmdứt hành vi xâm phạm hoặc yêu cầu bồi thường thiệt hại

2.2.2.4 Các trường hợp kiện đòi lại tài sản

- Kiện đòi tài sản là động sản không phải đăng ký quyền sở hữu

- Tài sản là động sản không phải đăng ký quyền sở hữu rời khỏi chủ sở hữutheo ý chí của chủ sở hữu; người thứ ba chiếm hữu ngay tình thông qua hợpđồng có đền bù với người không có quyền định đoạt tài sản

- Kiện đòi tài sản là động sản phải đăng ký quyền sở hữu và bất động sản

2.2.2.5 Thời hiệu kiện đòi lại tài sản

Theo khoản 3 Điều 150 Bộ luật dân sự 2015 quy định: “Thời hiệu khởi kiện là thời hạn mà chủ thể được quyền khởi kiện để yêu cầu Tòa án giải quyết vụ án dân

sự bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp bị xâm phạm; nếu thời hạn đó kết thúc thì mất quyền khởi kiện.”

Bộ luật dân sự 2015 không quy định riêng về thời hiệu đòi lại tài sản mà thờihiệu kiện đòi lại tài sản được áp dụng theo Bộ luật tố tụng dân sự

Để khắc phục những vấn đề còn vướng mắc, cũng như để bảo vệ quyền sở hữumột cách mạnh mẽ hơn, Bộ luật tố tụng Dân sự 2015, Bộ luật Dân sự 2015 (điều

Trang 11

Quyền sở hữu là quyền có tính chất vĩnh viễn nên quyền kiện đòi lại tài sản cũngvĩnh viễn Khoản 1 Điều 163 Bộ luật dân sự năm 2015: “không ai có thể bị hạnchế, bị tước đoạt trái luật quyền sở hữu, quyền khác đối với tài sản.” Do vậy, khiquyền sở hữu bị xâm phạm, chủ sở hữu bị mất quyền chiếm hữu đối với tài sản củamình thì chủ sở hữu có quyền đòi lại tài sản đó từ người đang thực tế chiếm hữutrái pháp luật đối với tài sản bất cứ lúc nào mà không bị giới hạn về mặt thời gian,trừ trường hợp người chiếm hữu đó đã được xác lập quyền sở hữu đói với tài sảntheo thời hiệu.

2.2.3 Phương thức kiện yêu cầu ngăn chặn hoặc chấm dứt hành vi cản trở

trái pháp luật đối với việc thực hiện quyền sở hữu, quyền khác đối với tài sản

Kiện yêu cầu ngăn chặn hoặc chấm dứt hành vi cản trở trái pháp luật đối với việcthực hiện quyền sở hữu, quyền khác đối với tài sản đáp ứng các yêu cầu sau:

- Chủ thể khởi kiện là chủ sở hữu, chủ thể có quyền khác đối với tài sản đangkiểm soát tài sản và đang bị người khác gây khó khăn, cản trở cho việc thựchiện các quyền năng cụ thể

- Người bị kiện trong vụ án là người có hành vi trái pháp luật, xâm phạm vàocác quyền năng của chủ sở hữu, hay chủ thể có quyền khác đối với tài sản

- Yêu cầu khởi kiện là ngăn chặn hoặc chấm dứt hành vi trái pháp luật đangcản trở sở hữu chủ hay chủ thể có quyền khác đối với tài sản thực hiện cácquyền năng cụ thể

Kiện yêu cầu ngăn chặn hoặc chấm dứt hành vi cản trở trái pháp luật đối với việcthực hiện quyền sở hữu, quyền khác đối với tài sản thường xảy ra ở những người cóbất động sản liền kề,vì vậy, quyền của chủ thể này muốn được tôn trọng thì đòi hỏichủ thể kia phải thực hiện nghĩa vụ tương ứng

Trang 12

2.2.4 Phương thức kiện yêu cầu bồi thường thiệt hại

Căn cứ Điều 170 Bộ luật dân sự 2015: “Chủ sở hữu, chủ thể có quyền khác đối với tài sản có quyền yêu cầu người có hành vi xâm phạm quyền sở hữu, quyền khác đối với tài sản bồi thường thiệt hại.”

Việc kiện đòi bồi thường thiệt hại có thể được thực hiện trong các trường hợpsau:

- Chủ sở hữu trước đây của tài sản kiện bồi thường thiệt hại khi tài sản củamình được xác lập cho chủ thể mới theo quy định của pháp luật tại Điều 167

và Điều 168 Bộ luật dân sựu 2015 để bảo vệ người thứ ba ngay tình hay theothời hiệu tại Điều 236 Bộ luật dân sự năm 2015 Người phải bồi thường thiệthại ở đây là đã có những hành vi trái pháp luật xâm phạm đến quyền của chủ

sở hữu tài sản Hoặc chủ thể phải bồi thường cũng có thể là tổ chức bán đấugiá có lỗi khi bán tài sản có đăng ký quyền sở hữu không hợp lệ cho ngườimua

- Người chiếm hữu hợp pháp đối với tài sản được quyền đòi bồi thường thiệthại đối với chủ thể đã có hành vi xâm phạm đến quyền chiếm hữu của mình,gây thiệt hại cho lợi ích của mình

- Người thứ ba ngay tình được kiện đòi bồi thường thiệt hại khi tài sản đượctrả về cho chủ sở hữu đích thực của tài sản Điều 582 Bộ luật dân sự 2015

quy định: “Trường hợp người chiếm hữu, người sử dụng tài sản mà không

có căn cứ pháp luật đã giao tài sản cho người thứ ba thì khi bị chủ sở hữu, chủ thể có quyền khác đối với tài sản yêu cầu hoàn trả, người thứ ba có nghĩa vụ hoàn trả tài sản đó, trừ trường hợp Bộ luật này có quy định khác; nếu tài sản đó đã được trả bằng tiền hoặc có đền bù thì người thứ ba có quyền yêu cầu người đã giao tài sản cho mình bồi thường thiệt hại”

Trang 13

có hai anh Nhất và Tú làm chứng Anh vui lại cho rằng vé số trúng thưởng thuộc vềanh vì anh Tuấn đã cho anh 5 tờ vé số do đó nó phải thuộc về anh Anh Tuấn đãlàm đơn kiện lên tòa án, nhưng Tòa án sơ thẩm đã bác đơn kiện của anh Tuấn vìcho rằng vé số không là tài sản theo điều 105 Bộ luật dân sự Anh Tuấn không chấpnhận nên đã khởi kiện lên Tòa án phúc thẩm Tòa án phúc thẩm đã chấp nhận đơnkiện và giải quyết cho anh Tuấn được nhận lại 2 tờ vé số trúng thưởng.

III) Giải quyết tình huống

Câu 1: Đối tượng tranh chấp trong tình huống trên?

1.1) Vé số có là vật không?

Vật là bộ phận của thế giới vật chất, tồn tại một cách khách quan mà conngười có thể cảm giác được bằng các giác quan của mình 4

Vật có thể tổn tại tự nhiên hoặc do con người tạo ra

Từ khái niệm trên ta rút ra được một số đặc điểm về vật:

Thứ nhất, là bộ phận của thế giới vật chất Nghĩa là nó phải tồn tại trong thực tế ở

một dạng vật chất cụ thể

4 Trường Đại học Kiểm sát Hà Nội: Giáo trình Luật Dân sự Việt Nam (tập 1), Nxb.Chính trị Quốc gia Sự thật, Hà Nội,

Ngày đăng: 07/03/2023, 09:58

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w