1. Trang chủ
  2. » Tất cả

NGUYÊN NHÂN DẪN ĐẾN NỢ CÔNG, ẢNH HƯỞNG CỦA NỢ CÔNG ĐỐI VỚI NỀN KINH TẾ. THỰC TRẠNG NỢ CÔNG CỦA VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2015 2022. CÁC BIỆN PHÁP CỦA CHÍNH PHỦ VIỆT NAM THỰC HIỆN ĐỂ GIẢM NỢ CÔNG

21 30 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nguyên nhân dẫn đến nợ công, ảnh hưởng của nợ công đối với nền kinh tế. Thực trạng nợ công của Việt Nam giai đoạn 2015 - 2022. Các biện pháp của chính phủ Việt Nam thực hiện để giảm nợ công
Người hướng dẫn TS. Nguyễn Thị Thu Hiền
Trường học Trường Đại Học Thương Mại
Chuyên ngành Kinh tế vĩ mô
Thể loại Đề tài thảo luận
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 21
Dung lượng 382,54 KB
File đính kèm Thảo luận Kinh tế vĩ mô.rar (369 KB)

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Vấn đề Chính phủ cũng như giới chuyên môn quan tâm là công nợ của Việt Nam được tái cơ cấu như thế nào để luôn ở ngưỡng an toàn. Cùng với đó là Việt Nam cần làm gì để có khả năng trả nợ trong bối cảnh thiếu nguồn vốn cho phát triển kinh tế giai đoạn này. Theo giới chuyên gia đánh giá, nợ công của Việt Nam đã đạt đỉnh điểm, từ trước đến nay chưa bao giờ rơi vào tình trạng này. Có nhiều người cho rằng, đó là vấn đề riêng của Chính phủ mà không biết rằng nó tác động trực tiếp đến cuộc sống của chúng ta.

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI PHÒNG QUẢN LÝ SAU ĐẠI HỌC

THẢO LUẬN

ĐỀ TÀI: “NGUYÊN NHÂN DẪN ĐẾN NỢ CÔNG, ẢNH HƯỞNG CỦA

NỢ CÔNG ĐỐI VỚI NỀN KINH TẾ THỰC TRẠNG NỢ CÔNG CỦA VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2015 - 2022 CÁC BIỆN PHÁP CỦA CHÍNH

PHỦ VIỆT NAM THỰC HIỆN ĐỂ GIẢM NỢ CÔNG”

Giáo viên hướng dẫn: TS Nguyễn Thị Thu Hiền

Môn học: Kinh tế vĩ mô

Lớp học phần:

Nhóm 1

HÀ NỘI - 2023

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Đầu tiên, chúng em xin gửi lời cảm ơn chân thành đến Trường Đại học Thương Mại đã đưa môn học Kinh tế vĩ mô vào trương trình giảng dạy Thạc sĩ Đặc biệt, em xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến giảng viên bộ môn - TS Nguyễn Thị Thu Hiền đã truyền đạt những kiến thức quý báu cho em trong suốt thời gian học tập vừa qua Trong thời gian tham gia lớp học Kinh tế vĩ mô của cô, chúng em đã

có thêm cho mình nhiều kiến thức bổ ích, tinh thần học tập hiệu quả, nghiêm túc Đây chắc chắn sẽ là những kiến thức quý báu, là hành trang để em có thể ứng dụng thật tốt vào công việc, ngày một thành công trong sự nghiệp.

Bộ môn Kinh tế vĩ mô là môn học có tính thực tế cao Đảm bảo cung cấp đủ kiến thức, gắn liền với nhu cầu thực tiễn của sinh viên Tuy nhiên, do vốn kiến thức còn nhiều hạn chế và khả năng tiếp thu thực tế còn nhiều bỡ ngỡ Mặc dù nhóm đã cố gắng hết sức nhưng chắc chắn bài tiểu luận khó có thể tránh khỏi những thiếu sót và nhiều chỗ còn chưa chính xác, kính mong cô xem xét và góp ý

để bài tiểu luận của em được hoàn thiện hơn.

Trang 3

ĐÁNH GIÁ QUÁ TRÌNH LÀM BÀI THẢO LUẬN

KINH TẾ VĨ MÔ

đánh giá

Hoàn thiện sản phẩm

Trang 4

MỤC LỤC

LỜI MỞ ĐẦU 1

I CÁC KHÁI NIỆM CƠ BẢN 2

1 Khái niệm nợ công: 2

3 Tiêu chí đo lường nợ công 4

4 Các vấn đề gặp phải khi tính toán nợ chính phủ 4

5 Nguyên nhân dẫn đến nợ công trong nền kinh tế: 4

6 Ảnh hưởng của nợ công đối với nền kinh tế: 5

II THỰC TRẠNG NỢ CÔNG CỦA VIỆT NAM 6

1 Thực trạng nợ công của Việt Nam giai đoạn 2015 - 2021: 6

2 Nguyên nhân dẫn đến tính trạng nợ công ở Việt Nam: 10

2.1 Nguyên nhân khách quan 10

2.2 Nguyên nhân chủ quan 10

3 Các biện pháp của Chính phủ Việt nam thực hiện để giảm nợ công: 12

3.1 Hoàn thiện pháp chế quản lý nợ công 12

3.2 Đổi mới đầu tư công hướng tới mục tiêu bền vững tài khóa 13

3.3 Nâng cao hiệu quả công tác quản lý nợ công, bảo đảm an toàn nợ công .14 III KẾT LUẬN 16

TÀI LIỆU THAM KHẢO 17

Trang 5

LỜI MỞ ĐẦU

Vấn đề Chính phủ cũng như giới chuyên môn quan tâm là công nợ của ViệtNam được tái cơ cấu như thế nào để luôn ở ngưỡng an toàn Cùng với đó là Việt Namcần làm gì để có khả năng trả nợ trong bối cảnh thiếu nguồn vốn cho phát triển kinh tếgiai đoạn này Theo giới chuyên gia đánh giá, nợ công của Việt Nam đã đạt đỉnh điểm,

từ trước đến nay chưa bao giờ rơi vào tình trạng này Có nhiều người cho rằng, đó làvấn đề riêng của Chính phủ mà không biết rằng nó tác động trực tiếp đến cuộc sốngcủa chúng ta Để hiểu hơn về tác động từ vấn đề này, thì mỗi người cần hiểu rõ bảnchất, nguyên nhân và các ảnh hưởng của nợ công đối với cuộc sống con người; từ đóđưa ra các biện pháp xử lý kịp thời, hiệu quả Tại Việt Nam tỉ lệ nợ công trên GDP lớnhơn 50% (năm 2019) cùng với sự kiện rối ren về khối nợ khổng lồ do chính phủ đảmbảo của tập đoàn Vinashin đã thực sự gây chấn động Trước hiện tượng này, việc tìmhiểu những yếu tố ảnh hưởng lên nợ công và liệu nợ công có thực sự đe dọa sự pháttriển bền vững của quốc gia hay không thực sự rất quan trọng Dựa trên những tiền đề

lí thuyết đã được công bố trước đó trong và ngoài nước, kết quả cho thấy thuế, cấu trúcthuế phức tạp, chính sách tài khóa yếu kém, rủi ro tỉ giá, đầu tư kém hiệu quả… có ảnhhưởng lớn đến khoản nợ vay của chính phủ, đặc biệt là nợ nước ngoài Bên cạnh đó,khoản nợ vay lớn cũng gây gánh nặng lên tăng trưởng kinh tế thông qua thâm hụt tàikhóa Ý tưởng này đã được ủng hộ mạnh mẽ qua mô hình kiểm định tại Việt Nam vớikết quả tương quan nghịch chiều rất rõ ràng giữa thâm hụt và tăng trưởng Từ mốitương quan nghịch này lại dẫn đến vòng lẫn quẩn nợ công-thâm hụt-hạn chế tăngtrưởng Bài nghiên cứu tính tác động của nợ nội địa đối với tăng trưởng thông qua dữliệu nợ công của Việt Nam trong suốt thời kỳ đổi mới Kết quả nghiên cứu cho thấybiến số nợ công nội địa được xác định là có ảnh hưởng đến tăng trưởng GDP bìnhquân đầu người tính theo chuẩn PPP tại Việt Nam, và có mối quan hệ nhân quả vớilạm phát và tiết kiệm

Với mục đích trau dồi kiến thức đã học và góp phần nghiên cứu, tìm hiểu về nợ

công, chúng em quyết định chọn đề tài: “HÃY CHO BIẾT NGUYÊN NHÂN DẪN ĐẾN NỢ CÔNG? ẢNH HƯỞNG CỦA NỢ CÔNG ĐỐI VỚI NỀN KINH TẾ? THỰC TRẠNG NỢ CÔNG Ở VIỆT NAM? CÁC BIỆN PHÁP CHÍNH PHỦ VIỆT NAM CÓ THỂ THỰC HIỆN ĐỂ GIẢM NỢ CÔNG?”

Trang 6

I CÁC KHÁI NIỆM CƠ BẢN

1 Khái niệm nợ công:

Trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, trong một vài giai đoạnnhất định, Nhà nước của một quốc gia cần huy động nhiều nguồn lực từ cả trong vàngoài nước Khi các khoản thu truyền thống như các loại thuế phí, lệ phí không đápứng được các nhu cầu chi tiêu, Nhà nước phải vay nợ để thực hiện các chức năng,nhiệm vụ của mình Khoản nợ đó được gọi là nợ công

Khái niệm nợ công là một khái niệm phức tạp, tuy nhiên có thể hiểu khái niệmmột cách đơn giản là khoản nợ của một quốc gia mà Chính Phủ của quốc gia đó cótrách nhiệm chi trả Do đó, thuật ngữ nợ công thường được sử dụng cùng nghĩa với cácthuật ngữ khác như nợ Nhà nước hay nợ Chính phủ Tuy nhiên, cần phân biệt rằng nợcông khác hoàn toàn với nợ quốc gia

Nợ quốc gia là toàn bộ số nợ phải trả của một quốc gia, bao gồm cả nợ côngcủa Nhà nước và nợ của tư nhân (doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân) của quốc gia đó.Điều này có nghĩa nợ công chỉ là một bộ phận của nợ quốc gia

Theo định nghĩa của ngân hàng thế giới và Quỹ tiền tệ quốc tế thì “Nợ công là

các khoản nợ của Chính phủ trung ương, các cấp chính quyền địa phương, ngân hàng trung ương và nợ của các tổ chức độc lập được Chính phủ bảo lãnh thanh toán”, là nghĩa vụ nợ của các nhóm chủ thể sau đây:

- Nợ của Chính phủ và nợ từ các Bộ, Ban, ngành thuộc quản lý của Chính phủ;

- Nợ của các cấp chính quyền địa phương;

- Nợ của Ngân hàng trung ương;

- Nợ của các tổ chức độc lập mà Chính phủ sở hữu trên 50% vốn, hoặc việcquyết lập ngân sách được Chính phủ thông qua hoặc Chính phủ sẽ là người có tráchnhiệm trả nợ nếu tổ chức đó vỡ nợ

Theo quy định của pháp luật Việt Nam hiện nay, luật không có một định nghĩachính xác nào về nợ công Tuy nhiên, theo quy định tại khoản 2 Điều 1 Luật Quản lý

nợ công 2009 thì nợ công bao gồm:

- Nợ chính phủ là khoản nợ phát sinh từ các khoản vay trong nước, nước ngoài,được ký kết, phát hành nhân danh Nhà nước, nhân danh Chính phủ hoặc các khoảnvay khác do Bộ Tài chính ký kết, phát hành, uỷ quyền phát hành theo quy định củapháp luật Nợ chính phủ không bao gồm khoản nợ do Ngân hàng Nhà nước Việt Namphát hành nhằm thực hiện chính sách tiền tệ trong từng thời kỳ (khoản 2 Điều 3 LuậtQuản lý nợ công 2009);

Trang 7

- Nợ được Chính phủ bảo lãnh là khoản nợ của DN, tổ chức tài chính, tín dụngvay trong nước, nước ngoài được Chính phủ bảo lãnh (khoản 3 Điều 3 Luật Quản lý

nợ công 2009);

- Nợ chính quyền địa phương là khoản nợ do Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phốtrực thuộc trung ương (sau đây gọi chung là Ủy ban nhân dân cấp tỉnh) ký kết, pháthành hoặc uỷ quyền phát hành (khoản 4 Điều 3 Luật Quản lý nợ công 2009);

Vì vậy, khái niệm về nợ công tại Việt Nam được đánh giá là hẹp hơn so vớithông lệ của quốc tế Nhận định này cũng được nhiều chuyên gia uy tín trong lĩnh vựcchính sách công thừa nhận Tuy có nhiều cách giải thích khác nhau về nợ công, nhưng

về cơ bản thì khái niệm này có những đặc điểm như sau:

- Nợ công là khoản nợ mà Nhà nước có trách nhiệm phải chi trả Không nhưkhoản nợ thông thường, nợ công là khoản nợ mà Nhà nước (hoặc các cơ quan thuộcquản lý của Nhà nước) có trách nhiệm phải trả đầy đủ khoản nợ ấy Trách nhiệm nàycủa Nhà nước được thể hiện dưới hai hình thức trực tiếp và gián tiếp Trách nhiệm trựctiếp được hiểu là cơ quan Nhà nước có thẩm quyền sẽ là người vay và cũng là ngườitrả khoản nợ đó (bao gồm: Chính phủ Việt Nam hoặc chính quyền địa phương) Còngián tiếp là trong trường hợp cơ quan Nhà nước có thẩm quyền đứng ra bảo lãnh chomột tổ chức trong nước vay nợ Trong trường hợp chủ thể vay không thể trả được nợthì trách nhiệm trả nợ sẽ thuộc về cơ quan đứng ra bảo lãnh (Ví dụ: Chính phủ bảolãnh để Ngân hàng Phát triển Việt Nam vay vốn nước ngoài)

- Nợ công được quản lý theo quy trình chặt chẽ với sự tham gia của cơ quanNhà nước có thẩm quyền Việc quản lý nợ công được quản lý rất chặt chẽ nhằm đảmbảo hai mục đích quan trọng của nhà nước

- Mục tiêu cao nhất của việc huy động và sử dụng nợ công là để phát triển kinh

tế - xã hội vì lợi ích chung Nợ công được huy động và sử dụng không để thỏa mãn lợiích riêng của bất kỳ cá nhân hay tổ chức nào, mà vì lợi ích chung của quốc gia Điềunày xuất phát từ chức năng của Nhà nước là thiết chế để phục vụ lợi ích chung của xãhội Nhà nước sinh ra là của dân, do dân, vì dân Do đó, các khoản nợ công đều phảiđáp ứng mục đích vì lợi ích của nhân dân, mà cụ thể là để phát triển kinh tế - xã hội

2 Phân loại các kiểu nợ công

Có nhiều tiêu chí để phân loại nợ công, mỗi tiêu chí đều đóng vai trò quan trọngtrong quản lý và sử dụng nợ công Theo tiêu chí về nguồn gốc của vốn vay thì nợ cônggồm hai loại: nợ trong nước và nợ nước ngoài

Nợ trong nước là nợ công mà bên cho vay là các tổ chức, cá nhân tại Việt Nam

Nợ nước ngoài là nợ công mà bên cho vay là các Chính phủ nước ngoài, các tổchức tài chính quốc tế, tổ chức và cá nhân nước ngoài Theo luật Việt Nam, nợ nước

Trang 8

ngoài không được hiểu là bên cho vay là nước ngoài, mà toàn bộ các khoản nợ côngkhông chỉ bao gồm nợ trong nước.

Việc phân loại này có ý nghĩa quan trọng trong quản lý nợ, giúp xác định chínhxác tình hình cán cân thanh toán quốc tế Mặt khác, việc quản lý nợ nước ngoài cònnhằm đảm bảo an ninh tiền tệ của Nhà nước Việt Nam

3 Tiêu chí đo lường nợ công.

Việc xác định nợ công ở mức an toàn hay không an toàn sẽ được xác định dựatrên:

+ Tỷ lệ của nợ công/GDP (tổng thu nhập quốc dân)

+ Thực chất nợ công/cơ cấu nợ công nước ngoài so với nợ công trong nước+ Tình trạng sức khỏe của nền kinh tế

+ Các tiêu chí có mức chi phối không nhỏ: khoản nợ ngầm (các khoản nợ ngânhàng, nợ doanh nghiệp của Nhà nước vay mà Chính phủ phải bảo lãnh

4 Các vấn đề gặp phải khi tính toán nợ chính phủ.

- Lạm phát: Chỉ tiêu thâm hụt ngân sách khi tính toán thường không điều chỉnhảnh hưởng của lạm phát vì trong tính toán chi tiêu của Chính phủ, người ta tính toáncác khoản trả lãi vay theo lãi suất danh nghĩa trong khi đáng lẽ chỉ tiêu này chỉ nêntính theo lãi suất thực tế Do lãi suất danh nghĩa bằng lãi suất thực tế cộng với tỷ lệlạm phát, nên thâm hụt ngân sách đã bị phóng đại Trong những thời kỳ lạm phát ởmức cao và nợ chính phủ lớn thì ảnh hưởng của yếu tố này rất lớn

- Tài sản đầu tư: Nhiều nhà kinh tế cho rằng tính toán nợ chính phủ cần phải trừ

đi tổng giá trị của tài sản chính phủ Điều này cũng đơn giản như khi xử lý tài sản của

cá nhân: khi một cá nhân vay tiền để mua nhà thì không thể tính anh ta đã thâm hụtngân sách bằng số tiền đã vay mà phải trừ đi giá trị của căn nhà Tuy nhiên khi tínhtoán theo phương pháp này lại gặp phải vấn đề những gì nên coi là tài sản của chínhphủ và tính toán giá trị của chúng như thế nào, ví dụ: đường quốc lộ, kho vũ khí haychi tiêu cho giáo dục

- Các khoản nợ tiềm tàng: Nhiều nhà kinh tế lập luận rằng tính toán nợ chínhphủ đã bỏ qua các khoản nợ tiềm tàng như tiền trợ cấp hưu trí, các khoản bảo hiểm xãhội mà chính phủ sẽ phải chi trả cho người lao động hay các khoản mà chính phủ sẽphải chi trả khi đứng ra bảo đảm cho các khoản vay của người có thu nhập thấp màtrong tương lai họ không có khả năng thanh toán

5 Nguyên nhân dẫn đến nợ công trong nền kinh tế:

Có nhiều nguyên nhân dẫn đến nợ công Tình trạng nợ công hiện nay ở nhiềunước đều có chung một số nguyên nhân cơ bản như:

Trang 9

Thứ nhất, gia tăng mạnh chi tiêu từ ngân sách nhà nước (lương và chi phí hoạt

động của bộ máy nhà nước ở các cấp có xu hướng ngày càng phình to, các chươngtrình kinh tế, xã hội, văn hoá, giáo dục, y tế, an ninh, quốc phòng, đầu tư phát triển có

sở hạ tầng không ngừng tăng …), đặc biệt là hậu quả to lớn của cuộc khủng hoảng tàichính -kinh tế toàn cầu vừa qua đã buộc nhiều nước phải chi rất nhiều để khắc phục

Thứ hai, sự kiểm soát chi tiêu và quản lý nợ của Nhà nước kém, không chặt

chẽ, thậm chí bị buông lỏng, cộng thêm với tình trạng thất thoát, lãng phí trong đầu tư

và chi tiêu, cùng với tệ tham nhũng phát triển ở nước ta

Thứ ba, các nguồn thu (chủ yếu từ thuế) tăng không kịp với nhu cầu chi, thậm

chí một số loại thuế chịu áp lực phải cắt giảm do nhiều nguyên nhân khác nhau, đặcbiệt như thuế quan và phí hải quan của nước ta phải cắt giảm hoặc loại bỏ phù hợp vớicác quy định của WTO và các thoả thuận thương mại khác mà ta tham gia Trong khi

đó, vấn đề quản lý các nguồn thu, nhất là từ thuế, gặp không ít khó khăn do tình trạngtrốn thuế, tệ tham nhũng, hối lộ, kiểm soát không chặt và xử lý không nghiêm của các

cơ quan chức năng

6 Ảnh hưởng của nợ công đối với nền kinh tế:

Như phân tích nêu trên, nợ công vừa có tác động tích cực nhưng cũng có tácđộng tiêu cực Việc xác định tiêu cực và hạn chế những mặt tiêu cực là điều cần thiếttrong xây dựng và quản lý nợ công Những tác động tiêu cực do nợ công gây ra có thểlà:

Nợ công làm gia tăng nguồn lực cho Nhà nước, tăng cường nguồn vốn để pháttriển cơ sở hạ tầng và tăng nguồn vốn đầu tư của Nhà nước Với một nền kinh tế theohướng kinh tế thị trường như Việt Nam, để phát triển cơ sở hạ tầng nhanh chóng vàđồng bộ thì vốn là yếu tố quan trọng nhất Với chính sách huy động nợ công hợp lý,nhu cầu vốn sẽ được giải quyết để đầu tư cơ sở hạ tầng, từ đó gia tăng năng lực sảnxuất cho nền kinh tế

- Huy động nợ công góp phần tận dụng được nguồn tài chính nhàn rỗi trong dân

cư Một bộ phận dân cư trong xã hội hay có các khoản tiết kiệm, thông qua việc Nhànước vay nợ mà mà những khoản tiền nhàn rỗi này được đưa vào sử dụng, đem lạihiệu quả kinh tế cho cả khu vực công và tư

- Nợ công tận dụng nguồn trợ vốn từ nước ngoài và từ các tổ chức tài chínhquốc tế Tuy nhiên, tài trợ quốc tế cũng là một trong những hoạt động ngoại giao –kinh tế mà các nước phát triển muốn gây ảnh hưởng đến các quốc gia kém phát triển,tăng cường hợp tác kinh tế song phương

- Ngược lại, nợ công cũng gây ra những tác động tiêu cực nhất định như gây áplực lên chính sách tiền tệ, đặc biệt là từ các khoản vay từ nước ngoài Nếu Nhà nước

Trang 10

giám sát lỏng lẻo việc sử dụng và quản lý nợ công, nguồn vay này sẽ tỏ ra kém hiệuquả và gây ra tình trạng tham nhũng, lãng phí.

Tại điều Luật Quản lý nợ công 2017 quy định Chính phủ có nghĩa vụ thanhtoán nợ công Tuy nhiên khi rủi ro xảy ra, chẳng hạn như các doanh nghiệp nhà nướcđược Chính phủ bảo lãnh nợ, làm ăn thua lỗ, không có khả năng thanh toán nợ, dẫnđến việc nợ công ngày càng tăng, thì người phải gánh chịu hậu quả không ai khácchính là người dân Khi Chính phủ không có khả năng thanh toán nợ, khủng hoảng nợcông sẽ xảy ra

Khủng hoảng nợ công được xem là tình trạng nợ công tăng cao (vỡ nợ), làmchao đảo nền kinh tế do mất cân bằng nghiêm trọng giữa thu và chi Khi một đất nướclâm vào cuộc khủng hoảng nợ công, Chính phủ sẽ phải thực hiện các chính sách “thắtlưng buộc bụng” (tăng thuế, giảm lương, sa thải bớt số viên chức nhà nước,…)

II THỰC TRẠNG NỢ CÔNG CỦA VIỆT NAM

1 Thực trạng nợ công của Việt Nam giai đoạn 2015 - 2021:

1.1 Tình hình nợ công ở Việt Nam

Thời gian qua, công tác quản lý nợ công ở Việt Nam được thực hiện chặt chẽ vàđáp ứng được các mục tiêu đề ra Trong giai đoạn 2015-2022, nợ công Việt Nam giảmmạnh từ 62,2% GDP năm 2015 và 63,7% GDP năm 2016 xuống còn 43,1% GDP năm

2021 và khoảng 43- 44% GDP năm 2022 Để quản lý nợ công toàn diện và hiệu quảhơn trong thời gian tới, việc từng bước áp dụng các thông lệ tốt trong quản lý nợ côngtheo chuẩn mực quốc tế là cần thiết

1.2 Quy mô và cơ cấu nợ công của Việt Nam

a Quy mô nợ:

- Tỉ lệ nợ công của Việt Nam trong những năm gần đây có xu hướng giảm dầntrong giai đoạn từ 2015-2022 Năm 2021, tỉ lệ nợi công/GDP xuống 43% và nợ chínhphủ 142 tỷ USD, tương ứng 39% sau khi thay đổi cách tính GDP

- Bình quân nợ công/đầu người năm 2021 là 37,7 triệu/người và năm 2022 làkhoảng 40 triệu đồng/người

b Cơ cấu nợ và tình hình trả nợ công của Việt Nam:

- Theo luật quản lý nợ công của Việt Nam, nợ công bao gồm tất cả các khoản

nợ của chính phủ, nợ được chính phủ bảo lãnh và nợ của chính quyền địa phương Cơcấu nợ của Việt Nam thì nợ chính phủ, nợ chính phủ bảo lãnh và nợ chính quyền địaphương giai đoạn qua cũng giảm dần Cụ thể, nợ chính phủ giảm từ 51,7% GDP năm

2017 xuống còn đến 39,1% năm 2021 Nợ chính phủ bảo lãnh giảm từ 9,1% GDP năm

Ngày đăng: 07/03/2023, 09:21

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w