1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Bài tập nhóm dân sự quyền về lối đi qua bất động sản liền kề

24 7 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Bài tập nhóm dân sự quyền về lối đi qua bất động sản liền kề
Trường học Trường Đại học Luật Hà Nội
Chuyên ngành Luật Dân Sự
Thể loại Bài tập nhóm dân sự
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 24
Dung lượng 33,75 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

1 MỞ ĐẦU Trong đời sống thực tiễn hiện nay, có những vấn đề bất động sản bị vây bọc bởi các bất động sản thuộc nhiều chủ sở hữu khác nhau Khi đó, việc yêu cầu một trong các chủ sở hữu bất động sản liề.

Trang 1

A MỞ ĐẦU

Trong đời sống thực tiễn hiện nay, có những vấn đề bất động sản bị vây bọcbởi các bất động sản thuộc nhiều chủ sở hữu khác nhau Khi đó, việc yêu cầu mộttrong các chủ sở hữu bất động sản liền kề thỏa mãn những nhu cầu thiết yếu của họ

mà một trong số đó là nhu cầu có lối đi qua bất động sản liền kề Chủ sở hữu bấtđộng sản có lối đi qua không thể hạn chế quyền sử dụng lối đi của chủ sở hữu bấtđộng sản bị vây bọc Nó không chỉ làm chủ sở hữu mất đi quyền lợi về phần bấtđộng sản đem mở lối đi mà còn liên tục ảnh hưởng đến đời sống sinh hoạt, kinhdoanh,… Đồng thời chủ sở hữu bất động sản bị vây bọc cũng không thể tùy tiện

mở lối đi qua một bất động sản khác không thuộc sở hữu của mình Do đó, vấn đềquyền về lối đi qua bất động sản liền kề là một vấn đề đặc biệt quan trọng, phứctạp Xuất phát từ thực tiễn đó nhóm 8 lớp K7D đã nghiên cứu các quy định củapháp luật dân sự về các quyền đối với bất động sản liền kề và áp dụng để giải quyếttình huống cụ thể

Trang 2

B NỘI DUNG

I CƠ SỞ LÍ LUẬN

1 Khái niệm quyền đối với bất động sản liền kề

1.1 Khái niệm bất động sản

Khi nói đến tài sản thì theo quy định tại Điều 105 BLDS 2015 thì:

“1 Tài sản là vật, tiền, giấy tờ có giá và quyền tài sản.

2 Tài sản bao gồm bất động sản và động sản Bất động sản và động sản có thể là tài sản hiện có và tài sản hình thành trong tương lai.”

Như vậy có thể thấy tài sản bao gồm có tiền, vật, giấy tờ có giá, động sản vàbất động sản Những tài sản được coi là bất động sản được quy định tại Khoản 1Điều 107 BLDS 2015, theo đó bất động sản là các tài sản bao gồm:

“a) Đất đai;

b) Nhà, công trình xây dựng gắn liền với đất đai;

c) Tài sản khác gắn liền với đất đai, nhà, công trình xây dựng;

d) Các tài sản khác theo quy định của pháp luật.”

Việc phân loại tài sản thành bất động sản và động sản là cách phân loại tàisản bắt đầu từ luật La Mã cổ đại, được xem là cách phân loại tài sản mang tínhtruyền thống, và cho đến nay vẫn tồn tại trong luật dân sự của hầu hết các nước trênthế giới Chứng tỏ đây là cách phân loại tài sản có ý nghĩa thực tiễn và pháp lý Tàisản được coi là bất động sản trong hệ thống pháp luật nước ta được chuyển hoá từcách liệt kê những tài sản được coi là bất động sản đến việc phân định thông quaviệc mô tả tính chất của tài sản được coi là bất động sản và kết hợp với việc liệt kêcùng mô tả tính chất chung của bất động sản

1.2 Khái niệm bất động sản liền kề

Một bất động sản được phân lập với các bất động sản khác qua ranh giới củacác bất động sản ấy Tuy nhiên không phải giữa tất cả các bất động sản đều tồn tại

Trang 3

một ranh giới, mà chỉ có các bất động sản thuộc bản chất không di rời được mới tồntại ranh giới, và khi tồn tại ranh giới giữa các bất động sản thì ta có khái niệm bấtđộng sản liền kề.

Như vậy, bất động sản liền kề là bất động sản có sự tiếp giáp nhau về ranh giới giữa các bất động sản Và hai bất động sản liền kề có thể lập quyền đối với bất động sản liền kề khi chúng có chủ sở hữu khác nhau

1.3 Quyền đối với bất động sản liền kế

Theo Điều 245 Bộ luật dân sự (BLDS) 2015 quy định về Quyền đối với bất

động sản liền kề: “Quyền đối với bất động sản liền kề là quyền được thực hiện trên một bất động sản (gọi là bất động sản chịu hưởng quyền) nhằm phục vụ cho việc khai thác một bất động sản khác thuộc quyền sở hữu của người khác (gọi là bất động sản hưởng quyền)”.

Như vậy bất động sản liền kề với một bất động sản khác có thể phải chịu sựhạn chế về quyền với bất động sản khi chúng thuộc bất động sản không di dờiđược, cùng loại và giữa chúng có một ranh giới về địa lý cũng như pháp lý

Các quyền đối với bất động sản liền kề theo quy định của Bộ luật dân sự baogồm:

- Quyền về cấp, thoát nước qua bất động sản liền kề: Nhu cầu về nước đểdùng và lối để thoát nước thải là thiết yếu Khi sử dụng quyền này, chủ sở hữu phảithoả thuận với các chủ sở hữu bất động sản liền kề dành cho mình một lối cấp,thoát nước thích hợp, đảm bảo cảnh quan và vệ sinh môi trường Quyền về cấpthoát nước qua bất động sản liền kề đã được quy định tại Điều 252 BLDS 2015

- Quyền về tưới nước, tiêu nước trong canh tác: Được quy định tại Điều 253

BLDS 2015 theo đó: “Người có quyền sử dụng đất canh tác khi có nhu cầu về tưới nước, tiêu nước, có quyền yêu cầu những người sử dụng đất xung quanh để cho mình một lối dẫn nước thích hợp, thuận tiện cho việc tưới, tiêu; người được yêu cầu có nghĩa vụ đáp ứng yêu cầu đó; nếu người sử dụng lối dẫn nước gây thiệt hại cho người sử dụng đất xung quanh thì phải bồi thường”. 

Trang 4

- Quyền về lối đi qua: Bất động sản bị vây bọc bởi bất động sản khác cầnphải có một lối đi để ra đường công cộng Lối đi phải đảm bảo được nguyên tắchợp lý và thuận tiện, ít gây phiền hà cho các bên Do vậy Quy định tại Điều 254BLDS 2015 đã quy định rõ về quyền này

- Quyền mắc đường dây tải điện, thông tin liên lạc qua bất động sản khác:

Điều 255 BLDS 2015 đã quy định: “Chủ sở hữu bất động sản có quyền mắc đường dây tải điện, thông tin liên lạc qua bất động sản của các chủ sở hữu khác một cách hợp lý, nhưng phải bảo đảm an toàn và thuận tiện cho các chủ sở hữu đó; nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường.”

2 Căn cứ xác lập quyền đối với bất động sản liền kề

Theo quy định tại Điều 246 BLDS 2015, quyền đối với bất động sản liền kềđược xác lập do địa thế tự nhiên, theo quy định của luật, theo thoả thuận hoặc theo

di chúc

* Quyền đối với bất động sản liền kề được xác lập theo thoả thuận

Tự do, tự nguyện cam kết, thoả thuận là một trong các nguyên tắc cơ bản,mang bản chất của quan hệ pháp luật dân sự Nguyên tắc này cho phép các chủ thểdựa theo ý chí, nguyện vọng của mình để tạo lập các quyền, nghĩa vụ dân sự Tuynhiên, khi pháp luật quy định “chủ sở hữu nhà, người sử dụng đất có quyền sử dụngbất động sản liền kề thuộc quyền sở hữu của người khác ” không có nghĩa bất cứchủ sở hữu nhà, người sử dụng đất nào cũng có thể yêu cầu chủ sở hữu bất độngsản liền kề đáp ứng nhu cầu của mình Để chủ sở hữu nhà, người sử dụng bất độngsản liền kề đáp ứng nhu cầu sử dụng đối với bất động sản liền kề thì người sử dụngđất, chủ sở hữu nhà phải thoả thuận với chủ sở hữu bất động sản liền kề để tạo lậpquyền đó  

Việc thoả thuận này phải đảm bảo các nguyên tắc chung về giao dịch dân sự

và điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự Các bên có thể tự do, tự nguyện camkết, thoả thuận nhưng không được trái điều cấm của pháp luật, không được trái đạođức xã hội Chỉ khi đã đạt được thoả thuận với chủ sở hữu bất động sản liền kề, thì

Trang 5

chủ nhà, người sử dụng đất mới có thể tiến hành các hành vi cần thiết trong việckhai thác, sử dụng bất động sản Trong trường hợp các bên không đạt được thoảthuận cần thiết về quyền đối với bất động sản liền kề, thì chủ sở hữu nhà, người sửdụng đất có quyền yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền giải quyết.

* Quyền đối với bất động sản liền kề xác lập theo quy định của pháp luật

Việc xác lập quyền đối với bất động sản liền kề không theo sự thoả thuận củacác chủ thể mà tuân theo quy định của pháp luật Bao gồm:

- Chuyển giao bất động sản đã xác lập quyền đối với bất động sản liền kề

Căn cứ vào quy định tại Điều 247 BLDS 2015, “Quyền đối với bất động sản liền kề có hiệu lực đối với mọi cá nhân, pháp nhân và được chuyển giao khi bất động sản được chuyển giao”. Theo đó, khi chủ sở hữu thực hiện việc chuyển giao

nhà, quyền sử dụng đất thì đương nhiên chuyển giao quyền đối với bất động sảnliền kề mà không cần có bất kì sự thoả thuận đặc biệt nào khác Người được chuyểngiao không cần thoả thuận với chủ sở hữu bất động sản liền kề; chủ sở hữu bấtđộng sản liền kề không có quyền ngăn cản chủ sở hữu nhà, người sử dụng đất mớiđược chuyển nhượng thực hiện quyền đối với bất động sản liền kề của họ

Trong trường hợp chủ sở hữu bất động sản chuyển giao tài sản của mình chongười khác thì chủ sở hữu mới vẫn tiếp tục phải chịu nghĩa vụ cho phép chủ sở hữubất động sản liền kề sử dụng hạn chế đối với bất động sản đã được chuyển giao

- Xác lập quyền đối với bất động sản liền kề theo thời hiệu

Theo quy định tại Điều 236 BLDS 2015 thì: “Người chiếm hữu, người được lợi về tài sản không có căn cứ pháp luật nhưng ngay tình, liên tục, công khai trong thời hạn 10 năm đối với động sản, 30 năm đối với bất động sản thì trở thành chủ sở hữu tài sản đó, kể từ thời điểm bắt đầu chiếm hữu”. Quyền đối với bất động sản

liền kề được coi là một quyền trên bất động sản, cho nên khi một người sử dụng bấtđộng sản liền kề công khai, liên tục trong vòng ba mươi năm thì pháp luật cũngđương nhiên thừa nhận quyền đối với bất động sản liền kề của họ Họ có quyền đối

Trang 6

với bất động sản liền kề mà họ đã sử dụng trong suốt thời gian trước đó và quyềnnày sẽ tồn tại cho đến khi có căn cứ chấm dứt quyền đối với bất động sản liền kề.

- Xác lập quyền đối với bất động sản liền kề do sự phân chia bất động sản

Theo quy định tại Khoản 3 Điều 254 BLDS 2015: “Trường hợp bất động sản được chia thành nhiều phần cho các chủ sở hữu, chủ sử dụng khác nhau thì khi chia phải dành lối đi cần thiết cho người phía trong theo quy định tại khoản 2 Điều này mà không có đền bù”. Điều luật này quy định về việc xác lập lối đi qua cho

chủ sở hữu bất động sản với bất động sản liền kề Đó là một quyền cơ bản trongquyền đối với bất động sản liền kề

Như vậy, một chủ thể, muốn xác lập quyền của mình đối với bất động sảnliền kề, có thể xác lập theo bốn căn cứ, ngoài việc tuân theo quy định của pháp luật,hoặc tôn trọng sự thoả thuận với nhau, các chủ thể còn có thể xác lập quyền đối vớibất động sản liền kề theo di chúc (ý chí của người chết định đoạt, cho phép sử dụngbất động sản chịu hưởng quyền để khai thác công dụng bất động sản hưởng quyền)hoặc do địa thế tự nhiên (chủ thể có tài sản “bắt buộc” phải thực hiện các quyền đốivới bất động sản liền kề mới có thể khai thác công dụng của bất động sản thuộcquyền sở hữu của mình)

3 Nguyên tắc thực hiện quyền đối với bất động sản liền kề

Pháp luật dân sự tôn trọng nguyên tắc tự thoả thuận giữa các chủ thể Vì thế,trong trường hợp, giữa chủ sở hữu bất động sản hưởng quyền và chủ sở hữu bấtđộng sản chịu hưởng quyền có sự thoả thuận với nhau về việc sử dụng bất động sảnliền kề thì tuân theo sự thoả thuận đó Trong trường hợp, giữa các bên chủ thểkhông có sự thoả thuận với nhau, thì tuân theo quy định của pháp luật

Cụ thể, Điều 248 BLDS 2015 đã quy định rõ các nguyên tắc thực hiện quyềnvới bất động sản liền kề: 

“1 Bảo đảm nhu cầu hợp lý của việc khai thác bất động sản hưởng quyền phù hợp với mục đích sử dụng của cả bất động sản hưởng quyền và bất động sản chịu hưởng quyền;

Trang 7

2 Không được lạm dụng quyền đối với bất động sản chịu hưởng quyền;

3 Không được thực hiện hành vi ngăn cản hoặc làm cho việc thực hiện quyền đối với bất động sản hưởng quyền trở nên khó khăn”. 

Như vậy, việc khai thác, sử dụng bất động sản liền kề của chủ sở hữu bấtđộng sản hưởng quyền phải đặt trong mối tương quan với quyền và lợi ích của chủ

sở hữu bất động sản chịu hưởng quyền Các bên cần tôn trọng, tạo điều kiện thuậnlợi nhất để thực hiện quyền và nghĩa vụ đối với nhau trong việc khai thác côngdụng của bất động sản; hạn chế tối đa các hành vi ngăn cản, gây trở ngại cho việcthực hiện quyền của chủ sở hữu bất động sản hưởng quyền

4 Chấm dứt quyền đối với bất động sản liền kề

Cũng như các quyền dân sự khác, quyền đối với bất động sản liền kề cũngđược phát sinh, thay đổi hay chấm dứt theo những căn cứ và với những điều kiện

do pháp luật quy định Theo quy định tại Điều 256 BLDS 2015 thì quyền đối vớibất động sản liền kề chấm dứt trong các trường hợp:

“1 Bất động sản hưởng quyền và bất động sản chịu hưởng quyền thuộc quyền sở hữu của một người.

2 Việc sử dụng, khai thác bất động sản không còn làm phát sinh nhu cầu hưởng quyền.

3 Theo thỏa thuận của các bên.

4 Trường hợp khác theo quy định của luật.”

5 Quyền về lối đi qua

Quyền về lối đi qua đối với bất động sản liền kề được quy định tại Điều 254BLDS 2015 như sau:

“1 Chủ sở hữu có bất động sản bị vây bọc bởi các bất động sản của các chủ

sở hữu khác mà không có hoặc không đủ lối đi ra đường công cộng, có quyền yêu cầu chủ sở hữu bất động sản vây bọc dành cho mình một lối đi hợp lý trên phần đất của họ.

Trang 8

Lối đi được mở trên bất động sản liền kề nào mà được coi là thuận tiện và hợp lý nhất, có tính đến đặc điểm cụ thể của địa điểm, lợi ích của bất động sản bị vây bọc và thiệt hại gây ra là ít nhất cho bất động sản có mở lối đi.

Chủ sở hữu bất động sản hưởng quyền về lối đi qua phải đền bù cho chủ sở hữu bất động sản chịu hưởng quyền, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.

2 Vị trí, giới hạn chiều dài, chiều rộng, chiều cao của lối đi do các bên thỏa thuận, bảo đảm thuận tiện cho việc đi lại và ít gây phiền hà cho các bên; nếu có tranh chấp về lối đi thì có quyền yêu cầu Tòa án, cơ quan nhà nước có thẩm quyền khác xác định.

3 Trường hợp bất động sản được chia thành nhiều phần cho các chủ sở hữu, chủ sử dụng khác nhau thì khi chia phải dành lối đi cần thiết cho người phía trong theo quy định tại khoản 2 Điều này mà không có đền bù”.

II GIẢI QUYẾT TÌNH HUỐNG

1 Tình huống

Nguyên đơn: bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1970

Bị đơn: ông Trần Văn S, sinh năm 1965

Năm 2018, bà T mua miếng đất gần nhà ông S (xã Bình Đức, huyện ChâuThành, Tiền Giang) để mở nhà máy xay xát lúa gạo xuất khẩu Trước đó, ông S cóchừa lối đi với chiều ngang gần 2m cho người hàng xóm (tức người đã bán đất cho

bà T.) sử dụng

Trong thời gian hoạt động, doanh nghiệp của bà T thường để xe tải gây ồn,bụi làm ảnh hưởng đến sinh hoạt của gia đình ông S Ngoài ra, ông S còn chobiết, bà T còn có một lối đi khác với chiều ngang hơn 15m để đi ra đường lớn Do

đó, ông S không muốn bà T tiếp tục sử dụng lối đi cũ Ngược lại, bà T muốn ông Sphải mở rộng lối đi cũ thành 4m để tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động sản xuấtkinh doanh của gia đình bà Sau đó, bà đã làm đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án nhândân giải quyết

Trang 9

Năm 2019, Tòa án nhân dân huyện Châu Thành đã tiến hành xét xử sơ thẩm.Tại bản án dân sự sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành đã bác đơn kiệncủa bà T, với lý do: Doanh nghiệp của bà T không bị các bất động sản liền kề vâybọc, trong khi bà còn lối đi khác rất thuận tiện cho việc đi lại, kinh doanh với chiềungang hơn 15m đúng như ông S đã nêu Tuy nhiên, tòa sơ thẩm cũng yêu cầu ông Sphải giữ nguyên lối đi cũ như trước đây.

Bà T không đồng tình với phán quyết của tòa án nhân dân dân cấp sơ thẩm

và kháng cáo với lý do cần có lối đi với chiều ngang rộng 4m để xe tải dễ ra vào

Tại phiên tòa xét xử phúc thẩm, Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang đã sửa mộtphần bản án sơ thẩm Theo đó, Tòa án tỉnh Tiền Giang đã chấp nhận một phầnkháng cáo của bà T, buộc ông S phải bán thêm cho bà T 16m2 đất (chiều rộng 2m,chiều dài 8m) với giá 40 triệu đồng Tòa án nhân dân cấp phúc thẩm cho rằng: Lối

đi sẵn có của bà T không đủ để nhà máy hoạt động xuất khẩu gạo Do đó, theo chỉđạo của ủy ban nhân dân tỉnh, các cơ quan chức năng phải kiểm tra, tháo gỡ nhữngvướng mắc, khó khăn của doanh nghiệp kinh doanh xuất khẩu gạo, trong đó códoanh nghiệp của bà T

YÊU CẦU ĐỐI VỚI NHÓM:

1 Xác định đối tượng tranh chấp của vụ kiện trên?

2 Nhận xét phán quyết của tòa án nhân dân cấp sơ thẩm và phán quyết của tòa án nhân dân cấp phúc thẩm? Nêu rõ căn cứ pháp lý?

3 Quan điểm giải quyết vụ việc trên của nhóm theo quy định của Bộ luật dân sự 2015?

Trang 10

Trong trường hợp này, nếu lối đi 15m của bà T hiện tại đã có trước, tức là bà

T không có đủ căn cứ để làm phát sinh quyền đối với bất động sản liền kề được quy

định tại Điều 254 Bộ luật Dân sự năm 2015: “Chủ sở hữu có bất động sản bị vây bọc bởi các bất động sản của các chủ sở hữu khác mà không có hoặc không đủ lối

đi ra đường công cộng, có quyền yêu cầu chủ sở hữu bất động sản vây bọc dành cho mình một lối đi hợp lý trên phần đất của họ”

Trường hợp 2: Lối đi 15m đó là có sau khi bà T mua đất từ nhà hàng xóm

3 Trả lời câu hỏi

Cơ sở pháp lí:

Điều 254 BLDS 2015 Quyền về lối đi qua

Điều 247 BLDS 2015 Hiệu lực của quyền đối với bất động sản liền kề

Trang 11

Điều 256 BLDS 2015 Chấm dứt quyền đối với bất động sản liền kề

Điều 202 Luật đất đai 2013 Hòa giải tranh chấp đất đai

3.1 Đối tượng tranh chấp của vụ kiện

Đối tượng tranh chấp của vụ kiện trên là: quyền sử dụng đối với bất động sảnliền kề, ở đây là quyền đối với lối đi qua Cụ thể là phần đất mà ông S chừa ra cho

bà T để sử dụng làm lối đi (chiều rộng 2m)

3.2 Nhận xét phán quyết của Tòa án sơ thẩm và phúc thẩm

3.2.1 Nhận xét phát quyết của Tòa án cấp sơ thẩm

Ta có thể thấy rằng trong phán quyết của Tòa án nhân dân cấp sơ thẩm củaTòa án nhân dân huyện Châu Thành gồm 2 phần đó là:

- Quyết định đã bác bỏ đơn kiện của bà T

- Quyết định yêu cầu ông S phải giữ nguyên lối đi cũ như trước đây

* Về quyết định bác bỏ đơn kiện của bà T của Tòa án nhân dân huyện

Châu Thành.

Theo quan điểm của nhóm thấy rằng việc Tòa bác bỏ đơn kiện của bà T làđúng và có cơ sở Bởi vì:

Thứ nhất, căn cứ theo Khoản 1 Điều 254 BLDS 2015 về quyền lối đi qua

bất động sản liền kề: “Chủ sở hữu có bất động sản bị vây bọc bởi các bất động sản của các chủ sở hữu khác mà không có hoặc không đủ lối đi ra đường công cộng, có quyền yêu cầu chủ sở hữu bất động sản vây bọc dành cho mình một lối đi hợp lý trên phần đất của họ.

Lối đi được mở trên bất động sản liền kề nào mà được coi là thuận tiện và hợp lý nhất, có tính đến đặc điểm cụ thể của địa điểm, lợi ích của bất động sản bị vây bọc và thiệt hại gây ra là ít nhất cho bất động sản có mở lối đi.

Chủ sở hữu bất động sản hưởng quyền về lối đi qua phải đền bù cho chủ sở hữu bất động sản chịu hưởng quyền, trừ trường hợp có thỏa thuận khác”.

Theo đó bà T không có quyền yêu cầu ông S mở rộng lối đi vì Tòa án đã xácminh việc bà T có lối đi khác thuận tiện cho việc đi lại, kinh doanh với chiều ngang

Trang 12

hơn 15m là đúng tức là nhà bà T không bị bao bọc bởi các bất động sản của các chủ

sở hữu khác mà không có lối đi ra

Thứ hai, căn cứ theo Khoản 2, điều 254 BLDS 2015 về quyền lối đi qua bất

động sản liền kề thì: “Vị trí, giới hạn chiều dài, chiều rộng, chiều cao của lối đi do các bên thỏa thuận, bảo đảm thuận tiện cho việc đi lại và ít gây phiền hà cho các bên; nếu có tranh chấp về lối đi thì có quyền yêu cầu Tòa án, cơ quan nhà nước có thẩm quyền khác xác định” Ở đây, việc bà T thường để xe tải gây ồn, bụi… ảnh

hưởng trực tiếp đến sinh hoạt của gia đình ông S nên việc bà T yêu cầu ông S mởrộng lối đi là không hợp lý

Từ hai điểm trên có thể thấy rằng việc Tòa án nhân dân huyện Châu Thànhbác bỏ đơn kiện của bà T là hoàn toàn hợp lý và có căn cứ pháp luật

* Về quyết định yêu cầu ông S phải giữ nguyên lối đi cũ như trước đây

Tòa yêu cầu ông S phải giữ nguyên lối đi cũ như trước đây là dựa trên việctôn trọng quyền đối bất đống sản liền kề của bà T được chuyển giao từ chủ sở hữu

cũ theo Điều 247 BLDS 2015 về hiệu lực của quyền đối với bất động sản liền kề:

“Quyền đối với bất động sản liền kề có hiệu lực đối với mọi cá nhân, pháp nhân và được chuyển giao khi bất động sản được chuyển giao, trừ trường hợp luật liên quan có quy định khác”.

Theo quy định trên thì việc bà T mua lại phần đất của người chủ trước đâythì theo đó quyền sử dụng bất động sản liền kề (phần đất 2m ông S để cho ngườichủ trước đây làm đường đi) của người chủ trước đây cũng được chuyền giao cho

bà T

3.2.2 Nhận xét phán quyết của Tòa án phúc thẩm

Tại phiên Tòa xét xử phúc thẩm, Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang đã yêucầu ông S bán cho bà T 16m² đất (chiều rộng 2m, chiều dài 8m) với giá 40 triệuđồng với lí do lối đi sẵn có của bà T không đủ để nhà máy hoạt động xuất khẩugạo

Ngày đăng: 07/03/2023, 09:58

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w