1. Trang chủ
  2. » Tất cả

(Luận văn thạc sĩ khoa học chính trị) lý luận phê bình văn học của lan khai, thạch lam, vũ bằng trong giai đoạn 1930 1945

104 4 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Lý luận phê bình văn học của Lan Khai, Thạch Lam, Vũ Bằng trong giai đoạn 1930-1945
Tác giả Lan Khai, Thạch Lam, Vũ Bằng
Trường học University of Social Sciences and Humanities, Vietnam National University Hà Nội
Chuyên ngành Khoa học Chính trị
Thể loại Luận văn Thạc sĩ
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 104
Dung lượng 167,49 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

PHẦN MỞ ĐẦU 1 LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI 1 1 Văn học Việt Nam 1930 – 1945 là giai đoạn có vị trí vô cùng quan trọng trong quá trình phát triển của lịch sử văn học dân tộc Đây là thời kì phát triển rực rỡ nhất[.]

Trang 1

1.2 Trong văn đàn Việt Nam xuất hiện một kiểu tác giả đặc biệt vừa sáng táclại vừa hoạt động lí luận phê bình và lĩnh vực nào cũng có đóng góp đáng ghi nhận.Nỗi lên trong số tác giả đó có Lan Khai, Thạch Lam, Vũ Bằng Các ông vừa lànhững nhà văn tiêu biểu trong giai đoạn 1930 – 1945 với những tác phẩm xuất sắclại đồng thời là những nhà lí luận phê bình Hoạt động lí luận phê bình của ba nhànhà văn nói trên có ảnh hưởng mạnh mẽ tới hoạt động văn học đương thời LanKhai, Thạch Lam, Vũ Bằng coi lí luận phê bình như bổn phận, trách nhiệm củamình Thành tựu của các ông là kết quả của quá trình lao động sáng tạo có phongcách và phương pháp nghiên cứu riêng Chính vì lẽ đó, cần phải có thêm nhữngcông trình nghiên cứu về đóng góp của ba nhà văn đối với sự nghiệp cách tân vănhọc trên lĩnh vực lý luận phê bình trong giai đoạn 1930 - 1945.

1.3 Trên thực tế, giữa lí luận phê bình và sáng tác luôn có sự tác động qualại, thúc đẩy nhau cùng phát triển Hoạt động lý luận phê bình văn học luôn có tácdụng định hướng cho sáng tác và tiếp nhận văn học Nghiên cứu những đóng góp vềmặt lý luận phê bình văn học của Lan Khai, Thạch Lam, Vũ Bằng trong giai đoạn

1930 - 1945 góp phần ghi nhận công lao hoạt động văn học của những tài năng đặcbiệt trong sự nghiệp cách tân nền văn học nước nhà nửa đầu thế kỉ XX

1.4 Việc nghiên cứu những đóng góp của lý luận phê bình trong đời sốngvăn học nói chung và sự nghiệp cách tân văn học giai đoạn 1930 - 1945 nói riêng

Trang 2

trên cơ sở khảo sát thành tựu của những cây bút như Lan Khai, Thạch Lam, VũBằng sẽ giúp chúng ta có thêm những kiến thức bổ ích phục vụ cho công tác giảngdạy văn học nói chung, giảng dạy lý luận phê bình nói riêng

2 LỊCH SỬ VẤN ĐỀ

2.1 Khái lược hoạt động nghiên cứu về Lan Khai

Lan Khai là một trong những nhà văn sớm được các nhà phê bình chú ý vàđánh giá cao từ những tác phẩm đầu tay Từ năm 1935, nhà nghiên cứu Trương Tửu

đã đặc biệt quan tâm đến mảng Truyện đường rừng và các tiểu thuyết của Lan Khai.

Trương Tửu gọi “Lan Khai là nghệ sĩ của rừng rú”, là “đàn anh trong thế giới sơnlâm”, là “cây đa cổ thụ giữa cánh đồng bát ngát” [54,12]

Năm 1938, với việc cho xuất bản hai tác phẩm Lầm than và Cô Dung, Lan

Khai thực sự đã gây được sự thu hút mạnh mẽ đối với độc giả Nhiều nhà nghiêncứu như Trần Huy Liệu, Thiều Quang, Vũ Ngọc Phan đều đánh giá cao hai tácphẩm này cả về mặt nội dung và nghệ thuật

Đến năm 1941, khi Nhà xuất bản Đời mới ấn hành cuốn Mực mài nước mắt

của Lan Khai, nhà nghiên cứu Phạm Mạnh Phan đã có bài phê bình trên Tạp chí TriTân, với những nhận xét, đánh giá tích cực về tác phẩm này Năm 1942, trong bộ

sách Nhà văn hiện đại, nhà nghiên cứu Vũ Ngọc Phan đã lần lượt giới thiệu từng bộ phận sáng tác của Lan Khai, từ Truyện đường rừng cho đến tiểu thuyết lịch sử và

tiểu thuyết xã hội Nhìn chung Vũ Ngọc Phan đánh giá rất cao tài năng, phẩm chấtsáng tạo nghệ thuật của Lan Khai, trân trọng ghi nhận những thành tựu đặc sắctrong sáng tác của ông và gọi ông là “lão tướng trong làng tiểu thuyết” thời bấy giờ

Tóm lại, có thể thấy trước Cách mạng Thánh Tám, sáng tác của Lan Khai đãthu hút sự chú ý của các nhà lí luận, phê bình Điều đó đã chứng tỏ vị trí quan trọng

và thành công đáng ghi nhận của Lan Khai trên văn đàn lúc bấy giờ

Sau cách mạng Tháng Tám, trong khoảng hai mươi năm (1945 - 1964), dohoàn cảnh chiến tranh sự nghiệp văn học của Lan Khai bị lãng quên nhiều tác phẩm

bị thất lạc Từ năm 1965 trở đi hoạt động nghiên cứu về Lan Khai được chú ý trở lại

nhưng không đồng bộ trên cả nước Tác giả Phạm Thế Ngũ trong cuốn Việt Nam

Trang 3

văn học sử giản biên đã có nhiều nhận xét sâu sắc về Lan Khai, đánh giá ông là

người “giàu đức tính văn chương”

Năm 1968, trong cuốn Mấy vấn đề văn học hiện thực phê phán ở Việt Nam tác giả Nguyễn Đức Đàn cũng đề cập tới nhà văn Lan Khai và tác phẩm Lầm than Năm 1972 cuốn Lược truyện các tác gia Việt Nam của nhiều tác giả có nhắc đến

Lan Khai và sáng tác của ông, nhưng nhìn chung các ý kiến còn sơ lược và chưa

chính xác Trong công trình Tiểu thuyết Việt Nam hiện đại (1974), khi bàn tới tác phẩm Lầm than, tác giả Phan Cự Đệ cũng cho đây là một “tác phẩm hiện thực”,

nhưng “hãy còn rơi rớt nhiều nét tự nhiên chủ nghĩa” [9,96] Năm 1974, trong cuốn

Lược sử văn nghệ Việt Nam, tác giả Thế Phong đánh giá Lan Khai là một nhà văn

“sáng tác nhiều, sung sức” Ông đã điểm qua những thành tựu sáng tác của LanKhai và có những nhận xét khá cụ thể: “Về tiểu thuyết đường rừng, Lan Khai tỏ ra

có một chỗ đứng đặc biệt trong văn đàn, ông viết loại này thật đặc sắc” [48,329]

Đến năm 1987, trong cuốn Chuyện làng văn Việt Nam và thế giới (tập 2) của nhiều

tác giả đã giới thiệu về Lan Khai và một số sáng tác của ông, tuy nhiên phần lớn lờinhận xét đánh giá còn phiến diện về Lan Khai

Trong khoảng hơn hai mươi năm trở lại đây, hoạt động nghiên cứu về Lan

Khai khá sôi nổi Có thể kể đến một số công trình, bài viết tiêu biểu như Đôi điều

về nhà văn Lan Khai (1990) của Gia Dũng, Hành hương về thủ đô kháng chiến (1990) của Hoàng Minh Tường Ngoài ra các công trình như Từ điển nhân vật lịch

sử (1991), tác giả Nguyễn Quang Thắng và Nguyễn Bá Thế Văn xuôi lãng mạn Việt Nam 1930 – 1945 (1989) của tác giả Nguyễn Hoành Khung, Từ điển các tác phẩm văn xuôi Việt Nam giai đoạn từ cuối thế kỷ XIX đến 1945 (2001) của tác giả Vũ Anh Tuấn và Bích Thu biên soạn, Chân dung văn học (2001) tác giả Hoài Anh đều đã đề

cập đến cuộc đời và sự nghiệp của Lan Khai ngày một khách quan hơn

Từ năm 2001 cho đến nay tác giả Trần Mạnh Tiến đã dày công nghiên cứu

về Lan Khai và cho ra đời nhiều bài viết, công trình mới như: Tác phẩm tự truyện của Lan Khai (2002); Lan Khai nhà văn hiện thực xuất sắc (2006); Lan Khai tuyển

Trang 4

tập (2010)… Các công trình của tác giả Trần Mạnh Tiến đã cho độc giả một cái

nhìn toàn cảnh về sự nghiệp văn học của Lan Khai

Nhìn chung, hầu hết các công trình nghiên cứu về sự nghiệp sáng tác của LanKhai, cả trước và sau Cách mạng tháng Tám, tuy đã có không ít những ý kiến khácnhau nhưng đa phần đều thống nhất đánh giá Lan Khai là một nhà văn lớn, một câybút có nhiều đóng góp cho sự nghiệp cách tân văn học nửa đầu thế kỉ XX

Trong di sản văn học của Lan Khai tác phẩm lí luận và phê bình văn học làmột phần rất có giá trị và không thể tách rời với hoạt động sáng tác của ông Theotác giả Trần Mạnh Tiến: “Chỉ riêng những thành tựu về nghiên cứu, lý luận và phêbình văn học, cũng chứng tỏ Lan Khai là một tác giả xuất sắc trên lĩnh vực hoạtđộng này, bởi quan niệm văn nghệ của ông rất gần gũi với chúng ta hôm nay”[59,7] Tuy nhiên, trên thực tế từ trước năm 1945 cho đến trước năm 2000 chưa cómột công trình nghiên cứu chuyên sâu về di sản lí luận và phê bình văn học của LanKhai Hầu hết các bài viết, công trình trong giai đoạn này chỉ lướt qua phần tácphẩm lí luận và phê bình văn học của Lan Khai như một sự điểm xuyết, kể tên chứkhông phải là sự lưu tâm nghiên cứu

Bắt đầu từ năm 2001, di sản lí luận phê bình của Lan Khai mới thực sự đượcquan tâm một cách toàn diện và hệ thống Tháng 6/2002 tác giả Trần Mạnh Tiến đã

cho xuất bản công trình Lan Khai - Tác phẩm nghiên cứu lý luận và phê bình văn học Công trình đã giới thiệu một cách tương đối đầy đủ về cuộc đời, con người nhà

văn Lan Khai và sự nghiệp sáng tác của ông Tác phẩm đã tập trung nghiên cứuphần lý luận phê bình, làm rõ quan niệm của ông về văn học nghệ thuật Đây làcông trình mới vừa làm sáng tỏ những đóng góp của Lan Khai ở lĩnh vực lí luận phêbình, vừa là cơ sở để đi sâu nghiên cứu sáng tác của nhà văn qua đó khẳng định sự

đa tài của nghệ sĩ Lan Khai Tiếp đến, tháng 12/2007, tác giả Trần Mạnh Tiến tiếp

tục cho công bố Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ Lan Khai với di sản nghiên cứu

lí luận, phê bình và nghiên cứu văn học Trong công trình này tác giả đã tập trung

khảo sát toàn bộ những di sản lí luận, phê bình và nghiên cứu văn học của Lan Khaitrong suốt cuộc đời hoạt động văn học của ông Để làm được việc đó, tác giả đã đềcập đến những nét khái quát của hoạt động lí luận, phê bình và nghiên cứu văn học

Trang 5

giai đoạn 1930 – 1945, đồng thời giới thiệu văn tắt về cuộc đời và sự nghiệp của

Lan Khai Năm 2010, khi công trình Lan Khai tuyển tập ra đời, trong Lời giới thiệu,

tác giả Trần Mạnh Tiến tiếp tục nhấn mạnh đến những thành tựu lí luận, phê bình vànghiên cứu văn học của Lan Khai Tác giả trân trọng gọi Lan Khai là “Nhà lí luận,phê bình và nghiên cứu văn học” Những công trình nghiên cứu chuyên sâu đó củatác giả Trần Mạnh Tiến đã tạo tiền đề cho những người đi sau có cơ sở để khám phásâu hơn những tinh hoa lí luận, phê bình của nhà văn Cũng từ năm 2000 đến nay đã

có nhiều luận văn Thạc sĩ nghiên cứu về các thành tựu sáng tác của Lan Khai.Thông thường, trước khi đi vào phần trọng tâm, hầu hết các tác giả đều đã điểm quanhững quan niệm nghệ thuật của nhà văn Lan Khai để phục vụ cho nội dung nghiêncứu Tuy nhiên hầu hết những công trình nói trên chỉ quan tâm đến những vấn đề líluận cụ thể mà không có tầm bao quát

Nói tóm lại cho đến thời điểm này dù cho việc nghiên cứu về di sản lí luận,phê bình của Lan Khai đã có những thành tựu nhất định nhưng vẫn chưa có tác giảnào thực sự chú ý đặt toàn bộ những quan niệm nghệ thuật của nhà văn trong tươngquan với toàn bộ sự nghiệp sáng tác Cũng chưa có tác giả nào phân tích sâu nhữngquan điểm cách tân văn học được thể hiện trong di sản lí luận, phê bình của LanKhai

2.2 Khái lược hoạt động nghiên cứu về Thạch Lam

Đương thời Thạch Lam được Nhất Linh đánh giá là nhà văn “có tài nhất

trong Tự lực văn đoàn” Ngay khi tập truyện ngắn đầu tay Gió đầu mùa của ông ra

đời đã được giới chuyên môn đánh giá rất cao

Là người đầu tiên đọc Gió đầu mùa - sáng tác đầu tay của nhà văn trẻ, Khái

Hưng đã cảm nhận chính xác và tinh tế về sắc thái riêng của ngòi bút Thạch Lam.Ông đã sớm nhận ra Thạch Lam là nhà văn của cảm giác: “Nếu ta có thể chia làmhai dạng nhà văn: nhà văn thiên về tư tưởng và nhà văn thiên về cảm giác thì tôi quả

quyết đặt Thạch Lam vào hạng dưới” [23,278] Ngoài ý kiến của Khái Hưng, Gió đầu mùa còn thu hút sự quan tâm và đánh giá của nhiều nhà nghiên cứu khác như

Quang Viễn, Xuân Vi

Trang 6

Sau Khái Hưng, nhà nghiên cứu Vũ Ngọc Phan là người dày công nghiên

cứu về Thạch Lam Tác giả Nhà văn hiện đại đã khảo sát một cách công phu dọc

theo chiều dài sáng tác và phát hiện những nét đặc sắc của nhà văn Theo ông “sởtrường” của Thạch Lam là truyện ngắn: “Thạch Lam có một ngòi bút lặng lẽ, điềmtĩnh vô cùng, ngòi bút chuyên tả tỉ mỉ những cái rất nhỏ và rất đẹp, những cảm tình,cảm giác của con người nảy nở và biểu lộ ở đầy đủ các hạng người, mà ông tả mộtcách tinh vi [38,41] Với công lao nghiên cứu, tìm tòi và phát hiện, Vũ Ngọc Phan

đã góp phần khẳng định tên tuổi Thạch Lam trên văn đàn đương đại

Là bạn rất thân của Thạch Lam, Thế Lữ đã chứng kiến công phu lao độngnghệ thuật nghiêm túc, đã hiểu đến tường tận sự thận trọng của Thạch Lam trongsáng tác Ông cảm thấy bạn mình đã “sống hết từng ý văn, từng câu văn” và khámphá ra Thạch Lam có “cái kho tàng cuộc sống bên trong rất sẵn châu báu” [3,146]

Sau 1945 các bài nghiên cứu về Thạch Lam không nhiều Trong thời giannày bài viết của Nguyễn Tuân là đáng chú ý nhất Nguyễn Tuân đánh giá cao nhiềuphương diện trong sáng tác của Thạch Lam: Từ giọng điệu, ngôn ngữ, đến cáchmiêu tả hiện thực thông qua sự vận dụng kinh nghiệm sống, vận dụng được cái vốnsuy nghĩ tưởng tượng của bản thân mình

Hai thập kỉ sáu và bảy mươi, việc nghiên cứu Thạch Lam lại rơi vào im lặng.Ở miền Bắc chỉ có một vài ý kiến của các tác giả Vũ Đức Phúc, Nguyễn Đức Đàn,

Lê Thị Đức Hạnh, Hà Minh Đức trên các báo và tạp chí chuyên ngành Ở miềnNam, cũng trong thời gian này đã ra đời hai số tạp chí đặc san dành nghiên cứu về

Thạch Lam: Nguyệt san Văn - số 36 (1965) và Tạp chí Giao điểm tháng 12/1971.

Phần lớn bài viết ở hai số chuyên san này là những hồi kí của bạn bè và người thân,song cũng có những bài đi sâu tìm hiểu nét đặc sắc của văn chương Thạch Lam

Bắt đầu từ những năm 80, hòa chung vào không khí đổi mới của văn học,

việc đánh giá Tự lực văn đoàn và nghiên cứu Thạch Lam dần sôi nổi trở lại

Trong mục giới thiệu Gió đầu mùa của Từ điển văn học, Tập I, hai tác giả

Nguyễn Phương Chi và Nguyễn Huệ Chi đã có những nhận xét mới và xác đáng về

truyện ngắn Thạch Lam Năm 1998 nhà xuất bản Văn học ấn hành Tuyển tập Thạch

Trang 7

Lam Trong lời giới thiệu Phong Lê đã tiếp cận một cách kĩ càng truyện ngắn Thạch

Lam trên nhiều phương diện

Vương Trí Nhàn trong Tạp chí Văn học, số 5 - 1990 đã thể hiện những tìm

tòi của mình, ông chỉ ra: “thế giới riêng một thế giới nhỏ bé hạn hẹp - thậm chí cònnghèo nàn nữa - nhưng là một thế giới độc đáo không lẫn với ai” [3,240] trong sángtác của Thạch Lam Nhà nghiên cứu Đỗ Đức Hiểu đã giành cả một bài nói về phố

huyện của Thạch Lam, cái phố huyện trong truyện ngắn Hai đứa trẻ

Những năm 90 đặc biệt nhân dịp Hội thảo 50 năm ngày mất của Thạch Lam(1992) tên tuổi Thạch Lam xuất hiện nhiều trên các báo với các bài viết của BùiHiển, Vũ Tuấn Anh, Bùi Minh Đức, Nguyễn Phúc, Bích Thu, Lê Thị Đức Hạnh, LêDục Tú Thời kì này cũng đã xuất hiện một số công trình nghiên cứu về Thạch

Lam, đáng chú ý là hai công trình Thạch Lam Văn chương và cái đẹp do tác giả Vũ

Anh Tuấn làm chủ biên, tập hợp các bài viết nghiên cứu về Thạch Lam nhân 50

năm ngày mất của ông và chuyên luận của Nguyễn Thành Thi Đặc trưng truyện ngắn Thạch Lam Nhìn chung các ý kiến đều thống nhất trong xu hướng khẳng định

những giá trị đặc sắc trong thế giới nghệ thuật của Thạch Lam và vị trí, đóng gópquan trọng của ông trong tiến trình hiện đại hóa văn học dân tộc đầu thế kỉ XX

Năm 2001 cuốn Thạch Lam về tác giả và tác phẩm do hai tác giả Vũ Tuấn

Anh và Lê Dục Tú tuyển chọn và giới thiệu đã tập hợp phần lớn các bài nghiên cứu

về Thạch Lam từ cuối những năm 30 đến nay, cung cấp những tài liệu cần thiết vềcuộc đời và sự nghiệp văn chương của Thạch Lam Sự xuất hiện của cuốn sách nàycho thấy Thạch Lam đã được xếp vào hàng những nhà văn tiêu biểu trong toàn bộtiến trình lịch sử của nền văn học nước nhà

Như vậy dù nghiên cứu rộng hay hẹp, trước hay sau, các nhà văn, nhà phêbình đều nhất trí đánh giá Thạch Lam là một cây bút tài năng, có phong cách độcđáo Ông thường hướng vào thế giới bên trong của tâm hồn con người, phân tíchtâm lí với những cảm xúc, cảm giác thật tinh vi, bắt nguồn từ sự rung động của tâmhồn nhạy cảm, phong phú của mình, bằng một giọng văn nhẹ nhàng, trong sáng,bằng một thứ ngôn ngữ dân tộc giản dị, tinh tế, gợi cảm Và lẽ dĩ nhiên ông đã đóng

Trang 8

góp rất nhiều vào sự phát triển của tiếng Việt nói riêng và văn học dân tộc nóichung.

Từ trước năm 1945 đến nay đã có không ít các công trình nghiên cứu về sựnghiệp văn học của Thạch Lam, tuy nhiên hầu hết các công trình mới chỉ tập trung

vào phần sáng tác của Thạch Lam mà ít đề cập đến tiểu luận Theo dòng và quan

niệm nghệ thuật của ông Cũng chưa có công trình, bài viết nào quan tâm đến cácbài viết ở dạng điểm báo của Thạch Lam và cả những lời phê bình, nhận xét củaông về các tác phẩm văn xuôi dự thi Giải thưởng văn chương Tự lực văn đoànnhững năm 1936 - 1939 Hoặc có những bài nghiên cứu về văn chương lại chỉ trích

dẫn những quan điểm nghệ thuật ở Theo dòng như một sự minh họa và tô điểm

thêm cho bài viết

Trước năm 1945, Vũ Ngọc Phan đã nhận xét: “Theo giòng là một quyển bình

luận về văn chương mà ý tưởng rất là rời rạc, tan tác như bèo trôi Dòng tư tưởng

cần phải có chút liên lạc hơn nữa” [38,55] Trong bài viết Một quan niệm viết truyện Khái Hưng cũng đã bàn đến quan điểm của Thạch Lam trong lời tựa Gió đầu mùa Ông đã so sánh để chỉ ra sự thống nhất trong quan niệm và sáng tác của nhà

văn ở thể loại truyên ngắn Trước tiên ông trích dẫn lời Thạch Lam: “Viết mộttruyện ngắn, nào có khó gì đâu! Một sự xảy ra ở ngoài phố làm rung động trái tim

ta, một câu chuyện thuật trong phòng khách… Đó là quan niệm về truyện ngắn của

Thạch Lam, tác giả tập truyện Gió đầu mùa” [23,30], sau đó Khái Hưng liên hệ với

sáng tác của nhà văn Ông viết: “Toàn những truyện giản dị cả Muốn tả ra sự xảy rahàng ngày ấy, tác giả không cần những truyện tình ngoắt ngoéo, tối tăm, khôngthực, nhiều khi rất trẻ con mà ta thấy nhan nhản trong những truyện kiểu cách, lòeloẹt của những nhà văn thiếu thành thực” [23,277]

Đến năm 1954, trong lời giới thiệu cuốn Thạch Lam truyện ngắn và tiểu luận, Nguyễn Tuân có nhắc đến Theo dòng nhưng chỉ mang tính chất liệt kê tác

phẩm, không đi sâu phân tích, đánh giá: “Thạch Lam còn có một số bài báo luận

văn học, sau gộp lại, in ra năm 1941, với tên sách Theo giòng” [3,55] Năm 1961, Phạm Thế Ngũ là tác giả đầu tiên bàn đến nội dung của tác phẩm Theo dòng Không

Trang 9

đồng tình với đánh giá của tác giả Nhà văn hiện đại, Phạm Thế Ngũ đề cao những

quan niệm nghệ thuật của Thạch Lam Theo ông: “Đây là những ý nghĩ của ThạchLam về văn nghệ Tuy tác phẩm mỏng manh lại không nhất trí, song cũng là mộtđặc sắc, một tập lý thuyết văn nghệ độc nhất của nhóm Tự lực và của cả văn họcmới trước 1940” [35,74] Tiếp theo đó là bài viết đáng chú ý của tác giả Đinh Hùng

Tìm hiểu Thạch Lam thêm một vài khía cạnh Trong bài viết này, Đinh Hùng đánh

giá: “Theo dòng là những bài khảo luận nho nhỏ, rút kinh nghiệm nhận xét qua sách

vở, theo thời gian, viết bởi một ý thức sáng sủa, một giọng văn đơn sơ, dễ hiểu màvẫn có những cảm nghĩ thâm trầm sâu sắc” do một ngòi bút đứng đắn mà vẫn giản

dị, nhũn nhặn, không lòe đời, không thích đưa ra những vấn đề uyên bác, không baogiờ dùng những từ đao to búa lớn để thiên hạ nghĩ rằng mình thông thái” [2,441]

Từ năm 1986 đến nay, những ý kiến bàn về tiểu luận Theo dòng và quan

niệm của Thạch Lam rất phong phú, ở đây chúng tôi chỉ xin khái quát một số ý kiến

tiêu biểu Nhà văn Bùi Hiển nhận xét về Theo dòng: “Đặc điểm của những bài viết

này là tác giả không hề lên giọng bác học hoạc luân lí cao xa, ông cứ như người traođổi tâm tình, chính vì thế mà càng thấm thía và càng thuyết phục” [2,208] NguyễnThành Thi chú ý đến quan niệm của Thạch Lam về cái đẹp Ông so sánh quan niệm

về cái đẹp của Thạch Lam với Nguyễn Tuân, Khái Hưng, Nam Cao để thấy đượcnhững những điểm tiến bộ trong quan niệm của Thạch Lam về cái đẹp Lê Dục Túghi nhận đóng góp của Thạch Lam ở phương diện quan niệm nghệ thuật: “Trong tập

tiểu luận Theo dòng, nhà văn Thạch Lam đã có rất nhiều ý tưởng trăn trở về một thể

loại văn học mà ông rất quan tâm, đó là thể loại tiểu thuyết Nhiều ý kiến của ôngbàn về tiểu thuyết như đề tài, nhân vật, cốt truyện, chức năng…là những vấn đề có ý

nghĩa đến ngày nay” [3,18] Tác giả Vũ Tuấn Anh nhận định: “Tập tiểu luận Theo dòng của Thạch Lam là những ghi chú có vẻ tản mạn…nhưng là những ý tưởng, hệ

thống quan điểm nghiệm túc và tha thiết về văn chương Theo dòng không phải là líluận nhưng hàm chứa tư tưởng, gợi ý cho lý luận” [2,454] Như vậy, giai đoạn này

đã có nhiều bài viết chỉ tập trung bàn về Theo dòng và quan niệm nghệ thuật nói chung của Thạch Lam, cụ thể là: Theo giòng một ghi chú nghệ thuật đặc sắc (Văn

Trang 10

Giá), Nhìn lại những quan niệm về văn học của Thạch Lam (Nguyễn Thành), Quan niệm văn chương của Thạch Lam: Vị nghệ thuật hay vị nhân sinh (Nguyễn Phúc), Thạch Lam nghĩ và viết về tiểu thuyết và Thạch Lam với Theo giòng (Nguyễn Ngọc Thiện), Thạch Lam trong sự giao tiếp với văn học Pháp (Lộc Phương Thủy)… Tác

giả Văn Giá đề cao phong cách lí luận phê bình của Thạch Lam Ông cho đó lànhững lời lẽ “gọn ghẽ súc tích, giản dị và khiêm tốn” giống như văn sáng tác “toànnhững cảm giác trinh bạch và vi diệu của tâm hồn…ít thấy ở ai sáng tác và phê bìnhlại hòa diệu một cách sâu sắc đến vậy” [16,50] Nguyễn Ngọc Thiện nhận định:

“Ngày nay, sau hơn sáu mươi năm, đọc lại những ý kiến của Thạch Lam bàn về vănchương và tiểu thuyết, chúng ta không khỏi ngạc nhiên và thích thú bởi sự đúngđắn, sâu sắc, tinh tế trong tư tưởng nghệ thuật của ông” [3,57 ]

Nhìn chung, các bài nghiên cứu trên đã phân tích những quan niệm cụ thểcủa Thạch Lam như: quan niệm về nhà văn, quan niệm về tác phẩm, quan niệm vềtiểu thuyết, về độc giả… đã ít nhiều có liên hệ với sáng tác của Thạch Lam Tuynhiên, đến nay vẫn chưa có một công trình nào đi sâu đánh giá toàn diện về lí luậnphê bình của Thạch Lam và những tác động của của Thạch Lam đối với sáng táccủa tác giả và trào lưu đổi mới văn học 1930 - 1945

2.3 Khái lược hoạt động nghiên cứu về Vũ Bằng

Vũ Bằng là một cây bút nổi tiếng của làng văn, làng báo Việt Nam từ trướcnăm 1945 Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân khác nhau trước 1954 cuộc đời và sựnghiệp của nhà văn Vũ Bằng chưa được quan tâm một cách thích đáng

Thời gian gần đây giới phê bình, nghiên cứu đã bắt đầu tập trung đi sâunghiên cứu về tác giả Vũ Bằng Tuy những công trình ấy chưa nhiều, quy mô khônglớn nhưng phần nào đã khẳng định vị trí của ông trên văn đàn dân tộc

Vũ Ngọc Phan là người đầu tiên viết về Vũ Bằng Trong Nhà văn hiện đại,

ông xếp Vũ Bằng vào hàng các “tiểu thuyết gia tả chân”, thiên về lối hoạt kê, nhạođời Vũ Ngọc Phan còn nhận thấy ở tiểu thuyết của Vũ Bằng sự ảnh hưởng của tiểuthuyết phương Tây khá rõ “Tuy Vũ Bằng giống Nguyễn Công Hoan ở những lờivăn dí dỏm ở những cách dàn xếp ngộ nghĩnh nhưng người ta vẫn nhận thấy cái đặc

Trang 11

biệt của Nguyễn Công Hoan là ở những cử chỉ ngôn ngữ của các nhân vật bao giờcũng đặc Việt Nam, còn ở Vũ Bằng đôi khi người ta thấy các nhân vật có những cửchỉ ngôn ngữ hơi lai một chút Cái đó chỉ vì Vũ Bằng chịu ảnh hưởng tiểu thuyết ÂuTây nhiều quá, coi như những cái sở hữu của mình” [38,1002].

Đến năm 1969 trong lời giới thiệu tập hồi kí Bốn mươi năm nói láo, Nhà xuất

bản Phạm Quang Khai ấn hành tại Sài Gòn, tác giả Thượng Sỹ nhận thấy ở VũBằng lối viết giản dị chứa chan tính chất trào lộng

Tạ Tỵ, trong cuốn Mười khuôn mặt văn nghệ, Nhà xuất bản Nam Chi Tùng

Thư (1970) được Nhà xuất bản Hội Nhà văn in lại (1996), khẳng định Vũ Bằng là

một trong mười gương mặt văn nghệ xuất sắc lúc bấy giờ Trong bài viết Vũ Bằng Người trở về từ cõi đam mê, Tạ Tỵ nhận thấy ở văn phong của Vũ Bằng cái hơi

-hưởng phương Tây nhưng không phải ở tư tưởng Tây phương mà là ở kỹ thuật Ôngkhẳng định: “Vũ Bằng là nhà văn Việt Nam thứ nhất đã có cái nhìn xa để vươn tới

sự hoà đồng tiến bộ trong địa hạt tiểu thuyết” [66,132]

Nguyễn Vỹ, tác giả của Văn thi sĩ tiền chiến, giới thiệu về Vũ Bằng: “Vũ

Bằng thích viết văn khôi hài, nhưng về miếng ăn, anh ta không khôi hài chút nào cả.Anh thích ăn ngon và rất háu ăn” [67, 285] Tác giả quả quyết: “Người ta phải nóiđến Vũ Bằng, trong văn học sử Việt Nam thế kỉ XX, Vũ Bằng phải có một địa vịxứng đáng” [67,286]

Năm 2000, cuộc đời và văn nghiệp của Vũ Bằng mới thực sự được côngnhận qua sự xác minh của Bộ quốc phòng Đây là một sự kiện quan trọng đối vớibản thân nhà văn và người thân, bạn bè Mở ra một chặng đường mới cho giới phêbình, nghiên cứu cũng như độc giả có điều kiện rộng rãi hơn trong việc giới thiệu,tìm hiểu về Vũ Bằng

Trong Lời giới thiệu cuốn Tạp văn Vũ Bằng, tác giả Nguyễn Ánh Ngân kể:

“Trong kí ức của các nhà văn đương thời, Vũ Bằng được nhắc đến với lòng trìu mến

và ít nhiều tri ân Đó là một nhà văn mang nặng nỗi niềm xa quê đau đáu, về cuốiđời ngậm ngùi an phận mà hồi tưởng quá khứ tung hoành [34, 33]

Tác giả Trần Mạnh Thường trong Từ điển tác gia văn học Việt Nam thế kỉ

XX nhận định, Vũ Bằng là “một nhà văn tài hoa, nhà báo nổi tiếng lại có những hi

Trang 12

sinh, những cống hiến, những chiến tích thầm lặng cho sự nghiệp cách mạng cao cảcủa Tổ quốc, của dân tộc” [63,1232]

Trong Chân dung các nhà văn hiện đại của nhóm tác giả, Nguyễn Đăng

Điệp đã phác thảo về cuộc đời và những nét chính trong tác phẩm của nhà văn.Công trình cũng đề cập đến những đánh giá sai lầm của một số người về nhà văntrước đây và góp phần khẳng định lại tài năng và những đóng góp to lớn của VũBằng cho nền văn học nước nhà

Năm 2006, Nguyễn Ngọc Thiện với Phong cách và Đời văn đã không ngớt

lời khen ngợi: “Trên lĩnh vực văn chương, Vũ Bằng là một nhà văn độc đáo, tài hoamang dấu ấn phong cách rõ rệt Ông thành công trên hai thể loại chính là tiểu thuyết

và kí, đặc biệt về hồi kí và tùy bút, tạp văn [46, 420]

Cũng trong năm này, nhà văn Triệu Xuân đã ra mắt bạn đọc Vũ Bằng toàn tập Trong công trình, nhà văn đã bày tỏ sự đồng cảm sâu sắc của mình trước một

nhân cách lớn: “Cả cuộc đời say mê văn chương, cả một đời yêu nước thương nòi,vậy mà Vũ Bằng phải chịu quá nhiều oan ức khổ đau! Thương thay một kẻ lữ hànhsuốt đời đơn côi ngay trên đất nước quê hương mình” [68, 20]

Nhìn chung về cuộc đời và sự nghiệp sáng tác, cho đến nay Vũ Bằng đãđược các nhà nghiên cứu quan tâm ngày một nhiều hơn

Về lí luận và phê bình văn học của Vũ Bằng, theo thống kê của các nhànghiên cứu, tính đến năm 2000 chỉ có 26 bài viết về các lĩnh vực sáng tác của VũBằng nói chung, còn về những bài viết về đóng góp của ông trong lí luận, phê bìnhquả thật ít ỏi Đó đây chỉ là những bài viết lẻ tẻ, lời tựa, lời bạt cho một quyển sáchnào đó của ông chứ chưa thực sự thành những công trình nghiên cứu hệ thống và cóquy mô thực sự

Về công trình Khảo về tiểu thuyết của Vũ Bằng, trong cuốn sách Mười khuôn mặt văn nghệ, tác giả Tạ Tỵ đã đánh giá đó là công trình kết tinh sự trải nghiệm

cuộc đời, sự “tìm khôn” trong nghề nghiệp Ông viết: “Tuy cuốn sách đề cập đếnnhiều vấn đề quá, mà không vấn đề nào đi sâu vào chi tiết để cho người đọc có thểnghiên cứu và tìm hiểu rộng rồi phần chuyên môn đến nơi đến chốn Nhưng chẳngphải vì thế mà nó không mang đến những giá trị hiển nhiên xuyên qua 170 trang

Trang 13

sách bởi các phần trọng yếu nhất của nghề viết văn” [66,21] Như vậy theo đánh giácủa Tạ Tỵ thì hạn chế của cuốn khảo luận này biểu hiện ở chỗ nó bàn nhiều vấn đềnhưng phần chuyên môn thì chưa đến nơi đến chốn Nhận định này có phần đúngnhưng chưa hẳn đã hoàn toàn chính xác.

Tiếp theo ý kiến của Tạ Tỵ, tác giả Vương Trí Nhàn, trong công trình Những lời bàn về tiểu thuyết trong văn học Việt Nam từ đầu thế kỷ XX cho đến năm 1945”

ở lời dẫn cho Khảo về tiểu thuyết của Vũ Bằng đã đánh giá thấu đáo hơn Nhà nghiên cứu cho rằng: “Nếu như đọc Khảo về tiểu thuyết của Phạm Quỳnh, người ta

cảm thấy có trong tay cuốn sách nhập môn, giới thiệu một cách chính xác nhưngcòn qua loa sơ sài, những đặc điểm của thể tài, thì đến cuốn sách cùng tên này của

Vũ Bằng, người ta được tiếp xúc với một thế giới tiểu thuyết một cách đầy đủ, rõràng hơn trên cơ sở một sự bao quát tài liệu rộng rãi hơn.” [37,179] Ông còn nhìnnhận sắc sảo điều nổi bật trong lí luận về tiểu thuyết của Vũ Bằng là tính hướng nội,hướng về những giá trị văn học quý giá của văn mạch dân tộc để minh hoạ cho líluận mới mẻ như tiểu thuyết “Trong khi mải lôi cuốn mọi người theo những mẫumực của tiểu thuyết phương Tây mà quên hẳn các tiểu thuyết Việt Nam đương thời,

do chính các đồng nghiệp của mình viết ra thì Vũ Bằng lại luôn dẫn các ví dụ lấy từnhững Phạm Công - Cúc Hoa, Tống Trân, Nhị Độ Mai và nhất là Truyện Kiều”[37,181]

Gần đây nhất, với bài viết Lý luận tiểu thuyết trong “Theo giòng” của Thạch Lam trên trang phebinhvanhoc.vn.com, nhà nghiên cứu Lã Nguyên đã so sánh cách

thức tiếp cận những vấn đề lí thuyết của Thạch Lam, Vũ Bằng với Phạm Quỳnh,Trúc Hà, Hải Triều và rút ra kết luận: “Khi đề cập tới các vấn đề lí thuyết, nhữngnhà văn như Vũ Bằng, Thạch Lam thường không nhắm vào mục đích quảng bá như

thế Thực tế chứng tỏ, những công trình lí thuyết của các ông thường thấm đẫm cảm hứng đối thoại, tranh biện.” [47] Tác giả bài viết còn chỉ rõ: “Trong Khảo về tiểu

thuyết (1941), Vũ Bằng dành hẳn 2 chương X và XII để thảo luận về thi pháp tổchức giọng điệu và tổ chức trần thuật Ý đồ thảo luận được thể hiện ngay ở cách đặt

Trang 14

tên các chương: Tiểu thuyết nên viết bằng giọng văn gì? (Chương X), Viết tiểu thuyết nên dùng ngôi thứ mấy? (Chương XII)” [36].

Như vậy, dù đề cập đến Vũ Bằng với tư cách là nhà văn, nhà báo, nhà lí luậnphê bình… các tác giả đều cố gắng khắc hoạ chân dung của một tài năng trên nhiềulĩnh vực trong đó có hoạt động lý luận, phê bình văn học Tuy nhiên thành tựunghiên cứu lí luận và phê bình văn học của Vũ Bằng vẫn chưa được quan tâmnghiên cứu đúng mức Một số bài viết với quy mô vừa phải chưa đủ để đánh giá sâuhơn những thành tựu và đóng góp về mặt lí luận phê bình của Vũ Bằng đối với sựnghiệp đổi mới văn học giai đoạn 1930 - 1945

* * *Tóm lại, có thể khẳng định Lan Khai, Vũ Bằng, Thạch Lam, đều là nhữngtên tuổi lớn trong nền văn học Việt Nam hiện đại Bằng tài năng đa dạng và cá tínhsáng tạo độc đáo, các ông không chỉ tạo nên một sự nghiệp văn chương cho riêng cánhân mình mà sự nghiệp ấy còn góp phần thúc đẩy quá trình hiện đại hóa nền vănhọc dân tộc những năm ba mươi của thế kỷ XX Hơn nửa thế kỷ qua đã có không ítcác công trình nghiên cứu về tiểu sử, đánh giá về những đặc điểm và thành tựu vănhọc của cả ba nhà văn nói trên Tuy nhiên, điểm lại đối tượng và phạm vi nghiêncứu của các công trình, chúng ta nhận thấy di sản lí luận và phê bình văn học của cả

ba nhà văn chưa được đi sâu nghiên cứu kĩ Riêng với trường hợp di sản lí luận vàphê bình văn học của Lan Khai, mặc dù đã có nhiều công trình, bài viết của tác giảTrần Mạnh Tiến, tuy nhiên những công trình này cũng chưa khảo sát những tácđộng của lí luận và phê bình văn học đối với sáng tác của chính tác giả Nhận thấy

sự cần thiết phải nghiên cứu một cách toàn diện, thống những thành tựu lí luận phêbình của Lan Khai, Thạch Lam, Vũ Bằng và xem xét tác động của nó đối sự nghiệpsáng tác của từng nhà văn và với cả trào lưu cách tân văn học chúng tôi quyết định

chọn đề tài nghiên cứu với tiêu đề: Lí luận phê bình văn học của Lan Khai, Thạch Lam, Vũ Bằng trong giai đoạn 1930 – 1945.

Trang 15

3 MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU

Luận văn của chúng tôi có mục đích tìm hiểu và đánh giá thành tựu lí luậnphê bình của Lan Khai, Thạch Lam, Vũ Bằng trong giai đoạn 1930 - 1945, nhằmkhẳng định những ảnh hưởng tích cực của nó đối với trào lưu cách tân văn họcđương thời Đồng thời, chúng tôi cũng tìm hiểu mối tương quan giữa sáng tác và líluận phê bình của ba nhà văn để thấy được những điểm tương đồng và so le tronghoạt động văn học của các nhà văn Trên cơ sở đó chúng tôi chỉ ra những nét riêng

về lí luận phê bình đã tạo nên phong cách của từng tác giả

4 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU

Luận văn của chúng tôi tập trung vào các tác phẩm lí luận phê bình chủ yếucủa Lan Khai, Thạch Lam, Vũ Bằng để khảo sát ở các bình diện: Quan niệm về nhàvăn và văn học; về tính dân tộc của văn học; về thể loại, ngôn ngữ văn học vànhững vấn đề cách tân của văn học trong trào lưu hiện đại

Ngoài ra chúng tôi còn liên hệ với những thành tựu sáng tác của ba nhà văn trên để thấy được sự thống nhất và đa dạng về quan niệm nghệ thuật của các nhà văn ở cả hai bình diện lí luận phê bình và sáng tác

5 NHỮNG LUẬN ĐIỂM CƠ BẢN VÀ ĐÓNG GÓP CỦA LUẬN VĂN

5.1 Những luận điểm cơ bản của luận văn

Phần nội dung của luận văn được chia làm 3 chương với những luận điểmchính sau đây:

Chương 1: Những tác động của hoàn cảnh lịch sử, văn hóa - xã hội đến tràolưu cách tân văn học và nhu cầu tất yếu về lí luận phê bình văn học Hoạt động líluận phê bình của Lan Khai, Thạch Lam, Vũ Bằng, song hành với sáng tác của banhà văn

Chương 2: Những quan niệm về nhà văn và văn học của Lan Khai, ThạchLam, Vũ Bằng Tính thống nhất và so le giữa lí luận phê bình và sáng tác của LanKhai, Thạch Lam, Vũ Bằng

Trang 16

Chương 3: Những điểm gần gũi về lí luận phê bình của Lan Khai, ThạchLam, Vũ Bằng và những nét riêng tạo nên phong cách từng cây bút Những bìnhdiện đóng góp về lí luận của Lan Khai, Thạch Lam, Vũ Bằng

5.2 Đóng góp mới của luận văn

Đây là công trình đi sâu vào khảo sát những đóng góp về phương diện lí luậnphê bình của ba nhà văn Lan Khai, Thạch Lam, Vũ Bằng vừa sáng tác vừa hoạt động lí luận phê bình văn học trong giai đoạn 1930 – 1945 Công trình nhằm góp phần làm sáng tỏ hiệu năng hoạt động song hành trong đời sống văn học của ba cây bút nói trên, đồng thời làm sáng rõ sự hài hòa phẩm chất tư duy hình tượng và tư duy khoa học của ba nhà văn trong hoạt động văn học, vị thế và đóng góp của ba nhà văn trong công cuộc cách tân văn học Việt Nam giai đoạn 1930 - 1945 Đồng thời chỉ ra phong cách lí luận phê bình văn học của các cây bút Lan Khai, Thạch Lam, Vũ Bằng trong giai đoạn văn học trên

6 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

6.1 Phương pháp tập hợp, hệ thống: Lí luận phê bình văn học của Lan Khai, Vũ

Bằng, Thạch Lam được nghiên cứu trong tính chỉnh thể thống nhất Trong quá trìnhnghiên cứu, chúng tôi luôn có ý thức đặt đối tượng nghiên cứu trong toàn bộ hệthống lí luận phê bình văn học giai đoạn 1930 – 1945 Riêng ở từng tác giả, chúngtôi cũng đặc biệt lưu ý tới mối quan hệ qua lại giữa lí luận phê bình với sáng tác

6.2 Phân tích khái quát: Chúng tôi tiến hành nghiên cứu đối tượng trên cơ sở phân

tích các tác phẩm lí luận phê bình và sáng tác của ba nhà văn nói trên, từ đó kháiquát nên những đặc điểm tiêu biểu

6.3 Phương pháp lịch sử: Chúng tôi đặt Lan Khai, Vũ Bằng, Thạch Lam vào bối

cảnh lịch sử cụ thể để nghiên cứu Những giá trị lí luận phê bình của ba tác giả nóitrên được nhìn nhận trong tiến trình văn học

6.4 Phương pháp so sánh: Chúng tôi kết hợp so sánh đồng đại để thấy những đặc

điểm gần gũi và khác biệt giữa ba nhà văn Lan Khai - Vũ Bằng - Thạch Lam, đồngthời liên hệ với những tác giả cùng thời Phép so sánh lịch đại cũng được vận dụng

Trang 17

để nghiên cứu các tác giả này dưới một cái nhìn xuyên suốt lịch sử văn học với sựtiến bộ nghệ thuật…

6.5 Phương pháp liên ngành: Quan niệm văn học của các tác giả được nghiên cứu

trong mối liên hệ với mỹ học, triết học

7 CẤU TRÚC LUẬN VĂN

Luận văn của chúng tôi gồm ba phần: Mở đầu, nội dung, kết luận và phần tàiliệu tham khảo

Phần nội dung của luận văn chia thành 3 chương:

Chương 1: Lí luận phê bình với trào lưu cách tân văn học 1930 -1945 và hoạtđộng văn học của ba cây bút Lan Khai, Thạch Lam, Vũ Bằng

Chương 2: Quan niệm nghệ thuật của Lan Khai, Thạch Lam, Vũ Bằng trongtrào lưu các tân văn học

Chương 3: Đặc điểm phong cách lí luận phê bình của Lan Khai, Thạch Lam,

Vũ Bằng

Trang 18

Chương I

LÍ LUẬN PHÊ BÌNH VỚI TRÀO LƯU CÁCH TÂN VĂN HỌC 1930

-1945 VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA BA CÂY BÚT LAN KHAI, THẠCH LAM,

VŨ BẰNG

1.1 Những tác động của hoàn cảnh lịch sử, văn hóa - xã hội đối với trào lưu cách tân văn học 1930 – 1945

1.1.1 Vài nét về bối cảnh chính trị - văn hóa – xã hội

Hiện thực đời sống không chỉ là đối tượng phản ánh của văn học mà còn lànhân tố thúc đẩy hoạt động văn học phát triển Đầu thế kỉ XX xã hội nước ta đã cócác tiền đề cho một nền văn học mới ra đời

Sau hai cuộc khai thác thuộc địa của thực dân Pháp, đến đầu những năm 30,

xã hội Việt Nam có nhiều biến đổi Các đô thị mọc lên nhanh theo đà phát triển củakinh tế tư bản chủ nghĩa Hoạt động buôn bán bắt đầu diễn ra sôi động ở các thànhphố lớn Bộ máy cai trị của chế độ thực dân đã có quy mô hoàn chỉnh Một tầng lớptiểu tư sản được hình thành từ cuộc khai thác thuộc địa lần thứ nhất đến đầu thập

niên 30 đã chiếm một tỉ lệ không nhỏ trong dân số các đô thị Theo Thống kê niên giám Đông Dương 1932 -1933, số trí thức tân học bao gồm học sinh, sinh viên và

viên chức đã lên tới 35 vạn người

Thời kì này còn đánh dấu sự tiếp xúc với văn hóa phương Tây mà đặc biệt làvăn hóa Pháp Năm 1915, thực dân Pháp bãi bỏ thi Hương ở Bắc Kỳ Năm 1919khoa thi Hội cuối cùng ở Huế đã kết thúc chế độ khoa cử phong kiến Từ đây trongtrường học, học sinh bắt đầu tiếp thu văn hóa Pháp mà đặc biệt là văn học lãng mạnPháp

Sự tiếp xúc với nền văn hóa phương Tây đã đem đến cho tầng lớp thanh niêntiểu tư sản thành thị những năm 30 của thế kỷ XX những suy nghĩ và tình cảm mới

Ý thức cá nhân nảy nở và phát triển rất nhanh lấn át ý thức cộng đồng Con ngườingày càng muốn khẳng định cái tôi cá nhân của mình trong gia đình và cả xã hội Vìvậy một quan niệm mới về văn chương đồng thời xuất hiện Những người cầm bút

Trang 19

thời kì này có quan điểm hoàn toàn khác với thế hệ trước về cái đẹp, về đạo đứcnhân sinh và đặc biệt là về văn hóa nghệ thuật Họ cho rằng những quy phạm chặtchẽ của thi pháp cổ đã trở thành vật cản trên chặng đường tự do, dân chủ hóa nềnvăn học nước nhà Họ lên tiếng chống lại sự trói buộc của thi pháp cũ mà tính phingã đã một thời là mẫu mực cho sáng tác văn chương nghệ thuật và đòi hỏi một sựcách tân để thỏa mãn nhu cầu thẩm mỹ mới và để kích thích cá tính sáng tạo trongnghệ thuật văn chương.

Ngoài ra, góp phần không nhỏ vào sự đổi mới của xã hội và văn nghệ cònphải kể đến vai trò của báo chí và các nhà xuất bản Báo chí là diễn đàn để các nhànghiên cứu phê bình văn học trao đổi ý kiến đánh giá tác phẩm, phổ biến kinhnghiệm lí luận sáng tác Đặc biệt báo chí còn góp phần đấu tranh cho sự thắng lợicủa văn hóa tiến bộ, cho sự toàn thắng của chữ Quốc ngữ, tạo điều kiện thuận lợicho sự đổi mới văn học

Tham gia vào công cuộc cách tân có một số trí thức Hán học, chịu ảnh hưởngcủa sinh hoạt đô thị tư sản và văn hóa phương Tây qua Tân thư Trung Quốc nhưTản Đà, Nguyễn Bá Học, Hoàng Ngọc Phách, Phan Khôi…, những chủ yếu vẫn làtầng lớp tri thức tân học Những cây bút này đã tạo nên trên văn đàn Việt Namnhững năm 30 của thế kỉ hai trào lưu văn học lãng mạn và hiện thực Hai trào lưunày đã thực sự đấu tranh để thoát khỏi thi pháp trung đại và đã thực sự đóng góp cóhiệu quả vào tiến trình hiện đại hóa văn học Việt Nam

1.1.2 Trào lưu đổi mới sáng tác

1.1.2.1 Sự nở rộ của các khuynh hướng văn học

Thời kì 1930 - 1945 là thời kì đấu tranh dân tộc và đấu tranh giai cấp hết sứcgay gắt Từ đó dẫn đến những cuộc đấu tranh trên lĩnh vực tư tưởng và ý thức hệ, sựtác động qua lại hết sức phức tạp của các khuynh hướng và phương pháp sáng táckhác nhau

Năm 1930 là năm thành lập Đảng Cộng sản Đông Dương nhưng đó cũng lànăm xuất hiện phong trào Xô viết Nghệ - Tĩnh, mở đầu cho dòng văn học vô sản vàcác khuynh hướng lãng mạn, hiện thực phê phán đã phát triển thành dòng độc lập

Từ 1931 Nguyễn Công Hoan đã khẳng định phương pháp hiện thực phê phán trong

Trang 20

các thể loại truyện ngắn (Răng con chó của nhà tư sản, Oẳn tà roằn, Thật là phúc, Ngựa người người ngựa…) Trong hai năm 1930 - 1931 Ngô Tất Tố viết nhiều

những tiểu phẩm văn học nổi tiếng trên các báo với nhiều bút danh như Thiết KhẩuNhi; Thục Điểu,… Năm 1931 cũng là năm tác phẩm đầu tay của Vũ Trọng Phụng -

Không một tiếng vang ra đời

Năm 1932 đánh dấu một bước phát triển đột biến của dòng văn học lãng

mạn: Báo Phong hóa; Văn xuôi Tự lực văn đoàn; Phong trào Thơ mới… Từ 1930

-1935 cũng nổ ra hàng loạt cuộc tranh luận văn học lớn nhỏ: Cuộc tranh luận về Nhogiáo giữa Phan Khôi, Trần Trọng Kim và Tản Đà; cuộc tranh luận xoay quanh vấn

đề Thơ mới Báo Phong Hóa cho đăng hàng loạt phóng sự dài chủ trương bỏ cũ

theo mới Tất cả các cuộc đấu tranh đó phản ánh sự xung đột giữa lễ giáo phongkiến, đại gia đình phong kiến với chủ nghĩa cá nhân tư sản, cuộc đấu tranh của tìnhcảm cá nhân, ý thức cá nhân chống lại những khuôn khổ gò bó, lối suy nghĩ và ngôn

ngữ khuôn sáo của thơ ca một lớp nhà Nho đã lỗi thời, đã tàn tạ Tự lực văn đoàn đề xuất phong trào Âu hóa, đề cập đến cuộc xung đột giữa mới và cũ, lên án gia đình

phong kiến, bênh vực tình yêu lứa đôi, bênh vực chủ nghĩa cá nhân tư sản

Văn học lãng mạn thời kì 1930 - 1945 gần như chiếm địa vị độc tôn trên thiđàn văn học công khai Bắt đầu với nhóm tự lực văn đoàn và phong trào Thơ mới

Ngoài nhóm Phong hóa, ngày nay còn phải kể đến các nhóm Hà Nội báo (Huy Thông, Lưu Trong Lư, Thái Can, Nguyễn Nhược Pháp), Xuân Thu Nhã Tập

(Nguyễn Xuân Sanh, Phạm Văn Hạnh, Đoàn Phú Tứ…) Ngoài làng văn đất Hà

Thành còn phải kể đến các nhóm Sông Thương (Bàng Bá Lân, Anh Thơ), nhóm Huế (Nam Trân, Nguyễn Đình Thư), nhóm Bình Định (Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên,

Trọng Lư trong cuộc tranh luận về nghệ thuật (1935 - 1936)…

1.1.2.2 Sự xuất hiện một lực lượng sáng tác mới

Trang 21

Một trong những đặc trưng cơ bản của văn học giai đoạn 1930 - 1945 vàcũng là một trong những động cơ quyết định công cuộc cách tân nền văn học giaiđoạn này chính là sự xuất hiện một đội ngũ sáng tác mới Nếu như ở những năm haimươi, một số nhà nho chấp nhận “vứt bút lông đi nắm bút chì” để tham gia vào sựnghiệp đổi mới văn học thì đến giai đoạn này cũng phải lui vào hậu trường đểnhường chỗ cho một thế hệ mới xuất hiện Đó chính là những trí thức Tây học Họvừa được tiếp thu những tư tưởng mới của văn hóa phương Tây, đồng thời lại được

kế thừa kinh nghiệm của thể hệ cha anh đi trước Chính vì thế họ đã thực hiện mộtcuộc cách tân văn học triệt để và toàn diện hơn so với giai đoạn trước

1.1.2.3 Đổi mới về nội dung, hình thức tác phẩm và sự hoàn thiện về thể loại

Cùng với sự chuyển biến về văn hóa - xã hội, sự xuất hiện các trào lưu, nhómphái và sự xuất hiện một lực lượng sáng tác mới, văn học thời kì đầu thế kỉ XX đến

1945 đặc biệt là từ những năm 30 trở đi đã phát triển nhanh chóng và đạt đượcnhiều thành tựu to lớn, thể hiện một sự cách tân mạnh mẽ trên mọi phương diện.Chỉ trong vòng hơn một thập niên các khu vực, các dòng văn học đều vận động,phát triển với một nhịp độ khẩn trương mau lẹ Điều đó thể hiện ở sự phát triển về

số lượng các tác giả và tác phẩm, sự hình thành và đổi mới các thể loại văn học và

sự kết tinh ở những tác giả, tác phẩm tiêu biểu Nhận xét về đặc điểm văn học giaiđoạn này, nhà văn Tô Hoài có viết: “Bấy giờ các thể loại văn xuôi của nước ta đãphát triển, khác hẳn tình hình khoảng mười năm về trước Bên cạnh những tác giả

có cá tính và phong cách, mỗi tuần báo, báo chí văn học từ Nam chí Bắc cho ra đờibiết bao nhiêu sáng tác làm phong phú cho nền văn xuôi đương thời nảy nở Truyệndài, truyện ngắn của một văn đoàn có tổ chức và mạnh như Tự lực đã bỏ qua lối viếtbiến ngẫu, khoa trương hoặc nhẹ nhàng và bóng bẩy của Khái Hưng và Nhất Linh.Các sáng tác đã đi sâu phân tích cá tính và cuộc sống như những tác phẩm sau nàycủa Khái Hưng và Thạch Lam Và những truyện mổ xẻ cái tôi tinh vi hơn, như của

Đỗ Đức Thu rồi Đỗ Tốn Và các nhà văn Vũ Trọng Phụng, Nguyễn Công Hoan,Nguyễn Tuân đều nghênh ngang một cõi, có bạn đọc tâm đắc của mình” [67,133]

Trang 22

Tiểu thuyết những năm 1930, được hoàn thiện về mặt lí luận, thể loại nay trởnên phong phú và thật sự đổi mới Các tác giả đi sâu vào nhiều mảng hiện thực khácnhau và hình thành nhiều dạng như tiểu thuyết lịch sử, tiểu thuyết truyền kì, tiểuthuyết phong tục… Nhất là cách dựng truyện, tổ chức kết cấu và xây dựng tính cách

nhân vật cũng được đổi mới hoàn toàn Nhóm Tự lực văn đoàn với những tác phẩm

thành công về mặt nghệ thuật của Nhất Linh, Khái Hưng đã đẩy cuộc cách tân tiểuthuyết lên một bước mới Tiếp đó là những tiểu thuyết có giá trị của Vũ TrọngPhụng, Ngô Tất Tố, Nguyên Hồng, Nam Cao, Lan Khai… đã đưa thể loại này đếnđỉnh cao

Truyện ngắn thời kì này cũng phát triển nhanh chóng Chưa bao giờ truyệnngắn Việt Nam lại phát triển phong phú, đặc sắc như thế: Truyện ngắn trào phúngcủa Nguyễn Công Hoan; truyện ngắn trữ tình của Thạch Lam, Thanh Tịnh, HồZếnh, Vũ Bằng….; truyện ngắn phong tục của Tô Hoài, Bùi Hiển, Kim Lân, Lan

Khai truyện ngắn có khả năng tạo bầu không khí Vang bóng một thời của Nguyễn

Tuân; truyện ngắn viết về cái đời tư, cuộc sống hàng ngày, dựng nên cả một thế giới

Sống mòn, mang tư tưởng sâu sắc, ý nghĩa khái quát rộng lớn với nhiều trang phân

tích tâm lí đạt tới trình độ bậc thầy của Nam Cao… Chỉ sau một thập niên chúng ta

đã thấy xuất hiện một đội ngũ các nhà văn có sở trường về truyện ngắn Họ để lạimột khối lượng tác phẩm có giá trị, trong đó không ít tác phẩm có thể xếp vào hàngkiệt tác

Phóng sự, bút kí, tùy bút… cũng phát triển mạnh và được kết tinh trong sángtác của Tam Lang, Vũ Trọng Phụng, Ngô Tất Tố, Nguyễn Tuân, Vũ Bằng…Về bút

kí, tùy bút phải kể đến Xuân Diệu, Nguyễn Tuân và đặc biệt là Vũ Bằng - một câybút tài hoa với nhiều tác phẩm đặc sắc

Trong lĩnh vực thơ ca, phong trào Thơ Mới đã đem lại sự đổi thay sâu sắc với

một đội ngũ thi sĩ đông đảo, đa dạng, phong phú về phong cách nghệ thuật Trong

cuốn Thi nhân Việt Nam, Hoài Thanh khẳng định: “Chưa bao giờ người ta thấy xuất

hiện cùng một lần một hồn thơ rộng mở như Thế Lữ, mơ màng như Lưu Trọng Lư,hùng tráng như Huy Thông, trong sáng như Nguyễn Nhược Pháp, ảo nảo như Huy

Trang 23

Cận, quê mùa như Nguyễn Bính, kì dị như Chế Lan Viên và…thiết tha, rạo rực, bănkhoăn như Xuân Diệu” [45,29].

Thơ ca cũng là bộ phận chủ lực và có giá trị nhất của văn học cách mạng.Đáng chú ý hơn cả là sáng tác của Hồ Chí Minh, Tố Hữu, Xuân Thủy, Sóng

Hồng… trong đó tiêu biểu hơn cả là những tập thơ sáng tác trong tù như Nhật kí trong tù của Hồ Chí Minh và tập thơ Từ ấy của Tố Hữu Đây là hai thành tựu xuất

sắc đưa thơ ca cách mạng lên thành tầm cao mới

Ở chặng này, kịch nói tiếp tục phát triển, đạt được nhiều thành tựu hơn trướcđây Ngoài những nhà viết kịch đã tạo dựng được tên tuổi từ những năm hai mươinhư Vũ Đình Long, đến giai đoạn này còn có các tác kịch bản mới như Toan Ánh,

Vũ Trọng Phụng, Vi Huyền Đắc, Nguyễn Huy Tưởng, Đoàn Phú Tứ

Cùng với sáng tác, lí luận phê bình cũng phát triển, đạt được nhiều thành tựu

đáng ghi nhận Có giá trị hơn cả là những công trình như Thi nhân Việt Nam của Hoài Thanh - Hoài Chân, Nhà văn Việt Nam hiện đại của Vũ Ngọc Phan, Văn học khái luận của Đặng Thai Mai… tất cả đã thúc đẩy nền văn học phát triển đi lên.

Dường như ở bất cứ thể loại nào văn học cũng phát triển mạnh mẽ Đó làcuộc chạy tiếp sức đầy căng thẳng quyết liệt, căng thẳng và cũng thật ngoạn mục,tạo một nhịp điệu khẩn trương, nhanh chóng chưa từng thấy trong lịch sử văn học

dân tộc Chính vì vậy, trong cuốn Nhà văn hiện đại tác giả Vũ Ngọc Phan đã không

ngần ngại khẳng định: “Ở nước ta một năm có thể kể như ba mươi năm của người”[38,33]

1.1.3 Nhu cầu và sự phát triển của lí luận phê bình trong giai đoạn mới

Sự phát triển của nền văn học đã đặt ra những yêu cầu mới về thưởng thức vàđánh giá sản phẩm sáng tạo của nhà văn Bởi vậy ngay từ đầu thế kỉ XX, khi nềnvăn học dân tộc chuyển mình, hoạt động lí luận phê bình cũng dần hiện đại hóa vàphát triển Tiền đề của sự phát triển ấy chính là những bước tiến của nền văn học.Đặc biệt là sự phát triển của chữ quốc ngữ, báo chí và sự xuất hiện ngày càng nhiềunhững tác phẩm văn học nước ngoài đã làm cho đời sống văn học ngày càng mởrộng, lực lượng công chúng đông đảo Các hoạt động lý luận - phê bình được thúc

Trang 24

đẩy làm nhiệm vụ khai thông dân trí đồng thời tạo điều kiện cho các hoạt động sángtác Hoạt động phê bình đã thu hút rất nhiều các thế hệ tác giả khác nhau: cựu học,tân học, có cả những nhà nho “bán cựu, bán tân” và sự phát triển của hoạt động lýluận - phê bình tất yếu cũng đã dẫn đến những nảy sinh và xung đột giữa các quanđiểm lập trường, kể cả phương pháp trong việc đánh giá những tác phẩm và hiệntượng văn học.

Có thể nói trong ba thập kỉ đầu của thế kỉ XX đã chuyển đổi từ phê bình kiểunhà Nho sang tư duy phân tích phương Tây Tất nhiên trong buổi đầu hình thành vàphát triển nên ở giai đoạn này chưa có nhà phê bình nghiên cứu văn học chuyênnghiệp, các hoạt động của họ chưa tách khỏi việc khảo cứu, phiên dịch, giới thiệu.Những quan niệm văn chương thời này vẫn chủ yếu là quan niệm cũ Cuộc tranhluận văn học đầu tiên của thế kỷ về Truyện Kiều thực chất là sự đụng độ về tưtưởng chính trị và lễ giáo phong kiến Đặc biệt lí luận phê bình nghiên cứu văn học

ở chặng thứ nhất này vẫn trong trạng thái hòa trộn, khó tách bạch các tri thức giữachúng

Từ 1932 đến 1945, lịch sử văn học Việt Nam như một biến cố đặc biệt.Những bước nhảy vọt mới của đời sống văn học đương thời đã có ảnh hưởng sâusắc đến đội ngũ các nhà nghiên cứu lí luận phê bình và làm thay đổi diện mạo đờisống phê bình giai đoạn 1932 - 1945 Lý luận phê bình lúc này trở thành một bộphận không thể thiếu của đời sống văn học hiện đại Tinh thần nghiên cứu lí luậnvăn học giai đoạn này đã bộc lộ rõ tính dân chủ vai trò ý thức của các tác giả Đây

là giai đoạn hình thành tư tưởng mới, phủ nhận tư tưởng cũ với nhiều cuộc tranhluận và hàng loạt vấn đề lí luận lớn bắt đầu từ những quan niệm về đặc trưng vănhọc nghệ thuật, quan niệm về bản chất xã hội, lịch sử của văn học Đây cũng là giaiđoạn hình thành lí luận và phê bình văn học như là một “thể loại mới” chưa từng có,

và xuất hiện những nhà lí luận phê bình văn học chuyên nghiệp Đội ngũ các nhà líluận phê bình văn học đông dần lên Những hoạt động nghiên cứu lí luận phê bìnhtrở nên sôi động Cùng với phê bình các bài viết thể hiện rõ tính chất lí luận vớichức năng hướng dẫn, định hướng dư luận và bày tỏ lập trường, quan điểm, tranh

Trang 25

luận ý thức hệ, tranh giành ảnh hưởng, lôi kéo độc giả Đây là tiền đề nảy sinhnhững cuộc tranh luận về “nghệ thuật vị nghệ thuật” hay “nghệ thuật vị nhân sinh”.

Từ cuộc tranh luận này cùng những hoạt động báo chí sôi nổi đã hình thành đờisống phê bình và thể loại phê bình văn học Điều đó tạo ra một môi trường văn họccần thiết để lí luận phê bình văn học tự đổi mới và tác động mạnh mẽ vào sự việcđổi mới các thể loại khác như tiểu thuyết, kịch thơ…đáng kể nhất là kiểu bút chiếnvới những bài viết thực sự có ý nghĩa lý luận, thực tiễn và hứng thú nghệ thuật.Ngoài ra hàng loạt các thể loại phê bình khác cũng được hình thành như: phê bìnhtác giả, thể danh nhân truyện ký, phê bình khoa học hay nghiên cứu chuyên đề, thểbình chú, bình văn, thể văn học sử Đi cùng các thể loại còn là các phương pháp phêbình hay kiểu tư duy phê bình văn học như: phê bình ấn tượng, phê bình khoa học,phê bình mác xít

Lúc này, có thể nói, tính chất hiện đại hóa đã xuyên mọi cấp độ từ tinh thần,quan điểm đến phương pháp, kỹ thuật, ngôn ngữ Hiện đại hóa lí luận phê bình vănhọc đã thực hiện được ở từng tác giả: đổi mới tư duy, quan điểm thẩm mĩ, vận dụngphương pháp và thao tác mới, tiếp thu tri thức Tây học trên “tinh thần giống nòi”,hiện đại hóa mà không xa truyền thống, vẫn gắn với tinh thần dân tộc Từ đó hìnhthành những khuynh hướng, phong cách độc đáo, hiện rõ những dấu ấn cá nhân vớinhững quan niệm nhân sinh, thẩm mĩ riêng Nhiều xu hướng, nhiều chính kiến,nhiều giọng nói, nhiều nguồn ảnh hưởng khác nhau đang cùng tồn tại Các nhà líluận phê bình đã có ý thức khẳng định “cái Tôi”, nhân danh cá nhân để đối thoạibình đẳng Tuy chất lượng còn chưa đồng đều, mức phát triển còn thiếu đồng bộ,nhưng các tác giả và các công trình tiêu biểu đã đánh dấu sự trưởng thành mọi mặt

từ ý thức tự chủ đến phương pháp và thể loại cùng như phong cách cá nhân của cáccây bút phê bình văn học lớn đương thời

Nhìn lại những thành tựu lí luận và phê bình văn học giai đoạn này chúng tathấy có một số những đặc điểm cơ bản như sau:

Thứ nhất, lí luận phê bình có mối quan hệ gắn bó mật thiết với thực tiễn vănhọc Nếu như đầu những năm 20, lí luận, phê bình còn đan xen, khó phân tách thìđến đầu những năm 30 nó đã dần có thiên hướng độc lập Lí luận văn học vừa tiếp

Trang 26

nối truyền thống trung đại lại vừa tiếp thu những tri thức mới của Tây Âu, kết hợpvới những kết quả phê bình mới nhằm hướng tới nhiệm vụ chính là cách tân vănhọc Theo tác giả Trần Mạnh Tiến, đến đầu những năm 30 của thế kỉ XX lí luận,phê bình đã “chuyển biến từ lối tư duy cụ thể, riêng rẽ sang lối tư duy có tầm kháiquát, hệ thống cho tiến kịp thời đại Từ chỗ phê bình văn học chia thành hai khuynhhướng Phê bình truyền thống và Phê bình hiện đại đến chỗ chuyển hóa lẫn nhau vàphê bình hiện đại càng nổi trội về ưu thế” [55,12] Tóm lại có thể khẳng định, trongvòng 15 năm diễn ra cuộc cách tân văn học, những quan điểm lí luận đã đóng vaitrò vô cùng quan trọng.

Thứ hai, riêng ở lĩnh vực phê bình, có thể thấy, trong một giai đoạn màphong trào sáng tác diễn ra một cách rầm rộ, xuất nhiều cùng lúc nhiều trào lưu,nhóm, nhiều tên tuổi và đầy đủ các thể loại, bằng con mắt tinh nhạy và tấm lòngnhiệt thành cách tân nền văn chương nước nhà, các cây bút phê bình đã kịp thờibiểu dương những tài năng mới, khẳng định giá trị của những tác phẩm văn họcchân chính, thẳng thắn phê phán những mặt trì trệ, bảo thủ của những người cầmbút Có thể nói phê bình đã có công khuấy động không khí sinh hoạt văn chươngđương thời, tác động từng ngày, từng giờ đến sáng tác Với sự xuất hiện của phongtrào Thơ Mới, hai nhà phê bình Hoài Thanh, Hoài Chân đã nhanh chóng đánh giá,tổng kết và chỉ ra những phong cách động đáo, riêng biệt của từng nhà thơ trong

cuốn Thi nhân Việt Nam Nhà nghiên cứu văn học Trương Tửu cũng đã sớm nhận ra

tài năng và kịp thời biểu dương những cây bút trẻ như Lan Khai, Thế Lữ, Lưu

Trọng Lư… Nhà nghiên cứu Vũ Ngọc Phan với công trình đồ sộ Nhà văn hiện đại

(1942) đã điểm mặt, kể tên hầu hết những tác giả có đóng góp thiết thực cho tràolưu cách tân văn học Việt Nam từ đầu thế kỉ XX Còn với cương vị vừa là nhà vănvừa là nhà báo, vừa sáng tác vừa nghiên cứu lí lận phê bình, là biên tập viên và chủbút những tờ báo lớn thời ấy giờ, cả ba cây bút Lan Khai, Thạch Lam, Vũ Bằng đãđem đến cho các bạn đồng nghiệp và độc giả những quan niệm nghệ thuật tiến bộ.Hầu hết những ý kiến phê bình của các ông đều đã đánh giá đúng thực trạng hoạtđộng văn học thời bấy giờ

Trang 27

Cuối cùng, có thể thấy những hoạt động lí luận phê bình thời kì này đã thamgia tích cực vào phong trào chống phong kiến và thực dân Như chúng ta biết, đây

là thời kì lịch sử có nhiều biến chuyển mạnh mẽ về tình hình kinh tế, chính trị, vănhóa Nhiều tổ chức yêu nước được thành lập nhằm tập hợp đông đảo quần chúngnhân dân trong đó có các văn nghệ sĩ vào mặt trận chống phong kiến, đế quốc,giành độc lập dân tộc, chấn hưng nền văn hóa Trong không khí sôi sục đó đã cókhông ít nhà văn thấm nhuần quan điểm của Sóng Hồng - “dùng cán bút làm đònxoay chế độ”, gắn hoạt động văn học với những nhiệm vụ chính trị cụ thể Hoạtđộng lí luận, phê bình không chỉ gắn bó với sự vận động và phát triển của văn học

mà còn bám sát các diễn biến tư tưởng Mục tiêu chung của tất cả những cây bút líluận, phê bình giai đoạn này là đổi mới văn học và xây dựng một nền văn học mangđậm bản sắc Việt Nam

Như vậy, trải qua thời kỳ “phôi thai” và “kiến tạo”, hòa nhập dần với vănhọc phương Tây, từng bước hiện đại hóa những năm đầu thế kỷ XX, đến nhữngnăm 30, có thể nói nền văn học đã được hiện đại hóa toàn diện từ quan niệm thẩm

mỹ đến đề tài, thể loại, từ kết cấu tác phẩm đến ngôn ngữ văn học Lúc này có thểnói nhiều hoạt động văn học nghệ thuật đã chuyển từ thời kỳ cận đại sang hiện đại.Nhìn lại bức tranh đời sống văn học lúc này có thể thấy: đi theo hướng cận hiện đạicủa thế giới, nền văn học không đoạn tuyệt với truyền thống mà phát triển cao hơn

để có tính dân tộc với ý nghĩa nhất thể

1.2 Hoạt động lí luận phê bình của Lan Khai, Thạch Lam, Vũ Bằng trong trào lưu cách tân văn học

1.2.1 Những tác phẩm nghiên cứu lí luận và phê bình văn học của Lan Khai, Thạch Lam, Vũ Bằng trong tương quan với lí luận phê bình đương thời

Cùng với hoạt động sáng tác văn học phong phú, ba cây bút Lan Khai, ThạchLam, Vũ Bằng còn khẳng định được chỗ đứng của một tác giả lí luận và phê bìnhvăn học bằng hàng loạt những bài viết, công trình có giá trị

Từ những năm 1939 -1940, Lan Khai đã cho ra đời nhiều bài viết, công trìnhthể hiện cái nhìn sắc sảo về nghệ thuật, đồng thời thể hiện một tinh thần cách tân

Trang 28

văn học mạnh mẽ, chẳng hạn như: Tài hoa… cái lụy ngàn đời (1934); Tính cách Việt Nam trong văn chương; Thiên chức của văn sĩ Việt Nam; Cái nguy mất gốc, Một lòng tin cần phải có; Bàn qua về nghệ thuật; Một quan niệm văn chương, Phác họa dình dung và tâm tính thi sĩ Tản Đà; Lê Văn Trương (1940); Vũ Trọng Phụng (1941); Hồ Xuân Hương (1941);….Và một số ý kiến bàn về mĩ học và nghệ thuật,

về người nghệ sĩ nói chung trong một số tác phẩm như: Cái đẹp với nghệ thuật (1940),… Ngoài ra trong cuốn tiểu thuyết Mực mài nước mắt, Lan Khai cũng gửi

gắm nhiều quan niệm, nhiều trăn trở, nghĩ suy về thân phận và nhân phẩm củangười viết văn

Nói tóm lại, tất cả những công trình, bài viết, tác phẩm kể trên đã thể hiệnmột quan niệm nghệ thuật khá đa dạng, phong phú của nhà văn Lan Khai ở giaiđoạn “bùng nổ” nhất trong lịch sử văn học dân tộc Nghiên cứu lại hệ thống quanniệm đó, ta thấy nhà văn đã có một cái nhìn toàn diện về nhiều vấn đề cốt yếu liênquan đến văn học nghệ thuật như: vấn đề tính dân tộc và con đường cách tân vănnghệ; vai trò của nhà văn với nền văn học tương lai; mối quan hệ giữa mỹ học vànghệ thuật, văn hóa với văn học; vấn đề văn học dân gian các dân tộc thiểu số…Trong đó vấn đề tính dân tộc trong văn học và vai trò của người nghệ sĩ trước nhândân và thời đại được ông đặc biệt quan tâm

Thạch Lam, ngay từ những năm 30 đã được biết đến như một cây bút truyệnngắn với phong cách trữ tình độc đáo ở giai đoạn 1930 - 1945 Tuy nhiên bên cạnh

sự nghiệp sáng tác ông còn là một nhà nghiên cứu lí luận và phê bình sắc sảo.Những ý kiến bàn về văn học của ông được thể hiện qua các bài viết đăng rải rác

trên hai tờ báo Ngày Nay và Chủ Nhật từ năm 1939 đến 1940 như: Những suy nghĩ nhỏ; Sự bền vững của một tác phẩm (Nhân cuốn Tố Tâm tục bản); Vài ý kiến về tiểu thuyết; Quan niệm trong tiểu thuyết; Những người đọc tiểu thuyết; Một vài ý nghĩ; Tiểu thuyết để làm gì?; Người nhà quê trong văn chương; Cuộc đời của nghệ sĩ; Một vài ý kiến; Cảm hứng và làm việc; Theo dòng; Sự sống trong tiểu thuyết;… Năm 1941 những bài bài trên được tập hợp và in thành cuốn tiểu luận Theo dòng

Trang 29

Ngoài ra những ý kiến lí luận và phê bình của Thạc Lam còn được thể hiện

trong lời đề tựa tập truyện Gió đầu mùa và nhiều bài điểm báo như: Chưa hết quái; Văn chương ghê gớm; Đúng lắm; Cuộc thi văn chương; Bình dân; Quả quít và quả mít; hay những bài viết tổng kết đánh giá về các tác phẩm dự thi giải thưởng văn học Tự lực văn đoàn những năm ba mươi như: Xem qua những tác phẩm dự thi năm 1938; Kết quả giải thưởng văn chương của Tự lực văn đoàn 1939; Những tác phẩm dự thi Giải văn chương Tự lực văn đoàn 1939 Tiểu thuyết, kịch và phóng sự

và một bài viết phê bình một tác phẩm văn học cụ thể, đó là Vang bóng một thời của Nguyễn Tuân Trong tập tiểu luận Theo dòng, Thạch Lam không chỉ phát biểu

những quan niệm về văn chương nói chung mà ông còn trình bày cả một hệ thốngluận điểm mới mẻ và nhất quán thể hiện quan niệm độc đáo về tiểu thuyết - thể loạitiêu biểu nhất của văn xuôi nghệ thuật hiện đại Trong các bài điểm báo cũng nhưtrong các bài viết nhận xét về các tác phẩm dự thi giải thưởng văn chương Tự lựcvăn đoàn, Thạch Lam luôn đánh giá cao những cây bút mạnh dạn đổi mới cả vềhình thức lẫn nội dung của tác phẩm, đồng thời phê phán thẳng thắng những tác giả

có tư tưởng “cầu an”, “lười nhác”, “không có ý thức sáng tạo”

Bên cạnh sự nghiệp sáng tác, Vũ Bằng cũng là một trong số những gươngmặt có hoạt động văn học sôi nỗi và đóng góp tích cực cho cách tân văn học những

năm ba mươi của thế kỷ XX Trong Lời giới thiệu cuốn Tuyển tập Vũ Bằng, nhà

văn Triệu Xuân đã khẳng định: “Những năm 1932 - 1945, Vũ Bằng đã nâng đỡ,hướng nghiệp, dìu dắt rất nhiều nhà văn trẻ, sau này trở thành rất nhiều nhà văn têntuổi lẫy lừng” [68,20] Sự “nâng đỡ” của Vũ Bằng đối với các nhà văn trẻ mà TriệuXuân muốn nói đến ở đây có thể hiểu không chỉ là những lời động viên tinh thần,những lời góp ý chân thành với những cây bút mới vào nghề mà còn là những chỉdẫn cụ thể về đường hướng sáng tác Có thể khẳng định bên cạnh hoạt động sángtác, Vũ Bằng còn tham gia hoạt động lí luận và phê bình một cách đầy ý thức tựgiác Những đóng góp của ông ở lĩnh vực lí luận phê bình được thể hiện tập trung ở

công trình Khảo về tiểu thuyết xuất bản tại Sài Gòn năm 1952 Trên thực tế nội

dung của công trình này đã được Vũ Bằng đăng từng kì trên báo Trung Bắc chủ

nhật từ năm 1942 - 1943 Nhận xét về động cơ của tác giả khi viết Khảo về tiểu

Trang 30

thuyết, nhà văn Triệu Xuân cũng đã có những ý kiến rất chí tình: “Vũ Bằng “vào

nghề” với sự “tìm khôn” một mình Qua bao nhiêu ngày tháng lăn lóc với bút mực,

Vũ Bằng muốn đem chút vốn liếng riêng tư để làm của chung thiên hạ Nghề văn ởnước Việt Nam không ai dạy ai cả Chỉ có nghề dạy nghề Vũ Bằng muốn giúp íchcho những người đi sau tránh được một phần cực nhọc khi bước chân vào “nghiệp”

Vũ Bằng đem cái “đọc” và cái “hiểu” của mình viết thành sách” [68,13] Trong 170

trang sách, Khảo về tiểu thuyết của Vũ Bằng đã đề cập đến hầu hết những vấn đề

trọng yếu của văn chương

Nhìn chung ở mảng lí luận, cả ba nhà văn tuy có khác nhau về phạm vi bànluận nhưng đều đã quan tâm và đề cập đến những vấn đề thiết yếu của văn học nhưbản chất của văn học, từ những vấn đề có tính chất bao quát như đặc trưng của vănhọc, chức năng của văn học, nội dung và hình thức tác phẩm…đến những vấn đề

cụ thể như: ngôn ngữ, nhân vật, kết cấu của tác phẩm … Ngoài ra những phạm trùnhư nhà văn, bạn đọc… cũng được quan tâm, bình xét

Ở mảng phê bình, cả ba cây bút Lan Khai, Thạch Lam, Vũ Bằng đều nhiệtliệt biểu dương, đánh giá, phê bình những thành tựu mới, kịch liệt phê phán nhữngmặt trái với nghệ thuật văn chương Trong những bài phê bình về các tác tác giảđương thời như Tản Đà, Vũ Trọng Phụng, Lê Văn Trương… Lan Khai, Thạch Lam

đã sớm nhận ra đâu là giá trị văn học chân chính, đâu là tiếng nói tha thiết của nhàvăn với cõi đời, đâu là thứ văn chương hình thức, một thời Cả ba cây bút nói trênđều đã kích mạnh mẽ sự học đòi, nhai lại, sự giả trá trong văn chương Các ông coivấn đề cách tân văn học là vấn đề sống còn, bức thiết, sôi sục nhất

1.2.2 Hoạt động lí luận phê bình song hành với sáng tác của Lan Khai, Thạch Lam, Vũ Bằng

Có thể khẳng định ở bất cứ nền văn học nào, giữa sáng tác và lý luận phêbình cũng có mỗi quan hệ gắn bó với nhau Sự vận động của đời sống văn học baogiờ cũng là sự kết hợp hài hòa giữa lý luận phê bình và sáng tác văn học Đây làmột trong những nhân tố tạo động lực phát triển của văn học Lý luận phê bình vănhọc Việt Nam giai đoạn 1930 - 1945, không thể tách rời sáng tác văn học Vì thế,việc tìm hiểu diện mạo lý luận phê bình văn học trong quan hệ với sáng tác văn học

Trang 31

là một việc làm có ý nghĩa phương pháp luận giúp chúng ta nhận rõ hơn diện mạocủa đời sống văn học.

Như đã nói ở trên, thời kì 1930 - 1945 là thời kì hoạt động văn học diễn ra rấtsôi nỗi Biểu hiện rõ nhất là chính là sự xuất hiện một đội ngũ sáng tác đông đảo,chuyên nghiệp, khao khát cách tân đổi mới Một cây bút có thể cùng lúc gánh vácnhiều vai trò Họ có thể vừa là nhà văn, vừa là nhà giáo, vừa là nhà báo, vừa là nhànghiên cứu, lí luận và phê bình lại vừa là nhà dịch thuật Đặc điểm đó không chỉxuất từ sở trường, sở đoản, từ tài năng đa dạng của các cá nhân nghệ sĩ mà còn bởi

sự thúc đẩy của công cuộc cách tân văn học Muốn đổi mới, muốn “lột xác”, muốnbằng người thì chẳng còn cách nào khác là vừa phải “học” vừa phải “hành”, lại vừaphải tự mổ xẻ, tự phản tỉnh “Học” ở đây, tạm hiểu là học về lí thuyết, hay cụ thểhơn là học về những kỹ thuật viết lách của phương Tây còn “hành” chính là thựchành sáng tác Hai hoạt động này tuy diễn ra đồng hành nhưng không phải lúc nàocũng bắt nhịp với nhau Có những lúc lí thuyết dẫn đường sáng tác, nhưng cũng cóthời điểm lí thuyết lại chính là sản phẩm của quá trình đúc kết, quá trình nhìn lạisáng tác

Ở lĩnh vực sáng tác, vì có cơ hội bám sát thực tế nên tác phẩm của các ông

có chỗ đứng trong bạn đọc Lan Khai được đánh giá là “lão tướng của làng tiểuthuyết” đương thời, cây bút “truyện đường rừng” xuất sắc; Thạch Lam được mệnhdanh là “người mở đường” cho một phong cách truyện ngắn độc đáo - “truyệnkhông có cốt truyện”, chỉ là những mảng tâm trạng, những dòng tư tưởng, nhưng cókhả năng tạo nên sức ám ảnh trong lòng người đọc; Vũ Bằng cũng được xếp vàomột trong số những cây bút truyện ngắn xuất sắc, có sức ảnh hưởng lớn thời kì 1930

- 1945, ngoài ra ông còn nỗi tiếng với những trang bút kí tài hoa Nói như vậykhông có nghĩa đây là ba cây bút toàn năng và xuất sắc ở mọi bình diện Thực tếsáng tác của họ đã bộc lộ đồng thời cả cái mạnh và cái yếu của từng cây bút Họkhông chỉ nhìn thấy cái hay cái dở của đồng nghiệp để khuyến khích hay phê phán

mà còn tự âm thầm soi xét chính mình để nhận ra những hạn chế cần khắc phục Do

đó họ cần tự phê bình và phê bình để tiến lên trong sáng tạo

Trang 32

Lí luận phê bình là công cụ để nhận thức sáng tạo Nói cách khác phê bình làhình thức tiếp nhận thể hiện trình độ cao của văn học nghệ thuật Biêlinxki gọi phêbình là sự tự ý thức của văn học Thiên chức của người nghệ sĩ không chỉ đơn thuần

là phản ánh hiện thực khách quan, tái hiện lên trang giấy những cái mình nhìn thấy,nghe thấy, những cái mình đã nghiệm Quá trình sáng tác phải đồng thời là một quátrình nhận thức Nhà văn cần phải viết cái gì đáng viết, nói cái gì đáng nói, phê phán

và ủng hộ ai Lí luận phê bình chính là công cụ tự nhận thức của mỗi người cầmbút

Lí luận phê bình là quan niệm nghệ thuật của nhà văn trong việc đánh giásáng tác của mình và các nhà văn khác cũng như làm chủ được chiều hướng vậnđộng của trào lưu văn học Mỗi nhà văn khi cầm bút đếu xuất phát từ một quanniệm nghệ thuật nhất định Nói cụ thể hơn đó chính là một quan niệm nghệ thuật vềcon người Quan niệm đó có thể được phát biểu một cách trực tiếp, theo một hệthống nhất định, độc lập với sáng tác mà cũng có thể đan xen trong sáng tác, chứađựng trong các hình tượng nghệ thuật Không có quan niệm nghệ thuật, hoạt độngnghệ thuật của nhà văn chỉ là hoạt động tự phát, mơ hồ, nhà văn không có khả năngnắm bắt đượng chiều hướng vận động của trào lưu văn học và như thế là đồng nghĩavới việc không xác định được vị trí, vai trò của mình đối với nghệ thuật nói riêng vàthời đại nói chung

Trang 33

Tiểu kết chương 1

Sự nghiệp sáng tác và nghiên cứu của Lan Khai, Thạch Lam, Vũ Bằng, chothấy mối quan hệ chặt chẽ giữa hai lĩnh vực sáng tác và lí luận phê bình Sáng tácchính là những trải nghiệm để các nhà văn hình thành nên những quan niệm nghệthuật tiến bộ, sâu sắc Ngược lại, có thể thấy những quan niệm nghệ thuật chính làquá trình tự ý thức của nhà văn trong sáng tác, có tác dụng dẫn đường cho sáng tác.Hoạt động lí luận phê bình không chỉ khẳng định tài năng, sở trường của ba nhà vănnói trên mà còn khẳng định tâm huyết của họ trong trào lưu đổi mới văn học giaiđoạn 1930 - 1945 Sống và viết trong một giai đoạn lịch sử có nhiều biến động, cả

ba cây bút đều ý thức đem tất cả sở trường, kiến văn của mình làm phong phú đờisống tinh thần văn hóa nước nhà, vừa tiếp thu phương Tây vừa giữ gìn và phát huy

tinh hoa văn hóa dân tộc Những quan niệm về văn học nghệ thuật của họ còn có giá

trị đến ngày hôm nay Lí luận và phê bình văn học hiện đại đã và đang kế thừa vàphát huy những hạt nhân tích cực trong di sản lí luận phê bình của Lan Khai, Thạchlam, Vũ Bằng nói riêng và các nhà lí luận phê bình văn học trước 1945 nói chung

Trang 34

Chương II QUAN NIỆM NGHỆ THUẬT CỦA LAN KHAI, THẠCH LAM,

VŨ BẰNG TRONG TRÀO LƯU CÁCH TÂN VĂN HỌC

1930 - 1945

2.1 Những quan niệm về nhà văn và văn học của Lan Khai, Thạch Lam,

Vũ Bằng

2.1.1 Quan niệm về nhà văn

Nhà văn là chủ thể sáng tạo Từ xưa đến nay dân tộc ta có truyền thống coitrọng nhà văn Thời kì đầu thế kỉ XX, vấn đề nhà văn đã được các nhà nghiên cứu líluận, phê bình chú ý Những ý kiến của Phan Chu Trinh, Phan Bội Châu, HuỳnhThúc Kháng, Ngô Đức Kế, Phạm Quỳnh, Thiếu Sơn… đều đề cao vai trò nhà văntrong văn học và xã hội Giai đoạn 1930 – 1945, vấn đề nhà văn tiếp tục được quantâm và được khám phá trên những bình diện mới phù hợp với yêu cầu của hoàncảnh lịch sử xã hội lúc bấy giờ Khi đưa ra quan niệm về nhà văn, cả Lan Khai,Thạch Lam và Vũ Bằng đều có điểm chung đó là: khẳng định vai trò to lớn của cácnhà văn trong xã hội; đề cao tài năng, đạo đức, văn hóa của nhà văn; coi nhà văn làtấm gương sáng cho xã hội; yêu cầu nhà văn phải có tinh thần yêu nước thương nòi,

có trách nhiệm trước nhân dân và lịch sử Bên cạnh đó, Lan Khai, Thạch Lam, VũBằng còn phê bình tính cẩu thả, thiếu trung thực, thói hám danh và cả những khókhăn, vất vả của người viết văn

Về nhà văn, Lan Khai, Vũ Bằng, Thạch Lam đều đánh giá cao vai trò, vị trí

của nhà văn trong xã hội Trong bài viết Thiên chức của văn sĩ Việt Nam, Lan Khai

cho rằng: “Văn sĩ Việt Nam chính là kẻ thông ngôn cho sự cảm và nghĩ của Người,trong cái khuôn khổ Việt Nam” [59,95] Đặc biệt đề cao vai trò của nhà văn nêncũng trong bài viết này, Lan Khai khẳng định: “Trừ Nguyễn Du, tiêu biểu cho cáiphần sâu sắc; Hồ Xuân Hương tiêu biểu cho cái phần hóm hỉnh của giống nòi, dânViệt Nam, cho đến ngày nay, hầu như chưa có văn sĩ” [59,95] Ý kiến trên có phần

Trang 35

cực đoan Tuy nhiên nó cũng cho thấy đối với Lan Khai để trở thành một nhà vănđúng nghĩa cần hội tụ rất nhiều phẩm chất Đề cao vai trò của nhà văn trong đờisống xã hội, Lan Khai đồng thời cũng nhấn mạnh đến nhu cầu được tự do sáng táccủa nhà văn Ông cho rằng: “Sự độc lập của ngòi bút là một cái gì cần được tôntrọng, nên sẽ quyết định không bao giờ lấy ngòi bút làm cái việc mưu sinh”[59,106] Qua bài viết Câu chuyện bên gốc liễu hay “tâm hồn nghệ sĩ”, Thạch Lambộc lộ quan niệm: “Các nghệ sĩ là những người không có một cái khoa học nhân tạonào có thể gây thành được Họ vẫn là những sản xuất của bao nhiêu thế hệ, theo mộtcách thức chung đúc huyền bí và không có luật lệ; họ là những cái sinh sản bất ngờ,những cái đột nhiên, kì dị và ghê gớm, của vũ trụ Nhân vật ra ngoài khuôn khổthường, các nghệ sĩ chân chính bao giờ cũng rất hiếm Tìm được đích đáng, và tìmđược nhiều đó là danh dự của cả một thời, cả một dân tộc” [29,319] Vũ Bằng khi

nói về Cái nhục của nhà tiểu thuyết đã khẳng định các văn nhân thi sĩ “là những

người tử vì đạo, họ là những bậc thánh đem mình hứng chịu tất cả những sự đaukhổ để làm cho người khác sướng, họ thức để cho người khác ngủ Ở đời này không

có sự xả thân, không có lòng hy sinh, thì nước mắt chúng sinh bao giờ cho ráođược? Thế nhân còn đáng sống làm gì?” [37,343] Điều đặc biệt là Vũ Bằng khôngchỉ đề cao và ghi nhận công lao của những nhà văn lớn, có đóng góp cụ thể cho nềnvăn học Với tư duy của một người luôn khát khao đổi mới, thúc đẩy sự phát triểnnền văn học một cách toàn diện, Vũ Bằng còn đề cao đóng góp của những nhà văn

có ý thức lao động nghệ thuật nghiêm túc, có một cái tâm với nghề, tâm huyết vớiđời, với người dù họ chưa thành công

Cả Lan Khai, Thạch Lam và Vũ Bằng đều nhấn mạnh đến tài năng, xem đó

là tiền đề để sáng tạo văn chương Trong Thiên chức của văn sĩ Việt Nam, Lan Khai

viết: “Văn sĩ là cái hạng, do tài năng, do từng trải và do học thức, đã được nhận lànhững tay thông ngôn cho sự cảm, nghĩ của Người, lẫn sau cái tính riêng của từngdân tộc” [59,95] Ngoài tài năng, học vấn và kinh nghiệm là những yếu tố không thể

thiếu đối với các nhà văn Qua bức thư Gửi một bạn trẻ muốn theo đuổi nghề viết văn, Lan Khai nhấn mạnh: “Học vấn, lẽ cố nhiên, rất cần cho người ta, nhất là

những ai theo đuổi nghệ thuật văn chương Mà đã nói học vấn thì biết thế nào mà

Trang 36

cùng! Không những ta phải học ở trường, ta còn phải học ở đời nữa Trường họcđào tạo những học trò có bằng cấp” [59,104] Theo ông, có tài năng, có học vấn,kinh nghiệm mà không có “khiếu văn chương”, không có cái “duyên nợ với vănchương”, cái “nghiệp chướng văn chương” thì không thể trở thành nhà văn Vì vậyLan Khai nói thêm: “Ngoài học vấn, kinh nghiệm, ta, nếu muốn thành văn sĩ, cònphải có tài năng phú bẩm, nói nôm na là “khiếu văn chương” [59,104] Như vậy cóthể thấy, theo Lan Khai, cần phải hội tụ nhiều phẩm chất mới có thể trở thành một

nhà văn Trong bài viết Cảm hứng và làm việc, khi nói đến sự khổ công trong sáng

tạo nghệ thuật, Thạch Lam đã lấy nhiều tấm gương các nhà văn phương Tây nhưFlaubert, Maupassant, Banzac, Heri Duvernois, Tolstoi Ông khẳng định những nhàvăn nói trên là những thiên tài nhưng để có được những kiệt tác họ đều phải chấpnhận làm việc như “một người tù bị khổ sai” [37,308] Đề cao vai trò của sự khổcông trong sáng tạo nhưng theo Thạch Lam tài năng thiên bẩm mới là yếu tố quyết

định làm nên một nhà văn Trong Câu chuyện bên gốc liễu hay “tâm hồn nghệ sĩ”

ông viết: “Người ta sinh ra là nghệ sĩ hay không, chữ không có thể học tập mà thành

được” [37,318] Cùng chung quan điểm với Lan Khai và Thạch Lam, trong Khảo về tiểu thuyết, ở chương mở đầu - Mới! Mới luôn luôn! Vũ Bằng cũng cho rằng việc

học hỏi và rèn giũa tài năng rất cần thiết đối với nhà văn Ông viết: “Mà biết đâu ởnước ta lại chẳng có những văn sĩ, vì câu nói đó, đi tưởng rằng mình là một Balzac,một Bồ Tùng Linh, một Stefan Zweing thật mà không thèm học hỏi hay rèn giũa

văn chương nữa, để phí uổng cả tài đi” [29,186] Đến chương XIV - Cái vinh của nhà tiểu thuyết, để trả lời cho câu hỏi: “Thế thì tại sao có người viết được? Tạo sao

thiên tính của người ta là muốn thoát ly mà lại có người viết ra tiểu thuyết mà thoát

ly được, lại có người đành phải chịu đọc tiểu thuyết của người của người khác viết

để tìm đường thoát lý?” [29,326], Vũ Bằng đã viết: “Cái duyên cớ đó cũng chả lấy

gì làm khó giải: ấy là bởi cái biệt tài, cái thiên tài, cái khả năng trứ tác của ngườita.” [29,326]

Khi nói về tài năng của các nhà văn, Lan Khai, Thạch Lam, Vũ Bằng đều

nhấn mạnh đến cái riêng, cái độc đáo trong phong cách Trong Một quan niệm về

Trang 37

văn chương, Lan Khai viết: “Văn chính là người Cái đặc sắc của một văn sĩ chính

là cái cách riêng để diễn tả tư tưởng và tình cảm của mình vậy Còn như tư tưởng,tình cảm đều là của chung nhân loại và hầu hết đã được nói ra Chúng ta đến muộnnên, dưới bóng mặt trời, chẳng còn chi là mới hết Ta chỉ còn hi vọng được ở cáchphô diễn đặc biệt, tức là văn” [59,124] Thạch Lam thì nói: “Chúng ta không cần bắtchước ai, (mà công việc bắt chước không phải là công việc của sáng tác)” [37,286].Còn Vũ Bằng thì cho rằng: “Sự độc sáng của một nhà văn không phải chủ ở ngoạiquan ở hình thức, nhất là đối với những người viết văn xuôi; đó là một đức tính củatâm hồn Sự quá độ trong cách dùng chữ, sự lựa chọn những danh từ cầu kỳ đểhuyễn hoặc người ta không để làm gì cả” [29,136]

Không chỉ khẳng định địa vị của nhà văn đối với xã hội, đề cao tài năng,học vấn, năng khiếu bẩm sinh và kinh nghiệm sáng tác của nhà văn, Lan Khai,Thạch Lam, Vũ Bằng còn nói nhiều đến trách nhiệm của nhà văn đối với đất nước,

dân tộc Năm 1934 trên Đông Phương báo, Lan Khai viết bài Tài hoa…cái lụy ngàn đời - một bài viết gây được sự chú ý của nhiều bạn đọc Ở bài viết này ông đã

nói rất rõ về trách nhiệm, bổn phận của các nhà văn: “Làm kẻ tiên phong cho nhânloại trên đường mai hậu; làm bọn khai sơn phá thạch đi tìm những nền luân lí,những sự tín ngưỡng, những tôn giáo mà người ta chưa ai từng thấy” [59,35] TheoLan Khai, nhà văn trước hết phải hiểu biết sâu sắc về truyền thống vĩ đại trong lịch

sử và truyền thống văn hóa cao đẹp của tổ tiên Khi đã hiểu được lẽ sống của mình,nhà văn phải có trách nhiệm là “truyền giao dĩ vãng cho tương lai” [59,97] Trướcbối cảnh các sách báo phương Tây tràn ngập thị trường, Lan Khai chủ trương:

“Chúng ta còn phải nhận xét kĩ lưỡng cái phần văn minh phương Tây đã để lại chotâm hồn ta và cái căn bản Việt Nam phản động hay thừa nhận cái phần ấy như thếnào để có thể khẳng định thái độ của ta trước thế giới Đây là một vấn đề làm đầumối cho sự sống còn của ta, làm sự mất còn cho dân tộc ta vậy” [59,97] Qua ý kiếntrên cho thấy Lan Khai không có tư tưởng dân tộc hẹp hòi Ông thừa nhận sự ảnhhưởng của văn hóa nước ngoài đến tâm hồn dân tộc nhưng ông nhấn mạnh là cầnphải biết kế thừa văn minh nhân loại trên cơ sở chọn lọc những yếu tố phù hợp với

Trang 38

truyền thống và lợi ích dân tộc Nhà văn phải là người đi trước, luôn nhìn cuộc sống

trong sự vận động, biến đổi Cùng nói về trách nhiệm của nhà văn, trong Một vài ý nghĩ… Thạch Lam viết: “Ở mặt tâm lí thì phải quan sát được tâm lí sau này của

người, ở mặt xã hội thì phải phác họa được cái xã hội khác đến thay” [29,296] Cóthể thấy quan niệm của Thạch Lam khá gần gũi với Lan Khai Yêu cầu nhà văn phảiquan sát được cái “tâm lí sau này” và phác họa được “cái xã hội khác đến thay”, tức

là đòi hỏi nhà văn phải có khả năng dự đoán, khả năng đi trước trong tư tưởng

Trong chương V của Khảo về tiểu thuyết với tiêu đề Tiểu thuyết mới, Vũ Bằng phê

phán những nhà văn mang tư tưởng giai cấp khi bày tỏ lòng thương yêu con người

và ông khẳng định: “Một nhà văn chân chính không thương mến một người hayghét bỏ người nào, nhưng yêu tất cả mọi người và kiếm cách an ủi cả một người đaukhổ” [37,229] Quan điểm trên cho thấy Vũ Bằng rất đề cao tình thương yêu vàtrách nhiệm đối với con người của nhà văn Cũng từ quan niệm đó, đến chương XVông viết: “Tất cả văn nhân, thi sĩ, tiểu thuyết gia ở dưới cõi đời này, về phương diệntinh thần đều là những ông Scarron không phải ngủ luôn luôn, nhưng ta chớ nêntưởng rằng chỉ vì thế mà không còn có Scarron nữa Đức Phật Thế Tôn có nói: “Địangục vi không, thệ bất thành Phật” Nếu địa ngục mà chưa hết người thì nguyệnchưa thành Phật Văn nhân, thi sĩ và tiểu thuyết gia cũng vậy, còn ở cõi đời này, vẫncòn cứ phải sáng tạo và còn cứ phải như chim đường nga rút ruột nuôi con – mộtđứa con lắm khi không đáng hưởng sự hi sinh đó!” [37, 342] Có thể nói việc khẳngđịnh bổn phận của nhà văn “còn ở cõi đời này, còn phải sáng tạo”, phải “rút ruột”

để cống hiến cho độc giả, đã thể hiện một ý thức trách nhiệm cao của người cầm bút

ở Vũ Bằng

Một nhà văn chân chính không chỉ cần đến tài năng, học vấn, kinh nghiệm

mà cần phải có và không thể thiếu nhân cách, đạo đức Đó là một nhân cách trongsáng và cao thượng, không vụ lợi, háo danh, không bị cám dỗ bởi những giá trị tầmthường Trong nhiều bài lí luận phê bình của mình, Lan Khai đã đề cập đến vấn đềcốt cách, phẩn chất cần có của một nhà văn Theo ông, nhà văn cần phải có nhâncách trong sáng, biết trang bị cho mình một “văn hóa nhà văn” Với tư cách là một

Trang 39

cây bút phê bình, Lan Khai không chủ trương tách rời văn chương và cuộc đời củacác nghệ sĩ Theo ông giữa văn và đời nghệ sĩ luôn có mỗi quan hệ khăng khít,những dấu ấn cuộc đời riêng ít nhiều sẽ lưu lại trên những trang viết Khi nghiêncứu về Vũ Trọng Phụng ông viết: “Lẽ thứ nhất bởi con người không thể là một cái

gì khác hơn nó được Con người là sản vật của gia đình, của hoàn cảnh, của giáodục, của tập quán, của tín ngưỡng, của bệnh tật, và của các tín điều vật chất trong đó

nó sống” [59,173] Với Lan Khai, không thể có một con người đời thực xa lạ vớicon người nghệ sĩ, muốn trở thành một nhà văn chân chính trước hết phải là mộtcon người chân chính, quan niệm về cuộc đời sai lầm thì tất yếu sẽ dẫn đến nhữngquan niệm văn chương phiến diện, sai lầm Về phẩm chất người nghệ sĩ, yếu tố thứnhất mà Thạch Lam nhắc đến đó là tính chân thật Ông phát biểu: “Không nên cảirằng mình thành thực, nếu mình không thành thực Một đôi khi người khác có thểnhầm được, nhưng chính ta, ta không bao giờ nhầm cả Và không có gì đáng bỉ cho

một nhà văn hơn là mình lại tự dối mình” [29,280] Trong bài viết: Một vài ý kiến

về tiểu thuyết, Thạch Lam tiếp tục nhấn mạnh: “Do đấy, sự thành thực mới là cái

then chốt của nhà nghệ sĩ Muốn viết một tác phẩm bất hủ một tác phẩm mà giá trịkhông theo thời, ta phải để hết nỗi rung động trong tác phẩm đó” [29,286] Cùngquan niệm với Thạch Lam, Vũ Bằng nói với các nhà văn: “Bổn phận chúng ta,trong lúc đang học tập này, là phải dám nghĩ thực và nói thực, nói thực mà khôngquá, vì sự thực quá độ bao giờ cũng là một bất công” [37,187] Trả lời cho câu hỏi

Nhà tiểu thuyết có nên “làm văn” không?, Vũ Bằng viết: “Muốn cảm được người

đọc, nhà tiểu thuyết không thể không làm văn được, nhưng văn ở đây không phải làthứ viển vông, thứ văn tự người chết, thứ văn chơi đùa; trái lại phải thành thực;…”[37,298] Song song với việc đề cao những phẩm chất đáng quý của các nghệ sĩ, cả

ba cây bút đều đề cập đến những mặt trái, những biểu hiện lệch lạc trong đời sống

và trong công việc của các nhà văn Lan Khai kịch liệt phê phán thói “lười biếng vànguội lạnh của nhà văn”, đồng thời chỉ ra những biểu hiện lập dị của một số ngườicầm bút mà ông coi đó đó là những người cầm bút vô văn hóa: “phải say rượu chếtmới thôi, rồi đập phá, rồi nói đểu, rồi nôn, rồi cười như một lũ rồ trên đống mảnh

Trang 40

vụn của bát đĩa, cốc tách lẫn các món ăn dạ dày trả lại” [59,122] Theo Lan Khai:

“Sự ghét ghen, sự bới xấu, và cả sự vu cáo nữa, tất cả đã trở thành “những thứ tiềnthông bảo” trong cái thế giới nhà văn chúng ta” [59,123] Với Thạch Lam thì thóicẩu thả, khuôn sáo, chạy theo thời cuộc chính là điều cần phải lên án ở các nhà văn.Ông từng viết: “Thật, người ta sinh ra là nghệ sĩ hay không là do thiên bẩm; nhưngcái tài năng tự nhiên bao giờ cũng cần phải trau dồi, làm cho nẩy nở đến chỗ hoàn

mỹ Bao nhiều người đã hủy bỏ cái tài có bằng sự dễ dàng, câu thả!” [29,46] Trong

bài Sự bền vững của một tác phẩm, Thạch Lam khẳng định: “Những nhà văn ồ ạt

chạy theo thời chỉ tạo ra được những tác phẩm có số phận mỏng manh Bởi họ chỉnghe theo tiếng gọi của sự háo hức, lòng hám danh, sự chiều lòng công chúng”[29,282] Tóm lại, việc phê phán những thói xấu của nhà văn cho thấy ba tác giảđều có ý thức tràu dồi nhân cách và ý thức trách nhiệm cao với ngòi bút của mình

Trong các ý kiến bàn về vấn đề nhà văn của Lan Khai, Thạch Lam, VũBằng còn có một điểm đáng lưu ý nữa, đó chính là cả ba cây bút đều quan tâm đếnnhững nỗi khổ về mặt tinh thần cũng như những nỗi lo cơm áo của các nhà văn

trong bối cảnh xã hội giao thời lúc bấy giờ Trong bài viết: Gửi một bạn trẻ theo đuổi nghề viết văn, Lan Khai đã chia sẻ một cách chân tình và thành thật: “Hưởng

thụ cuộc đời, người ta mười mình không có một Thêm bao nhiêu nông nỗi đaulòng Còn cái mục đích văn chương, mình càng cố đuổi nó càng xa, xa tít” [59,106].những trải nghiệm sâu sắc về cuộc đời viết văn của mình với một độc giả đam mêvăn chương và đang có ý định theo đuổi nghề viết văn Cùng những suy nghĩ với

Lan Khai, trước sự ra đi của thi sĩ Tản Đà, nhà văn Thạch Lam đã có bài viết Cuộc đời nghệ sĩ bộc lộ nhiều suy nghĩ sâu sắc và cảm động Ông viết: “Cái bệnh nghèo

như một căn bệnh ung thư cắn nhấm dần tài năng người nghệ sĩ” [29,301] Vậy, dođâu mà người nghệ sĩ nước ta thời bấy giờ lại nghèo? Thạch Lam lí giải nguyênnhân: “Một cuốn sách bình thường chỉ bán trong vòng bốn, năm nghìn bản Số tiềnlãi của nhà văn được hưởng thật là nhỏ bé, không đáng kể Phân nhiều tiền lợi đềuvào tay các nhà in hay nhà xuất bản khôn khéo” [29,302] Làm thế nào để cuộcsống của các nhà văn bớt gieo neo, Thạch Lam cho rằng: “Mua sách, mua sách, đó

Ngày đăng: 06/03/2023, 23:46

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w