Nguyên tắc về pháp luật điều chỉnh giải quyết tranh chấp hợp đồng mua bán 3.1 Nguyên tắc bình đẳng trước pháp luật của thương nhân trong hoạt động mua 3.2 Nguyên tắc tự do, tự nguyện t
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI
QUẬN NAM TỪ LIÊM”
CHUYÊN NGÀNH: LUẬT KINH TẾ
Giáo viên hướng dẫn
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Được sự phân công của Khoa Kinh tế - Luật trường đại học Thương Mại và được sự
đồng ý của giảng viên hướng dẫn TS Phùng Bích Ngọc, em đã thực hiện đề tài khoá luận
“Pháp luật về giải quyết tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hoá – Thực tiễn áp dụng của
Tòa án nhân dân quận Nam Từ Liêm”
Để hoàn thành khóa luận này, em xin chân thành cảm ơn các Thầy, Cô giáo trong Khoa đã hướng dẫn, giảng dạy những kiến thức pháp lý trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và rèn luyện ở Trường Đại học Thương Mại
Em xin chân thành cảm ơn cô giáo hướng dẫn TS Phùng Bích Ngọc đã tận tình, chu đáo hướng dẫn em thực hiện khóa luận này
Trong quá trình học tập, cũng như là trong quá trình làm bài, trình độ lý luận cũng như kinh nghiệm thực tiễn còn hạn chế nên khóa luận không thể tránh khỏi những thiếu sót,
em rất mong nhận được ý kiến đóng góp Thầy, Cô để bài khóa luận tốt nghiệp của em được hoàn thiện hơn
Em xin chân thành cảm ơn!
Trang 3MỤC LỤC
CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT CHUNG VỀ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP HỢP
ĐỒNG MUA BÁN HÀNG HÓA TẠI TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NAM TỪ LIÊM
10
1 Khái niệm về giải quyết tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa tại Toà án 10
1.2 Khái niệm và đặc điểm giải quyết tranh chấp tại Toà án về tranh chấp hợp đồng
2 Cơ sở ban hành và nội dung pháp luật điều chỉnh về giải quyết tranh chấp hợp
2.1 Cơ sở ban hành pháp luật về giải quyết tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa
2.2 Nội dung pháp luật về giải quyết tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa tại Tòa
2.2.1 Điều kiện thụ lý tranh chấp về hợp đồng mua bán hàng hóa 17
3 Nguyên tắc về pháp luật điều chỉnh giải quyết tranh chấp hợp đồng mua bán
3.1 Nguyên tắc bình đẳng trước pháp luật của thương nhân trong hoạt động mua
3.2 Nguyên tắc tự do, tự nguyện thoả thuận trong hoạt động mua bán hàng hóa 25
3.3 Nguyên tắc áp dụng thói quen trong hoạt động mua bán hàng hóa được thiết lập
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG ÁP DỤNG PHÁP LUẬT VỀ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG MUA BÁN HÀNG HÓA TẠI TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN
1 Tổng quan tình hình và các nhân tố ảnh hưởng đến việc giải quyết tranh chấp
Trang 41.2 Các nhân tố ảnh hưởng 28
2 Thực trạng pháp luật điều chỉnh về giải quyết tranh chấp hợp đồng mua bán
2.1 Thẩm quyền giải quyết tranh chấp về hợp đồng mua bán hàng hóa 29
2.3 Quyền khởi kiện và tư cách pháp lý người khởi kiện 32
2.4 Thủ tục thụ lý án về tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa 33
3 Thực trạng thực hiện các quy phạm pháp luật điều chỉnh về giải quyết tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa tại Tòa án quận Nam Từ Liêm 35
4 Kết luận và các phát hiện qua nghiên cứu về giải quyết tranh chấp hợp đồng
CHƯƠNG 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP, KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG MUA BÁN HÀNG HÓA TẠI TÒA ÁN
1.Định hướng hoàn thiện pháp luật về giải quyết tranh chấp hợp đồng mua bán
2 Các giải pháp hoàn thiện pháp luật về giải quyết tranh chấp hợp đồng mua bán
Trang 5PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết nghiên cứu của đề tài
Hợp đồng mua bán hàng hoá là một trong những hợp đồng thông dụng nhất trong hoạt động kinh doanh thương mại, là sự thoả thuận giữa các bên theo đó bên bán có nghĩa
vụ giao hàng, chuyển quyền sở hữu cho bên mua ngược lại thì bên mua có nghĩa vụ thanh toán cho bên bán, nhận hàng và quyền sở hữu hàng hoá theo thoả thuận ( Khoản 8 Điều 3 Luật thương mại 2005) Hoạt động mua bán hàng hoá hiện nay ngày càng được mở rộng
và phát triển đa dạng với sự tăng lên về mặt chất lượng cũng như hình thức của hàng hoá
và số lượng người tham gia hoạt động kinh doanh Cùng với đó, các tranh chấp thương mại nói chung và hợp đồng mua bán hàng hoá nói riêng diễn ra ngày càng phức tạp đòi hỏi phải
có một hệ thống pháp lý toàn diện phù hợp với nhu cầu thực tiễn của xã hội Do vậy, nghiên cứu về hợp đồng mua bán hàng hóa giúp các chủ thể kinh doanh ký kết và thực hiện hợp đồng được thuận lợi, an toàn và hiệu quả, tránh các tranh chấp, rủi ro đáng tiếc Khi xảy ra tranh chấp trong hợp đồng mua bán hàng hóa, pháp luật hiện hành công nhận các phương thức sau: Thương lượng giữa các bên, hoà giải giữa các bên do một cơ quan, tổ chức hoặc
cá nhân được các bên thỏa thuận chọn làm trung gian hoà giải và giải quyết tại Trọng tài hoặc Toà án
Toà án là phương thức giải quyết tranh chấp tại cơ quan xét xử nhân danh quyền lực nhà nước được tiến hành theo trình tự, thủ tục nghiêm ngặt, chặt chẽ và bản án hay quyết định của Toà án về vụ tranh chấp nếu không có sự tự nguyên tuân thủ sẽ được đảm bảo thi hành bằng sức mạnh cưỡng chế nhà nước Ở Việt Nam, các đương sự thường lựa chọn hình thức giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại bằng toà án như một giải pháp cuối cùng
để bảo vệ hiệu quả các quyền và lợi ích của mình khi thất bại trong việc sử dụng phương thức thương lượng hay hoà giải Nếu như việc giải quyết tranh chấp bằng trọng tài mang đặc điểm tôn trọng quyền thỏa thuận hay ý chí của các bên tham gia để đưa ra phán quyết thì đặc trưng cơ bản của thủ tục giải quyết tranh chấp của Tòa án là thông qua hoạt động của bộ máy tư pháp và nhân danh quyền lực nhà nước để đưa ra phán quyết buộc các bên
có nghĩa vụ thi hành, kể cả bằng sức mạnh cưỡng chế
Trên cơ sở đó, em lựa chọn đề tài: “Pháp luật về giải quyết tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hoá – Thực tiễn áp dụng của Tòa án nhân dân quận Nam Từ Liêm" làm đề
tài cho Khóa luận tốt nghiệp của mình Đề tài sẽ sẽ tập trung nghiên một cách khái quát, đầy đủ những vấn đề lý luận, những quy định của pháp luật, thực trạng về giải quyết các
Trang 6tranh chấp về hợp đồng mua bán hàng hóa tại Tòa án ở Việt Nam, để từ đó đưa ra những kiến nghị trong việc nâng cao hiệu quả trong việc giải quyết tranh chấp này
2 Tổng quan các công trình nghiên cứu có liên quan
Hàng năm, Tòa án thụ lý hàng trăm vụ án lớn nhỏ liên quan đến tranh chấp từ hợp đồng mua bán hàng hóa, yêu cầu thực hiện nghĩa vụ thanh toán Sự gia tăng của các tranh chấp như trên ngày càng đa dạng và phức tạp, đòi hỏi sự không ngừng nghiên cứu và làm mới các yêu cầu luật pháp cũng như chuyên môn trong lĩnh vực giải quyết tranh chấp loại này để giải quyết ổn thỏa, đảm bảo quyền lợi cho các bên là việc làm cần thiết Vấn đề này
đã nhận được sự quan tâm và thu hút rất nhiều học giả, cho đến nay có khá nhiều công trình nghiên cứu có liên quan đến giải quyết tranh chấp về hợp đồng mua bán hàng hóa như:
- Luận văn thạc sĩ học của Võ Ngọc Thông (2017) thuộc Học viện khoa học xã hội
nghiên cứu về “Giải quyết tranh chấp hợp đồng kinh doanh, thương mại theo pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam từ thực tiễn Thành phố Đà Nẵng"
- Luận văn thạc sĩ học của Trương Thị Thùy Dương (2017) thuộc Đại học Luật –
Đại học Huế nghiên cứu về “Hợp đồng mua bán hàng hóa theo pháp luật Việt Nam”
- Chuyên đề “Giải quyết tranh chấp thương mại liên quan đến hợp đồng” được đăng
tải trên tạp chí Luật sư Việt Nam (2022) bởi Th.s, Luật sư Ngô Việt Bắc, Huỳnh Thị Hồng Nguyệt
Những công trình này tiếp cận ở các khía cạnh khác nhau của pháp luật về giải quyết trong giải quyết tranh chấp về hợp đồng mua bán hàng hóa, đều đưa ra được những ưu điểm
và nhược điểm trong quy định của pháp luật về tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa tại Tòa án Tuy nhiên, trên phương diện thực tiễn áp dụng các quy định pháp luật giải quyết
về tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa còn nghiên cứu, khai thác chưa đầy đủ, vẫn còn tồn tại một số vấn đề dạng còn tranh luận cần tiếp tục làm rõ trong điều kiện hiện hành ở Việt Nam
Đề tài “Pháp luật về giải quyết tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hoá – Thực tiễn
áp dụng của Tòa án nhân dân quận Nam Từ Liêm” sẽ tập trung nghiên một cách khái quát,
đầy đủ những vấn đề lý luận, những quy định của pháp luật, thực trạng của việc giải quyết tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa tại Tòa án nhân dân quận Nam Từ Liêm
Trang 73 Đối tượng, mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Những quy phạm pháp luật về giải quyết tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hoá và những bản án của toà án nhân dân quận Nam Từ Liêm về vấn đề này
3.2 Mục tiêu nghiên cứu
Nghiên cứu một cách tổng quát các vấn đề lý luận cơ bản trong quy định của pháp luật về giải quyết tranh chấp liên quan về hợp đồng mua bán hàng hóa tại Tòa án nhân dân quận Nam Từ Liêm Từ đó, có phương hướng đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật tố tụng giải quyết các vụ án tranh chấp về hợp đồng mua bán hàng hóa tại Tòa án hiện nay
3.3 Nhiệm vụ nghiên cứu
Từ mục tiêu trên, khoá luận có thể rút ra nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể như sau:
- Đánh giá quy định của pháp luật về giải quyết tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa bằng thủ tục tố tụng tại Tòa án ở Việt Nam hiện nay
- Đánh giá thực trạng cũng như thực tiễn áp dụng áp dụng pháp luật trong việc giải quyết tranh chấp về hợp đồng mua bán hàng hóa tại Tòa án nhân dân quận Nam Từ Liêm
- Tìm hiểu nguyên nhân và đưa ra giải pháp hoàn thiện, nâng cao chất lượng giải quyết các tranh chấp về hợp đồng mua bán hàng hóa tại Tòa án
4 Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi nghiên cứu về nội dung: Những vấn đề lý luận và quy định của pháp luật
hiện hành về giải quyết tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa thông qua các văn bản pháp luật có liên quan
- Phạm vi nghiên cứu về không gian: Tòa án nhân dân quận Nam Từ Liêm
- Phạm vi nghiên cứu về thời gian: Quá trình nghiên cứu đề tài sử dụng dữ liệu giai
đoạn 01/01/2020 đến 09/09/2022, đề xuất giải pháp định hướng đến năm 2030
5 Phương pháp nghiên cứu
Trang 8Trong phạm vi nghiên cứu, khoá luận chủ yếu vận dụng phương pháp nghiên cứu pháp luật truyền thống và phổ biến là:
Phương pháp Phân tích – Tổng hợp: Dựa trên cơ sở các tài liệu đã thu thập được, từ
đó phân tích đánh giá nội dung các quy định của pháp luật về giải quyết tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa được thực hiện trong chương 1 và thực trạng áp dụng chúng trong giải quyết tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa tại quận Nam Từ Liêm Từ những kết quả đã phân tích, tổng hợp lại để có nhận thức đẩy đủ, đúng đắn, tìm ra được những ưu điểm, và những tồn tại trong quy định của pháp luật về giải quyết tranh chấp, từ đó đề xuất giải pháp hoàn thiện
Phương pháp khai thác các tài liệu sẵn có: Là việc tìm kiếm, tham khảo và khai thác
các tài liệu có sẵn được lưu trữ trong thư viện dễ người đọc mượn tham khảo, ngoại trừ những trường hợp đặc biệt Các tài liệu này đều được lưu trữ ở các văn bản pháp luật, giáo trình, tạp chí chuyên ngành, các công trình nghiên cứu khoa học có liên quan đến đề tài nghiên cứu Ưu điểm của phương pháp nghiên cứu này đó là chất lượng tài liệu được kiểm chứng và dễ tìm kiếm
Phương pháp thống kê: Mục đích của việc thống kê thông tin, dữ liệu là làm cơ sở
lý luận khoa học hay luận cử để đi sâu vào vấn đề giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại
- Thống kê các quy định, các văn bản quy phạm pháp luật và các tài liệu tổng quan quy định về giải quyết tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa như: Luật thương mại 2005,
Bộ luật dân sự 2015, các văn bản pháp luật có liên quan từ đó đưa ra một số nội dung pháp
lý về giải quyết tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa trong chương 1 về khái niệm, nội dung pháp luật về giải quyết tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa, các nguyên tắc giải quyết tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa tại Tòa án
- Thống kê sổ sách, số liệu có liên quan tới giải quyết tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa tại Tòa án nhân dân quận Nam Từ Liêm, để làm rõ thực trạng áp dụng pháp luật
về giải quyết tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa tại Tòa án nhân dân quận Nam Từ Liêm
6 Kết cấu khóa luận tốt nghiệp
Trang 9Ngoài các phần: Mục lục, danh mục các biểu đồ, lời nói đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, khoá luận tốt nghiệp được chia làm ba chương như sau:
Chương 1: Khái quát chung về giải quyết tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa tại Tòa án nhân dân quận Nam Từ Liêm
Chương 2: Thực trạng áp dụng pháp luật về giải quyết tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa tại Tòa án nhân dân quận Nam Từ Liêm
Chương 3: Một số giải pháp, kiến nghị hoàn thiện pháp luật về giải quyết tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa tại Tòa án nhân dân quận Nam Từ Liêm
Trang 10CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT CHUNG VỀ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP HỢP
ĐỒNG MUA BÁN HÀNG HÓA TẠI TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NAM TỪ LIÊM
1 Khái niệm về giải quyết tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa tại Toà án
1.1 Khái niệm và đặc điểm về tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hoá
Hợp đồng mua bán hàng hoá là một chế định truyền thống của pháp luật thương mại
Do đó, những vấn đề liên quan đến chế định này đã được nhiều nhà khoa học và nhiều tác giả quan tâm nghiên cứu ở những mức độ khác nhau
Tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa là những mâu thuẫn, bất đồng về quyền và nghĩa vụ giữa các chủ thể tham gia trong hợp đồng mà chủ yếu là liên quan đến việc thực hiện hoặc không thực hiện quyền và nghĩa vụ tự nguyện thỏa thuận Cũng có thể xảy ra tranh chấp phát sinh từ nội dung của hợp đồng, giải thích từ ngữ trong hợp đồng, quyền và nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng, thực hiện hợp đồng, sửa đổi, bổ sung chấm dứt hợp đồng
Tại hội thảo “Giải quyết tranh chấp kinh tế tại Việt Nam - Lý luận, thực tiễn và kiến nghị nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia" ngày 30/8/2022 do Viện Nghiên cứu lập pháp thuộc UBTVQH tổ chức, TS.Nguyễn Ngọc Sơn, Ủy viên Thường trực Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường của Quốc hội nhấn mạnh đối với mọi nền kinh tế, năng lực cạnh tranh quốc gia có mối tương quan mật thiết với môi trường kinh doanh Giải quyết các tranh chấp kinh tế nói chung, tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa nói riêng là đòi hỏi
tự thân của các quan hệ kinh tế nhằm đáp ứng được những yêu cầu trong điều kiện nền kinh
tế thị trường Cụ thể là: nhanh chóng, thuận lợi, không làm cản trở và hạn chế các hoạt động mua bán hàng hóa; khôi phục và duy trì các quan hệ hợp tác, tín nhiệm giữa các bên; giữ bí mật kinh doanh, uy tín của các bên trên thương trường; và kinh tế nhất (ít tốn kém nhất) Trên thực tế, mỗi phương thức giải quyết tranh chấp đều có những lợi thế, những khó khăn khi áp dụng Theo đánh giá cá nhân, cách nhận biết tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa với các loại tranh chấp khác dựa vào đối tượng là tất cả các loại động sản, kể cả động sản hình thành trong tương lai, những vật gắn liền với đất đai (đất đai không phải là hàng hóa), chủ thể có ít nhất một bên là thương nhân và mục đích của hợp đồng này là chuyển giao quyền sở hữu từ bên bán sang bên mua nhằm mục đích sinh lợi
Trang 11Tranh chấp về hợp đồng mua bán hàng hóa phát sinh khi các bên không thực hiện hoặc thực hiện không đúng những điều khoản đã cam kết trong hợp đồng Nội dung tranh chấp thường xảy ra với các nội dung như bên bán giao hàng chậm, bên bán giao hàng không đúng chủng loại, số lượng như đã cam kết trong hợp đồng hai bên kí kết, bên mua vi phạm nghĩa vụ thanh toán, bên bán vi phạm các điều kiện về thời điểm chuyển giao hàng hoá, bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng Các đặc điểm của tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa được phân tích trên cơ sở các yếu tố làm phát sinh tranh chấp để kết luận trách nhiệm thuộc về bên mua hay bên bán Tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa có các đặc điểm sau:
Thứ hai, có lỗi của bên vi phạm
Lỗi của bên vi phạm trong hợp đồng mua bán hàng hóa dựa trên cơ sở không thực hiện đúng những nội dung, quy định đã cam kết trong hợp đồng Lỗi của bên vi phạm thường được thể hiện qua việc không chịu thực hiện nghĩa vụ hợp đồng mặc dù đã hưởng các quyền lợi từ hợp đồng, không thực hiện đúng, đầy đủ các thỏa thuận ghi trong hợp đồng, hoặc không chịu thực hiện hợp đồng hoặc đơn phương chấm dứt hợp đồng mà không giải thích rõ lý do cho bên kia Lỗi của bên vi phạm hợp đồng là căn cứ bắt buộc phải có
để áp dụng đối với tất cả các hình thức chế tài do vi phạm hợp đồng Đây là điều kiện để quy trách nhiệm bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng của bên vi phạm Nếu một bên
vi phạm hợp đồng mà không có lỗi thì không phải bồi thường thiệt hại Bên vi phạm hợp
Trang 12đồng nếu muốn không phải chịu trách nhiệm thì phải tự chứng minh mình không có lỗi Nếu bên vi phạm không chứng minh được là mình không có lỗi thì phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại theo phán quyết của Tòa án khi vụ án được đưa ra xét xử
Thứ ba, có thiệt hại khi xảy ra tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa
Thiệt hại về hàng hóa trong hợp đồng mua bán hàng hóa là căn cứ để bên bị vi phạm yêu cầu bên vi phạm bồi thường thiệt hại Thiệt hại thực tế là những thiệt hại cụ thể tính được thành tiền mà bên bị vi phạm hợp đồng phải gánh chịu Thiệt hại thực tế bao gồm thiệt hại trực tiếp và thiệt hại gián tiếp Thiệt hại trực tiếp là những thiệt hại đã xảy ra trên thực tế, có thể tính toán 1 cách dễ dàng và chính xác Thiệt hại gián tiếp là những thiệt hại phải dựa trên sự suy đoán khoa học (trên cơ sở những chứng cứ, tài liệu) mới có thể xác định được Nghĩa vụ chứng minh thiệt hại thuộc về bên bị vi phạm Nếu không chứng minh được thì không có căn cứ để yêu cầu Tòa án xem xét để bồi thường thiệt hại cho họ
1.2 Khái niệm và đặc điểm giải quyết tranh chấp tại Toà án về tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hoá
TS.Nguyễn Ngọc Sơn, Ủy viên Thường trực Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường của Quốc hội đồng chủ trì hội thảo “Phương thức giải quyết tranh chấp thương mại
- Thực trạng và kiến nghị” vào ngày 26/8/2022 nhấn mạnh, về bản chất, khi có tranh chấp thương mại xảy ra, các bên trong tranh chấp đều mong muốn tìm được biện pháp giải quyết tranh chấp đảm bảo tốt nhất quyền lợi, giảm thiểu sự ảnh hưởng đến mối quan hệ giữa các bên, ít tốn kém về thời gian và tiền bạc Vì vậy, việc lựa chọn phương thức giải quyết tranh chấp là vô cùng quan trọng Các mô hình kinh doanh mới, Cách mạng công nghiệp 4.0 dẫn tới những thay đổi trong cách thức giải quyết tranh chấp và phạm vi thẩm quyền giải quyết các tranh chấp nên việc chọn giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại nói chung, tranh chấp về hợp đồng mua bán hàng hóa nói riêng tại Tòa án là hợp lý Giải quyết tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa tại Tòa án là phương thức giải quyết tranh chấp thương mại tại cơ quan xét xử nhân danh quyền lực nhà nước được Tòa án thực hiện theo một trình tự, thủ tục nghiêm ngặt, chặt chẽ Các phán quyết có hiệu lực của Tòa án được đảm bảo thi hành bằng sức mạnh cưỡng chế của nhà nước
Giải quyết tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa bằng Tòa án có một số đặc điểm như sau:
Trang 13- Tòa án chỉ giải quyết tranh chấp về hợp đồng mua bán hàng hóa khi có yêu cầu của các bên tranh chấp và tranh chấp đó thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án Đối với trường hợp hợp đồng có yếu tố nước ngoài cần xem xét liệu có hiệp định tương trợ tư pháp nào giữa các nước của hai bên tranh chấp không và quy định của hiệp định về vấn đề này như thế nào Tùy hiệp định tương trợ mà thẩm quyền giải quyết được xác định là Tòa án Việt Nam hay là nước bạn
- Giải quyết tranh chấp về hợp đồng mua bán hàng hóa bằng Tòa án được thực hiện theo một trình tự, thủ tục chặt chẽ thông qua hai cấp xét xử của Tòa án: cấp sơ thẩm và cấp phúc thẩm Bên cạnh đó, để bảo vệ quyền, lợi ích của các bên, bằng thẩm quyền của mình Tòa án có thể thực hiện theo trình tự giám đốc thẩm, tái thẩm để xem xét lại các bản án, quyết định của Tòa án cấp dưới đã có hiệu lực pháp luật Việc áp dụng hệ thống hai cấp xét
xử tạo cơ hội để có thể sửa chữa những thiếu sót, sai lầm của các bản quyết định ở cấp sơ thẩm, tạo tâm lý yên tâm hơn cho các doanh nghiệp Mặc dù các bên có quyền kháng cáo khi không đồng ý với Phán quyết của Tòa án, tuy nhiên, các bên khi tham gia giải quyết tranh chấp bằng Tòa án sẽ tốn chi phí và thời gian vì phán quyết của Tòa án cấp Sơ thẩm thường bị kháng cáo, phải qua nhiều cấp xét xử dẫn đến việc ảnh hưởng đến quá trình sản xuất kinh doanh của các bên Cũng chính vì đặc thù này mà thủ tục của Tòa án thiếu linh hoạt hơn do đã được pháp luật quy định từ trước
- Việc xét xử theo phương thức giải quyết bằng Tòa án có giá trị cưỡng chế thi hành
án Nếu các bên không chấp hành sẽ bị cưỡng chế bởi Cơ quan thi hành án Do đó, khi giải quyết bằng phương thức này, các bên sẽ bắt buộc phải thực hiện theo phán quyết của Tòa
án, quyền và nghĩa vụ của các bên được đảm bảo thực hiện Ngoài ra, theo quy định tại Khoản 2 Điều 15 Bộ luật tố tụng dân sự 2015 có quy định về Tòa án xét xử công khai, điều này sẽ có tính răn đe đối với những doanh nghiệp vi phạm pháp luật trong hoạt động liên quan đến mua bán hàng hóa Các doanh nghiệp khác cũng có thể biết được và phòng tránh được phần nào rủi ro cho doanh nghiệp của mình Tuy nhiên, vì tính chất giải quyết công khai nên những vấn đề về bí mật kinh doanh, uy tín của doanh nghiệp trên thường trường không được đảm bảo Đây là vấn đề rất nhạy cảm mà nhiều doanh nghiệp khi lựa chọn phương thức giải quyết tại Tòa án phải cân nhắc Ngoài ra, khi lựa chọn phương thức giải quyết tại Tòa án sẽ khiến thời gian tố tụng kéo dài và thủ tục tố tụng phức tạp nên các doanh nghiệp thường e ngại
Trang 142 Cơ sở ban hành và nội dung pháp luật điều chỉnh về giải quyết tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa tại Tòa án
2.1 Cơ sở ban hành pháp luật về giải quyết tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa tại Tòa án
Hoạt động thương mại luôn tồn tại hoặc phát sinh những tranh chấp như một tất yếu khách quan Những quan hệ thương mại càng đa dạng và phức tạp thì khả năng phát sinh tranh chấp càng lớn Trong hoạt động thương mại, khi phát sinh tranh chấp đòi hỏi phải được giải quyết một cách minh bạch và hiệu quả; bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các chủ thể, góp phần ngăn ngừa sự vi phạm pháp luật trong hoạt động thương mại
Đã từ lâu pháp luật về hợp đồng chiếm một vị trí rất quan trọng trong hệ thống pháp luật Việt Nam, bởi vì, hầu hết các giao dịch trong xã hội, dù có mục đích kinh doanh hay nhằm đáp ứng các nhu cầu sinh hoạt thông thường, đều liên quan đến hợp đồng, đặc biệt là hợp đồng mua bán hàng hóa Pháp luật về hợp đồng mua bán hàng hóa của Việt Nam hiện nay được quy định trong nhiều văn bản pháp luật khác nhau như Bộ luật Dân sự, Luật Thương mại,, tuy nhiên, Bộ luật Dân sự được coi là luật gốc quy định các vấn đề chung
về hợp đồng, là nền tảng cho pháp luật về hợp đồng, điều chỉnh các quan hệ hợp đồng được xác lập trên nguyên tắc bình đẳng, tự nguyện, tự thoả thuận và tự chịu trách nhiệm Để nền kinh tế thị trường vận hành hiệu quả, hoạt động kinh doanh thương mại diễn ra có trật tự,
do đó cần thiết phải thiết kế và xây dựng một hệ thống các văn bản pháp luật hoàn chỉnh, đồng bộ, có tính thống nhất cao Vì vậy, việc đổi mới và hoàn thiện hệ thống pháp luật về giải quyết tranh chấp thương mại phù hợp với cơ chế thị trường là yêu cầu cần thiết, quan trọng nhằm đảm bảo việc thực hiện chức năng kinh tế của nhà nước
Trong những năm gần đây, việc giải quyết tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa tại Tòa án ngày càng trở nên phổ biển và chiếm tỷ trọng lớn trong các phương thức mà các bên lựa chọn giải quyết khi có tranh chấp phát sinh Để hoạt động giải quyết các vụ án tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa tại Tòa án có hiệu quả, đảm bảo sự công bằng, việc ban hành hệ thống pháp luật hoàn chỉnh là điều cần thiết Nó không chỉ đáp ứng được tinh hình kinh tế - xã hội mà còn tăng cường tính pháp lý về hoạt động của Tòa án trong giải quyết
án, tạo môi trường bình đẳng đối với các chủ thể tham gia đầu tư, kinh doanh
Từ thực tiễn kinh tế xã hội đề ra, việc ban hành hệ thống các quy phạm pháp luật điều chỉnh hoạt động giải quyết tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa còn dựa trên hệ
Trang 15thống các văn bản pháp luật như : Hiến pháp 2013; Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, Bộ luật Dân sự 2015, Luật Thương mại 2005 và các văn bản pháp luật khác
(1) Bộ luật tố tụng dân sự 2015
Luật tố tụng dân sự là ngành luật có vị trí quan trọng trong hệ thống pháp luật của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam Luật tố tụng dân sự là ngành luật trong hệ thống pháp luật, bao gồm hệ thống các quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ phát sinh trong tố tụng dân sự để bảo đảm việc giải quyết vụ việc dân sự và thi hành án dân sự trong tòa án Khi cá nhân, pháp nhân hay chủ thể khác có quyền, lợi ích hợp pháp bị xâm phạm thì theo thủ tục do pháp luật quy định chủ thể đó được khởi kiện vụ án dân sự để yêu cầu Tòa án bảo vệ Và Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 là cơ sở pháp lý quan trọng để Tòa án giải quyết vụ án các vụ án và bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các cá nhân, pháp nhân Điểm đặc thù khi giải quyết tranh chấp thương mại tại Toà án là phải tuân thủ những nguyên tắc cơ bản được quy định tại Chương II về nguyên tắc cơ bản trong xét xử, Chương III về thẩm quyền của Tòa án trong Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, từ Điều 3 đến Điều 45 trong đó
có nguyên tắc thẩm phản và hội thẩm nhân dẫn xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật (Điều 12) Dựa vào nội dung các tranh chấp thương mại mà Toà án có thẩm quyền giải quyết theo định tại Điều 30 bộ luật Tố tụng dân sự 2015 về Những tranh chấp về kinh doanh, thương mại thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 cho đến nay thì những quy định tại bộ luật này vẫn đang phát huy tác dụng tích cực của nó
(2) Bộ luật dân sự 2015
Bộ luật Dân sự năm 2015 có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/01/2017 và thay thế Bộ luật Dân sự năm 2005 Bộ luật Dân sự năm 2015 là đạo luật cơ bản của hệ thống pháp luật điều chỉnh các quan hệ dân sự được hình thành trên cơ sở bình đẳng, tự do ý chí, độc lập
về tài sản và tự chịu trách nhiệm của các bên tham gia quan hệ đó Đây là dấu mốc quan trọng đánh dấu sự phát triển của pháp luật dân sự ở nước ta Luật thương mại 2005 không đưa ra định nghĩa về hợp đồng mua bán hàng hóa trong thương mại, nhưng có thể dựa vào khái niệm hợp đồng mua bán tài sản trong luật dân sự để xác định bản chất của hợp đồng mua bán hàng hóa Theo Điều 430 Bộ luật dân sự 2015, Hợp đồng mua bán tài sản là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên bán chuyển quyền sở hữu tài sản cho bên mua và bên mua trả tiền cho bên bán Từ đó cho thấy, hợp đồng mua bán hàng hóa trong thương mại một dạng cụ thể của hợp đồng mua bán tài sản Điểm phân biệt giữa hợp đồng mua bán hàng hóa trong thương mại và hợp đồng mua bán tài sản khác là: đối tượng hàng hóa, và mục đích sinh lời
Trang 16Bộ luật Dân sự 2015 có vai trò vô cùng quan trọng trong hệ thống pháp luật Việt Nam Nó thể hiện những quan điểm cơ bản nhất của nhà nước trong điều chỉnh các quan
hệ pháp luật tư, thiết lập các nguyên tắc quan trọng nhất cho các mối quan hệ trong đời sống dân sự, đồng thời xác lập các quy tắc điều chỉnh cho quan hệ dân sự phát sinh Nguyên tắc tự do, tự nguyện cam kết thỏa thuận trong hợp đồng đặc biệt là hợp đồng mua bán hàng hóa trong Bộ luật Dân sự 2015 đảm bảo an toàn pháp lý và tạo môi trường lành mạnh và
ổn định cho sự phát triển kinh tế - xã hội, sự tự do, tự nguyện cam kết, thỏa thuận của các chủ thể được pháp luật bảo đảm, nếu cam kết, thỏa thuận đó không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội Trong hợp đồng mua bán hàng hóa, các bên có thoả thuận về các phương thức thực hiện nghĩa vụ, các thoả thuận đó cố giá trị pháp lí đối với các bên tham gia hợp đồng Mọi cam kết và thoả thuận hợp pháp được pháp luật bảo hộ Các đạo luật điều chỉnh các khía cạnh khác nhau của quan hệ pháp luật tư cũng đều phải căn cứ vào các nguyên tắc chung của bộ luật Dân sự 2015 Vì lí do trên mà khi Tòa án tiến hành giải quyết các tranh chấp về kinh tế, thương mại cũng cần phải xem xét, cần nhắc tới các quy định trong bộ luật này
(3) Luật thương mại 2005
Bên cạnh Bộ luật dân sự 2015 và thủ tục tố tụng trong Bộ luật tố tụng dân sự 2015
là nguồn luật quan trọng để Toà án áp dụng khi xét xử tranh chấp đưa đến tại Tòa án, thì đối với hoạt động quản lí lĩnh vực và thương mại tại Tòa án còn phải tuân theo quy định tại luật Thương mại 2005 Luật thương mại 2005 điều chỉnh quyền và nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng mua bán hàng hóa, là cơ sở tòa án xác định bên nào là bên vi phạm tranh chấp Đồng thời, khi xảy ra tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa thì các bên có thể giải quyết bằng con đường thương lượng, Hòa giải giữa các bên do một cơ quan, tổ chức hoặc
cá nhân được các bên thỏa thuận chọn làm trung gian hòa giải, giải quyết tại Trọng tài
thương mại, giải quyết tại Tòa án Đối với những vấn đề phát sinh trong tranh chấp từ quan
hệ thương mại thì thứ tự ưu tiên áp dụng luật là Luật chuyên ngành và Luật thương mại Luật thương mại là cơ sở pháp lý để phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần theo
cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa Nếu như không có quy định về vấn đề phát sinh này thì áp dụng quy định của Bộ luật Dân sự 2015
Trang 172.2 Nội dung pháp luật về giải quyết tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa tại Tòa án
2.2.1 Điều kiện thụ lý tranh chấp về hợp đồng mua bán hàng hóa
Tòa án chỉ tiến hành thụ lý vụ án dân sự khi có đủ điều kiện thụ lý, theo đó, điều kiện thụ lý vụ án dân sự gồm điều kiện khởi kiện vụ án dân sự và điều kiện khác theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự Do đó, điều kiện thụ lý vụ án tranh chấp về hợp đồng mua bán hàng hóa cũng phải tuân thủ theo quy định về điều kiện thụ lý vụ án dân sự được quy định trong Bộ luật tố tụng dân sự 2015
● Nhận diện các loại tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa được Tòa án thụ lý
- Tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa liên quan đến chủ thể ký kết hợp
đồng
Đây là tranh chấp do người ký kết hợp đồng mua bán hàng hóa của các bên không
có thẩm quyền ký: Không phải là người đại diện theo pháp luật, không được ủy quyền hoặc
là người đại diện theo pháp luật nhưng không có thẩm quyền ký kết Trên thực tế có nhiều hợp đồng được ký bởi người không có thẩm quyền và khi xảy ra xung đột
Ví dụ: Có trường hợp công ty A vì không muốn tiếp tục thực hiện hợp đồng đã ký với Công ty B nên lấy lý do người ký không đúng thẩm quyền để thoái thác trách nhiệm Điều này gây nhiều thiệt hại cho đối tác là Công ty B, đặc biệt với những hợp đồng có giá trị lớn thì thiệt hại là không hề nhỏ Công ty A không chịu bồi thường thiệt hại cho đối tác
vì cho rằng người ký hợp đồng không nhân danh công ty, còn cá nhân ký kết hợp đồng hoặc thoái thác trách nhiệm hoặc không có khả năng tự chịu trách nhiệm đối với thiệt hại quá lớn của đối tác
Tranh chấp có thể do Người ký không phải là đại diện theo pháp luật của công ty,
có ủy quyền hợp pháp nhưng thực hiện ký hợp đồng vượt quá phạm vi ủy quyền
- Tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa do giao hàng không đúng đối tượng ghi nhận trong hợp đồng
Đối tượng của hợp đồng mua bán hàng hóa là hàng hóa Bên bán phải giao hàng, chứng từ theo thỏa thuận trong hợp đồng về số lượng, chất lượng, cách thức đóng gói, bảo quản và các quy định khác trong hợp đồng Các bên tham gia thường tranh chấp về hàng hóa không đúng đối tượng, số lượng hàng hóa đã thỏa thuận, về chất lượng hàng hóa không đúng, không đáp ứng được theo tiêu chuẩn, tranh chấp đơn vị tính, Điều này có thể do quy
Trang 18định trong hợp đồng không cụ thể và chi tiết dẫn đến hiểu lầm hoặc do một bên lợi dụng sơ
hở để không thực hiện nghĩa vụ
- Tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa do bên bán chậm giao hàng
Theo hợp đồng mua bán, Bên bán có nghĩa vụ giao hàng đúng địa điểm va thời điểm giao hàng đã thoả thuận trong hợp đồng Trường hợp chỉ có thỏa thuận về thời hạn giao hàng mà không xác định thời điểm giao hàng cụ thể thì bên bán có quyền giao hàng vào bất
kỳ thời điểm nào trong thời hạn đó và phải thông báo trước cho bên mua
Trên thực tế, ngoài những trường hợp vi phạm nghĩa vụ giao hàng do ý chí chủ quan của bên bán thì có những trường hợp vi phạm nhưng được miễn trách nhiệm Đó là khi giao hàng chậm do sự kiện bất khả kháng Trong thời gian vừa qua, đã xảy ra không ít những tranh chấp thương mại phát sinh do giao hàng chậm bởi chịu ảnh hưởng của dịch bệnh Covid-19, khi dịch bệnh lây lan nhanh ở cả trong và ngoài nước
- Tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa về giá cả, phương thức thanh toán
Bên mua có nghĩa vụ thanh toán tiền mua hàng và nhận hàng và tuân thủ các phương thức thanh toán, thực hiện việc thanh toán theo trình tự, thủ tục đã thỏa thuận trong hợp đồng Việc bên mua chậm nghĩa vụ thanh toán do ý chí chủ quan của bên mua sẽ dẫn đến tranh chấp, xung đột với bên bán Hậu quả của vi phạm này có thể dẫn đến việc bên bán có thể đơn phương chấm dứt hợp đồng, lấy lại hàng hóa đã giao hoặc trách nhiệm chịu phạt hợp đồng, chịu lãi chậm trả của bên mua
Ngoài ra, thực tế vẫn xảy ra một số rủi ro khác như giá khi thị trường biến động, đồng tiền làm phương thức thanh toán, tranh chấp về chi phí bốc dỡ, vận chuyển lưu kho bãi, cách thức giao nhận tiền, phương thức bảo đảm hợp đồng bằng phương thức bảo lãnh
- Tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa liên quan đến vấn đề bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng
Đối với vấn đề bồi thường thiệt hại: khác với vấn đề phạt vi phạm, trách nhiệm bồi thường thiệt hại do vi phạm nghĩa vụ thực hiện Hợp đồng phát sinh ngay cả trong trường hợp các bên không có thỏa thuận nào về vấn đề này Điều 302 Luật thương mại 2005: “Bồi thường thiệt hại là việc bên vi phạm bồi thường những tổn thất do hành vi vi phạm hợp đồng gây ra cho bên bị vi phạm”
Có ba điều kiện phát sinh trách nhiệm bồi thường hợp đồng thương mại (Điều 303 Luật Thương Mại) như sau:
Trang 19• Có hành vi vi phạm hợp đồng;
• Có thiệt hại thực tế xảy ra;
• Có mối quan hệ nhân quả giữa hành vi vi phạm hợp đồng và thiệt hại xảy ra
• Mức bồi thường thiệt hại mà căn cứ vào lỗi của các bên và mức thiệt hại thực tế xảy ra
Khi phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại, các bên thường xảy ra tranh chấp trong vấn đề xác định mức bồi thường cho bên bị vi phạm, đặc biệt là khi phát sinh trách nhiệm với bên thứ ba
- Tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa về nghĩa vụ bảo hành hàng hoá
Trường hợp hàng hoá mua bán có bảo hành thì bên bán phải chịu trách nhiệm bảo hành hàng hoá đó theo nội dung và thời hạn đã thỏa thuận Các tranh chấp về vấn đề bảo hành hàng hóa thường phát sinh do các bên không thỏa thuận cụ thể về thời hạn bảo hành cũng như phạm vi bảo hành, các trường hợp từ chối bảo hành do lỗi của bên mua
● Chủ thể khởi kiện có quyền khởi kiện:
Chủ thể khởi kiện vụ án tranh chấp về hợp đồng mua bán hàng hóa là người có đủ năng lực hành vi dân sự hoặc cơ quan, tổ chức thành lập hợp pháp và có quyền khởi kiện
theo quy định tại Điều 186 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015: “Cá nhân,cơ quan, tổ chức
có quyền tự mình hoặc thông qua người đại diện hợp pháp khởi kiện vụ án (sau đây gọi chung là người khởi kiện) tại Toà án có thẩm quyền để yêu cầu bảovệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình.” Trong quan hệ mua bán, khi xảy ra tranh chấp, những phát sinh bất đồng với nội dung hợp đồng đã được ký kết, hoặc bên kia không thực hiện đầy đủ nghĩa vụ như trong ký kết của hợp đồng, chủ thể có quyền khởi kiện bên vi phạm
● Các điều kiện khác:
Ngoài các điều kiện trên, để vụ án được thụ lý thì đơn khởi kiện phải thỏa mãn các nội dung cơ bản theo quy định tại khoản 4 Điều 189 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 và kèm theo đơn khởi kiện, người khởi kiện phải cung cấp chứng cứ, các tài liệu cho Tòa án
để chứng minh cho những yêu cầu của mình là có căn cứ và hợp pháp Chứng cứ là căn cứ
để chứng minh những nội dung khởi kiện của bên khởi kiện đúng thực tế Chứng cứ phải phù hợp với tình tiết khách quan của vụ án, phù hợp với quy định của pháp luật và phù hợp với trình tự thủ tục pháp luật Ví dụ như trong tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa có tài liệu chứng minh bên vi phạm không thanh toán hàng hóa, giao hàng không đúng chất
Trang 20lượng số lượng sản phẩm, không giao hàng hóa đúng tiến độ như trong hợp đồng… những tài liệu này là cơ sở cho việc xác định nghĩa vụ, giải quyết tranh chấp của bên bị đơn nên cần phải nêu trong đơn khởi kiện để cơ quan tiến hành tố tụng nắm bắt được
Người khởi kiện còn phải nộp tiền tạm ứng án phí nếu thuộc đối tượng có nghĩa vụ nộp tiền tạm ứng án phí Án phí là khoản thu vào cho ngân sách nhà nước đảm bảo chi phí liên quan đến việc giải quyết vụ việc dân sự tại Tòa án mà đương sự phải nộp khi thực hiện quyền khởi kiện Mức án phí khi giải quyết tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa bằng Tòa án là nghĩa vụ của đương sự khi yêu cầu Tòa án giải quyết vụ việc Mức án phí được pháp luật quy định cụ thể trong từng loại tranh chấp và việc nộp tiền tạm ứng án phí là điều kiện bắt buộc khi người nộp đơn khởi kiện yêu cầu giải quyết tranh chấp đó
Sau khi nhận đơn khởi kiện và tài liệu, chứng cứ kèm theo, nếu xét thấy vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án thì Thẩm phán phải thông báo ngay cho người khởi kiện biết để họ đến Tòa án làm thủ tục nộp tiền tạm ứng án phí trong trường hợp họ phải nộp tiền tạm ứng án phí Thẩm phán dự tính số tiền tạm ứng án phí, ghi vào giấy báo và giao cho người khởi kiện để họ nộp tiền tạm ứng án phí Trong thời hạn 07 ngày, kể từ ngày nhận được giấy báo của Tòa án về việc nộp tiền tạm ứng án phí, người khởi kiện phải nộp tiền tạm ứng án phí và nộp cho Tòa án biên lai thu tiền tạm ứng án phí Thẩm phán thụ lý
vụ án khi người khởi kiện nộp cho Tòa án biên lai thu tiền tạm ứng án phí Trường hợp người khởi kiện được miễn hoặc không phải nộp tiền tạm ứng án phí thì Thẩm phán phải thụ lý vụ án khi nhận được đơn khởi kiện và tài liệu, chứng cứ kèm theo
2.2.2 Thẩm quyền giải quyết
Có nhiều biện pháp giải quyết tranh chấp hợp đồng như hòa giải, thương lượng, thong qua trung tâm trọng tài, Tòa án,… nhưng biện pháp giải quyết tại Tòa án vẫn thường được nhắc đến nhiều nhất và mang lại hiệu quả triệt để nhất Pháp luật đã có những quy định cụ thể về thẩm quyền giải quyết tranh chấp thương mại tại Tòa án Thẩm quyền của Tòa án về giải quyết các tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa được pháp luật phân định theo vụ việc, theo cấp Tòa án, theo lãnh thổ, theo sự lựa chọn của nguyên đơn
Thứ nhất, thẩm quyền giải quyết tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa của Tòa
án theo vụ việc
Xác định thẩm quyền theo vụ việc là ta xác định vụ việc tranh chấp đó có thuộc thẩm quyền giải quyết tranh chấp của Tòa án hay không Những tranh chấp về hợp đồng mua
Trang 21bán hàng hóa thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án được quy định tại điều 30 Bộ luật tố tụng dân sự 2015 Người làm đơn khỏi kiện xác định thẩm quyền giải quyết tranh chấp theo nguyên tắc ưu tiên áp dụng theo thỏa thuận hợp pháp của các bên ghi nhận tại hợp đồng mua bán hàng hóa, đồng thời, bên khởi kiện yêu cầu giải quyết tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa khi lựa chọn cơ quan giải quyết tranh chấp phải đưa ra chứng cứ, xuất trình căn cứ pháp luật chứng minh quyền được yêu cầu giải quyết tranh chấp và bị đơn được quyền phản đối việc giải quyết tranh chấp hợp đồng của cơ quan tài phán đang thụ lý vụ
án, và phải chứng minh căn cứ mình đưa ra là đúng
Thứ hai, thẩm quyền giải quyết tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa của Tòa án theo cấp xét xử
Luật tổ chức Tòa án nhân dân 2014 chia thẩm quyền giải quyết tranh chấp của Tòa
án thành các cấp như sau:
● Tòa án nhân dân tối cao;
● Tòa án nhân dân cấp cao;
● Tòa án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (gọi chung là Tòa án nhân dân cấp tỉnh);
● Tòa án nhân dân quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (gọi chung là Tòa án nhân dân cấp huyện);
● Tòa án quân sự
Việc xác định đúng thẩm quyền của Tòa án theo cấp chính là việc xác định xem đối với một vụ án về tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa cụ thể Tòa án nhân dân cấp huyện hay Tòa án nhân dân cấp tỉnh sẽ có thẩm quyền giải quyết Việc xác định thẩm quyền của Tòa án theo cấp được quy định tại Điều 35 về thẩm quyền của Tòa án nhân dân cấp huyện
và điều 37 về Thẩm quyền của Tòa án nhân dân cấp tỉnh của Bộ luật Tố tụng dân sự năm
2015 dựa trên tính chất phức tạp của từng loại vụ việc, dựa vào điều kiện cơ sở vật chất, trình độ chuyên môn nghiệp vụ thực tế của đội ngũ cán bộ Tòa án Có thể nhận thấy thẩm quyền của Tòa án cấp huyện và cấp tỉnh được phân định rõ ràng, tránh tình trạng vượt cấp hay thụ lý nhầm
Thứ ba, thẩm quyền giải quyết tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa của Tòa án theo lãnh thổ
Trang 22Thẩm quyền giải quyết các tranh chấp hợp đồng của Tòa án theo lãnh thổ được xác định như sau:
- Tòa án nơi bị đơn cư trú, làm việc, nếu bị đơn là cá nhân hoặc nơi bị đơn có trụ sở, nếu bị đơn là cơ quan, tổ chức có thẩm quyền giải quyết theo thủ tục sơ thẩm những tranh chấp về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động quy định tại các Điều 26, 28, 30 và 32 của Bộ luật này;
- Các đương sự có quyền tự thỏa thuận với nhau bằng văn bản yêu cầu Tòa án nơi
cư trú, làm việc của nguyên đơn, nếu nguyên đơn là cá nhân hoặc nơi có trụ sở của nguyên đơn, nếu nguyên đơn là cơ quan, tổ chức giải quyết những tranh chấp về dân sự, hôn nhân
và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động quy định tại các điều 26, 28, 30 và 32 của
Bộ luật này;
Như vậy, đây là sự phân định thẩm quyền giải quyết sơ thẩm giữa các Tòa án cũng cấp Việc phân định thẩm quyền theo lãnh thổ xuất phát từ việc tổ chức hệ thống Tòa án ở nước ta là theo địa giới hành chính, nhằm tránh được sự chồng chéo về thẩm quyền sở thẩm của các Tòa án cùng cấp Hơn nữa, việc phân định thẩm quyền theo lãnh thổ nhằm xác định Tòa án có điều kiện tốt nhất giải quyết các vụ án về tranh chấp kinh doanh thương mại nói chung, giải quyết tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa nói riêng Vì vậy, việc phân định thẩm quyền của Tòa án theo lãnh thổ sẽ đảm bảo việc giải quyết vụ, việc được nhanh chóng, đúng dẫn, thuận tiện cho các đương sự khi tham gia tố tụng cũng như việc thi hành án
Mục đích của loại thẩm quyền giải quyết tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa theo lãnh thổ là xác định Tòa án cụ thể có thêm quyền giải quyết vụ việc theo thủ tục sơ thẩm với điều kiện nhất định Đó là các điều kiện dựa trên dấu hiệu về lãnh thổ, liên quan đến nơi cư trú của đương sự và nơi đặt trụ sở của Tòa án
Tóm lại, thẩm quyền theo lãnh thổ là việc xác định cụ thể Tòa án nào có quyền giải quyết các tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa theo trình tự sơ thẩm Về nguyên tắc, Tòa
án nơi bị đơn cư trú hoặc có trụ sở hoặc nơi làm việc của bị đơn là Tòa án có thẩm quyền giải quyết Lưu ý: Trường hợp vụ án dân sự đã được Tòa án thụ lý và đang giải quyết theo đúng quy định của Bộ luật này về thẩm quyền của Tòa án theo lãnh thổ thì phải được Tòa
án đó tiếp tục giải quyết mặc dù trong quá trình giải quyết vụ án có sự thay đổi nơi cư trú, trụ sở hoặc địa chỉ giao dịch của đương sự
Trang 23Thứ tư, thẩm quyền giải quyết tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa của Tòa án theo sự lựa chọn của nguyên đơn
Nguyên đơn có quyền lựa chọn Tòa án giải quyết tranh chấp hợp đồng về mua bán hàng hóa trong các trường hợp được quy định tại khoản 1 Điều 40 Bộ luật tố tụng dân sự
2015 Quy định này hoàn toàn phù hợp với thực tiễn, tạo điều kiện thuận lợi, linh hoạt cho chủ thể khởi kiện thực hiện việc lựa chọn Tòa án có thẩm quyền giải quyết cho mình, trao cho họ sự chủ động trong việc lựa chọn Tòa án giải quyết tranh chấp trong một số trường hợp nhất định như: Nguyên đơn không biết nơi cư trú, làm việc, trụ sở của bị đơn; tranh chấp về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng;… Sau khi xác định đúng thẩm quyền giải quyết của Tòa án thì Tòa án có thẩm quyền nhận đơn khởi kiện và xem xét đơn khởi kiện Trường hợp đơn khỏi kiện hợp lệ thì Tòa án thông báo cho nguyên đơn về việc nộp lệ phí
và tiền tạm ứng án phí Sau khi nhận được biên lai phí và tiền tạm ứng án phí thì Tòa án thụ lý vụ án
3 Nguyên tắc về pháp luật điều chỉnh giải quyết tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa tại Tòa án
3.1 Nguyên tắc bình đẳng trước pháp luật của thương nhân trong hoạt động mua bán hàng hóa
Quyền bình đẳng của công dân nói chung và của thương nhân nói riêng được pháp luật hiện hành ghi nhận trong Hiến pháp 2013 cũng như các văn bản luật Cụ thể:
- Điều 16 Hiến pháp năm 2013 quy đinh: “Mọi người đều bình đẳng trước pháp luật; không ai bị phân biệt đối xử trong đời sống chính trị, dân sự, kinh tế, văn hoá, xã hội”;
- Điều 10 Luật Thương mại năm 2005 quy định: “Thương nhân thuộc mọi thành phần kinh tế bình đẳng trước pháp luật trong hoạt động thương mại”;
- Luật Doanh nghiệp năm 2020 tiếp cận quyền bình đẳng của doanh nghiệp (thương nhân) như là một sự bảo đảm của Nhà nước đối với doanh nghiệp (thương nhân)
Theo tinh thần của các quy định pháp luật về quyền bình đẳng của thương nhân trong hợp đồng mua bán hàng hóa, để đảm bảo cho thương nhân thực hiện quyền tự do, Nhà nước thừa nhận sự bình đẳng giữa các thương nhân (doanh nghiệp) đồng thời bảo đảm quyền bình đẳng giữa các thương nhân (doanh nghiệp) Trong quá trình hoạt động của mình,
Trang 24thương nhân sẽ tham gia vào các quan hệ trao đổi, mua bán trên thị trường, ký kết các hợp đồng mua bán hàng hóa Các quan hệ này nảy sinh không chỉ giữa các thương nhân (doanh nghiệp) trong một thành phần kinh tế mà cả giữa các thương nhân (doanh nghiệp) thuộc các thành phần kinh tế khác nhau Các quan hệ đó có tính chất vừa hợp tác với nhau, vừa cạnh tranh lẫn nhau Sự hợp tác và cạnh tranh đó chỉ có thể phát triển một cách lành mạnh trong điều kiện các thương nhân (doanh nghiệp) đều bình đẳng với nhau trước pháp luật
Quyền bình đẳng trước pháp luật trong hoạt động mua bán hàng hóa được hiểu là các thương nhân (doanh nghiệp) thuộc tất cả các thành phần kinh tế, trong cùng điều kiện, hoàn cảnh như nhau, có quyền và nghĩa vụ như nhau Quyền bình đẳng giữa các thương nhân còn có thể được xem xét trong một mối quan hệ hợp đồng song vụ mua bán hàng hóa Xét trong một mối quan hệ hợp đồng song vụ mua bán hàng hóa, quyền bình đẳng của các thương nhân tham gia quan hệ đó được hiểu là quyền cùa thương nhân này sẽ được đảm bảo bằng nghĩa vụ tương ứng của phía bên kia và ngược lại
Nội dung quyền bình đẳng giữa các thương nhân (doanh nghiệp) trong hoạt động mua bán hàng hóa là phạm vi hoạt động của thương nhân cần được đối xử bình đẳng Nội dung này được thể chế hoá trong các quy định pháp luật và khi nội dung của quyên này được quy định bằng pháp luật sẽ tạo cơ sở cho các chù thể xã hội ứng xử thống nhất Là một quyền chủ thể của thương nhân (doanh nghiệp) quyền bình đẳng giữa các thương nhân (doanh nghiệp) đòi hỏi bình đẳng trong suốt thời gian tồn tại của nó, từ khi thành lập, đi vào hoạt động thương mại (kinh doanh), ký kết các hợp đồng mua bán hàng hóa và khi giải thể, phá sản doanh nghiệp/thương nhân Trong đó, thương nhân bao gồm tổ chức kinh tế được thành lập hợp pháp, cá nhân hoạt động thương mại một cách độc lập, thường xuyên
và có đăng ký kinh doanh Thương nhân có quyền mua bán hàng hóa, tại các địa bàn, dưới các hình thức và theo các phương thức mà pháp luật không cấm Quyền mua bán hàng hóai hợp pháp của thương nhân được Nhà nước bảo hộ Nhà nước thực hiện độc quyền Nhà nước có thời hạn về hoạt động thương mại đối với một số hàng hóa hoặc tại một số địa bàn
để bảo đảm lợi ích quốc gia Chính phủ quy định cụ thể danh mục hàng hóa, địa bàn độc quyền Nhà nước
Nguyên tắc bình đẳng trước pháp luật trong hoạt động mua bán hàng hóa của thương nhân nhân là quy định liên quan đến lĩnh vực kinh doanh thương mại được ghi nhận lần đầu tiên tại Luật thương mại năm 1997 Bình đẳng trước pháp luật hay quyền bình đẳng trước pháp luật là những nguyên lý của pháp luật được thể hiện qua các quy định cụ thể
Trang 25(các quy phạm pháp luật) thiết lập về quyền được đối xử một cách như nhau, công bằng giữa mọi công dân với nhau Theo đó, mọi công dân dù giới tính là nam hay nữ, thuộc các dân tộc, tín ngưỡng, tôn giáo, thành phần, địa vị xã hội khác nhau trong một quốc gia đều không bị phân biệt đối xử trong việc hưởng quyền, nghĩa vụ và chịu trách nhiệm pháp lý theo quy định Và trong hoạt động thương mại nói chung, mua bán hàng hóa nói riêng cũng vậy, giữa các thương nhân cũng sẽ có sự bình đẳng với nhau trước pháp luật, không có sự thiên vị hoặc phân biệt đối xử Điều này là phù hợp với quyền công dân và quy định pháp luật hiện hành
3.2 Nguyên tắc tự do, tự nguyện thoả thuận trong hoạt động mua bán hàng hóa
Quyền tự do kinh doanh là một bộ phận hợp thành trong hệ thống các quyền tự do của công dân Cùng với việc ghi nhận về quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân trong chương 2 Hiến pháp năm 2013 (từ Điều 14 đến Điều 49), Điều 33 Hiến
pháp ghi nhận: “Mọi người có quyền tự do kinh doanh trong những ngành nghề mà pháp luật không cấm” Cụ thể hoá Hiến pháp, khoản 1 Điều 7 Luật Doanh nghiệp 2020 quy định
về quyền của doanh nghiệp “Tự do kinh doanh trong những ngành, nghề mà luật không cấm” Bên cạnh đó, khoản 2 Điều 6 Luật Thương mại năm 2005 cũng quy định: “Thương nhân có quyền hoạt động thương mại trong các ngành nghề, tại các địa bàn, dưới các hình thức và theo các phương thức mà pháp luật không cấm ”
Như vậy, ở đây quyền tự do của thương nhân trong hoạt động mua bán hàng hóa được tiếp cận dưới góc độ quyền chủ thể Dưới góc độ quyền chủ thể, quyền tự do trong hoạt động mua bán hàng hóa của thương nhân được hiểu là thương nhân được thực hiện các hoạt động mua bán hàng hóa mà pháp luật không cấm Các bên có quyền tự do thỏa thuận nhưng không được trái quy định của pháp luật, thuần phong mỹ tục và đạo đức xã hội để xác lập các quyền và nghĩa vụ của các bên trong hoạt động thương mại nói chung, hoạt động mua bán hàng hóa nói riêng Nhà nước tôn trọng và bảo hộ các quyền đó Trong hoạt động mua bán hàng hóa, các bên hoàn toàn tự nguyện, không bên nào được thực hiện hành vi áp đặt, cưỡng ép, đe doạ, ngăn cản bên nào Ngoài việc chỉ được thực hiện các hoạt động mua bán hàng hóa mà pháp luật không cấm, khi thực hiện quyền tự do này, thương nhân phải tuân thủ những điều kiện pháp luật quy định hoặc phải có một số nghĩa vụ tương ứng
Trang 263.3 Nguyên tắc áp dụng thói quen trong hoạt động mua bán hàng hóa được thiết lập giữa các bên
Thói quen trong hoạt động thương mại căn cứ tại khoản 3 điều 3 Luật thương mại
2005 là quy tắc xử sự có nội dung rõ ràng được hình thành và lặp lại nhiều lần trong một thời gian dài giữa các bên, được các bên mặc nhiên thừa nhận để xác định quyền và nghĩa
vụ của các bên trong hợp đồng thương mại Trừ trường hợp có thoả thuận khác, các bên được phép áp dụng thói quen trong hoạt động thương mại mà đã thiết lập từ lâu nhưng không được trái với quy định của pháp luật
Đặc điểm của thói quen trong hoạt động thương mại bao gồm những quy tắc xử sự chung, có nội dung rõ ràng, được hình thành và lặp lại nhiều lần trong một thời gian dài giữa các bên Đồng thời được các bên mặc nhiên thừa nhận để xác định quyền và nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng thương mại Hơn nữa thói quen đó cần phải không trái với thuần phong mỹ tục và các nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam Như vậy, thói quen trong hoạt động thương mại nói chung, hoạt động mua bán hàng hóa nói riêng sẽ được áp dụng trong trường hợp các bên không có thỏa thuận khác và các bên đã có những xử sự nội dung rõ ràng, lập đi lập lại giữa các bên và được các bên mặc nhiên thừa nhận nó Vậy nên, khi giải quyết tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa, đây là cơ sở có sẵn, hiển nhiên để Tòa án giải quyết khi xảy ra tranh chấp